Hạng F: từ 54 kg tới 57 kg
Hạng G: từ 57 kg tới 60 kg
Hạng H: từ 60 kg tới 63 kg
Hạng I: từ 63 kg tới 66 kg
Hạng K: từ 66 kg tới 69 kg
Hạng L: từ 69 kg tới 72 kg
Hạng O: từ 72 kg tới 75 kg
4.1.2 Các hạng cân nữ
Hạng A: từ 39 kg tới 42 kg
Hạng B: từ 42 kg tới 45 kg
Hạng C: từ 45 kg tới 48 kg
Hạng D: từ 48 kg tới 51 kg
Hạng E: từ 51 kg tới 54 kg
Hạng F: từ 54 kg tới 57 kg
Hạng G: từ 57 kg tới 60 kg
Hạng H: từ 60 kg tới 63 kg
4.2. Nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân (Tunggal), nội dung thi đấu biểu diễn bài đối
luyện tự chọn (Ganda), nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định tập thể (Regu)
Hạng đấu trong các nội dung này được phân chia theo giới tính như ở giải vô địch nhưng theo độ
tuổi được quy định cho giải trẻ.
Điều 5. Trang thiết bị của sàn đấu
5.1. Võ đài
Võ đài phải được đặt trên sàn phẳng, phủ trên mặt sàn đài là một lớp thảm thi đấu có chiều dày tối
đa 5 cm, bề mặt nhẵn và không trơn trượt. Mặt thảm được phủ một tấm bạt hình vuông kích thước
10m x 10m có bề mặt nhẵn, không trơn trượt, màu sẫm và không có đường kẻ màu trắng. Ban tổ
chức chịu trách nhiệm cung cấp thảm thi đấu cho giải.
5.1.1. Võ đài cho nội dung thi đấu đối kháng
5.1.1.1. Võ đài bao gồm:
Thảm đấu hình vuông , kích thước 10m x 10m. Phạm vi thi đấu là một hình tròn nằm trong thảm
đấu, đường kính 8m.
5.1.1.2. Đường kẻ phân định phạm vi thi đấu có mầu trắng chiều rộng 5cm.
5.1.1.3. Tại giữa tâm của thảm đấu là một vòng tròn đường kính 3m, đường kẻ màu trắng rộng 5m
là khoảng cách giữa hai Pesilat khi bắt đầu trận đấu.
5.1.1.4. Các góc của Pesilat là phần diện tích nằm trong hình vuông thảm đấu và nằm ngoài phạm
vi thi đấu, đối diện theo đường chéo hình vuông. Các góc đó bao gồm:
- Góc xanh nước biển sẫm: Là góc nằm ở phía phải bàn của Chủ tịch cuộc đấu.
- Góc đỏ: Là góc nằm ở phía đối diện theo đường chéo của góc xanh.
- Góc trắng: Là hai góc còn lại, được gọi là góc trung lập (Hình 1 - Sơ đồ bố trí võ đài thi đấu -
Pencak Silat)
Hình 1 - Sơ đồ bố trí võ đài thi đấu - Pencak Silat
5.1.2. Võ đài cho nội dung thi đấu biểu diễn bài quy định cá nhân, bài đối luyện tự chọn, bài quy
định tập thể:
Là toàn bộ phần võ đài hình vuông 10m x 10m như trong nội dung thi đấu đối kháng đã đề cập ở
trên.
5.2. Trang bị sàn đấu (Hình 2a, b)
Trang bị sàn đấu do Ban tổ chức cung cấp bao gồm:
5.2.1. Bàn ghế cho Ban tổ chức.
5.2.2. Bàn ghế cho Ban trọng tài và các thành viên khác, cho Hội đồng kỹ thuật, bác sĩ, tổ y tế.
5.2.3. Đồng hồ, cồng hoặc trang bị khác có chức năng tương tự, còi và chuông báo.
5.2.4. Đèn hiệu, báo hiệp hoặc các thiết bị tương tự.
5.2.5. Đèn mầu đỏ, xanh, vàng dùng để thông báo khi cần thiết.
5.2.6. Mười lá cờ nhỏ kích thước 30 x 30cm, mầu đỏ, xanh cho các Jury và hai lá cờ màu vàng cho
Trọng tài thời gian và cho Trọng tài cuộc đấu.
5.2.7. Bảng ghi thời gian biểu diễn các bài quy định cá nhân, bài đối luyện tự chọn, bài quy định tập
thể của các Pesilat tham gia.
Hình 2a Trang bị võ đài
Hình 2b: Các loại đèn sử dụng trong thi đấu
5.2.8. Giá để binh khí biểu diễn.
5.2.9. Bảng điểm
5.2.10. Cân kiểm tra trọng lượng VĐV.
5.2.11. Bảng hiệu ghi tên các Hội đồng, Ban của cuộc đấu, Chủ tịch cuộc đấu, Ban trọng tài, Ban
thư ký, trọng tài thời gian, Bác sĩ, Jury từ số 1 đến số 5.
5.2.12. Hệ thống phát thanh.
5.2.13. Các trang bị khác
Điều 6. Luật thi đấu đối kháng
6.1. Trang bị thi đấu
6.1.1. Trang phục
Pesilat tham gia nội dung thi đấu đối kháng phải mặc trang phục thi đấu theo mẫu tiêu chuẩn đã
được quy định của Pencak Silat quần áo mầu đen, thắt đai trắng. Khi thi đấu, đai trắng sẽ phải cởi
ra. Phù hiệu của tổ chức Pencak Silat cấp quốc gia (hay cấp địa phương) được gắn trên ngực trái,
tên quốc gia (hay tên đội) được in ở lưng áo. Ngoài các quy định về phục trang trên, Pesilat không
được mặc bất kỳ một loại trang phục nào khác (Hình 3)
6.1.2. Giáp bảo vệ thân thể tuân theo các quy định sau:
6.1.2.1. Theo đúng mẫu quy định của Liên đoàn Pencak Silat quốc tế
6.1.2.2. Mầu đen sẫm
6.1.2.3. Giáp có bốn cỡ: Nhỏ, trung bình, lớn và rộng.
Hình 3 - Trang phục thi đấu đối kháng (Tanding)
6.1.2.4. Đai màu đỏ và đai màu xanh nước biển sẫm cho hai Pesilat ở hai góc đài tương ứng.
6.1.2.5. Mỗi giải thi đấu phải có tối thiểu 5 áo giáp cho mỗi cỡ.
6.1.2.6. Ban tổ chức có trách nhiệm cung cấp giáp thi đấu cho giải (Hình 4 - Giáp thi đấu)
Hình 4 - Giáp thi đấu
6.1.3. Các Pesilat phải đeo bảo hiểm hạ bộ
6.1.4. Các Pesilat được phép mang một lớp băng bảo vệ khớp (đầu gối, cùi tay, cổ tay, cổ chân)
loại mỏng, có khả năng co dãn. Nếu băng bảo vệ không theo quy định trên thì phải có sự xem xét
và đồng ý của bác sĩ cuộc đấu.
6.2. Các vòng đấu:
Các giải thi đấu sẽ được chia làm các vòng: vòng đấu loại, vòng tứ kết, vòng bán kết, vòng chung
kết cho tất cả các hạng cân thi đấu, tuỳ theo số lượng Pesilat tham gia.
6.3. Thời gian của trận đấu
6.3.1. Các trận đấu sẽ được tiến hành trong ba hiệp
6.3.2. Mỗi hiệp sẽ có thời gian hai phút
6.3.3. Thời gian nghỉ giữa hai hiệp là một phút
6.3.4. Thời gian trọng tài dừng trận đấu không được tính vào thời gian thi đấu
6.3.5. Thời gian trọng tài đếm tuyệt đối hay đếm kỹ thuật không được tính vào thời gian thi đấu
6.4. Chỉ đạo viên và săn sóc viên:
6.4.1. Mỗi Pesilat khi tham gia thi đấu được phép có hai người làm công tác săn sóc, chỉ đạo. Trong
số đó được phép có huấn luyện viên.
6.4.2. Chỉ đạo viên và săn sóc viên cũng phải mặc quần áo thi đấu theo mẫu tiêu chuẩn đã được
quy định của Pencak Silat có mầu đen, thắt đai màu da cam rộng 10cm, có phù hiệu của Tổ chức
Pencak Silat cấp quốc gia (hay cấp địa phương được gắn trên ngực trái, tên quốc gia (hay tên đội)
được in ở lưng áo (Hình 5 - Trang phục của HLV và săn sóc viên)
Hình 5 - Trang phục của HLV và săn sóc viên
6.4.3. Chỉ đạo viên được phép chỉ đạo Pesilat trước thi đấu và trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp
6 4.4. Chỉ đạo viên không được phép
- Dùng lời nói chỉ đạo Pesilat khi đang thi đấu.
- Đứng hoặc ngồi không đúng tư thế cho phép.
- Hò hét, cổ vũ, vỗ tay khi Pesilat đang thi đấu.
- Mang rượu hay các chất kích thích cho Pesilat sử dụng để thi đấu
- Mang trang phục không đúng quy định
- Vào trong phạm vi thi đấu khi chưa có sự đồng ý của Trọng tài đài
- Chụp ảnh, quay video khi Pesilat đang thi đấu.
6.4.5. Chỉ có một chỉ đạo viên (hoặc săn sóc viên) được phép vào trong thảm đấu (tại góc của
Pesilat) khi Pesilat nghỉ thi đấu giữa hai hiệp.
6.4.6. Trong số Chỉ đạo viên và săn sóc viên phải có một người cùng giới tính với Pesilat.
6.5. Thủ tục tiến hành trận đấu
6.5.1. Một trận đấu được bắt đầu khi tổ trọng tài bao gồm một Trọng tài đài và năm giám định tiến
vào khu vực thi đấu từ phía tay phải của Chủ tịch cuộc đấu. Tổ trọng tài phải làm thủ tục chào, báo
cáo và tuyên thệ trước khi làm nhiệm vụ. Sau đó các trọng tài vào vị trí làm việc (Hình 6 - Vị trí của
trọng tài, giám định trong nội dung Tanding)
Hình 6 - Vị trí của trọng tài, giám định trong nội dung Tanding
6.5.2. Khi có dấu hiệu mời vào của trong tài đài, Pesilat phải chào chủ đạo viên và săn sóc viên rồi
đi vào trong thảm đấu từ phía góc của mình. Khi đến trung tâm của vòng tròn thi đấu, Pesilat phải
chào trọng tài đài rồi chào Chủ tịch cuộc đấu. Sau khi biểu diễn bài xe đài, Pesilat trở về góc đài của
mình.
6.5.3. Để bắt đầu trận đấu, trọng tài đài gọi hai Pesilat vào trong thảm kiểm tra, nhắc nhở, cho hai
Pesilat bắt tay nhau và vào vị trí sẵn sàng thi đấu.
6.5.4. Sau khi ra ký hiệu cho các thành viên của cuộc đấu (Chủ tịch cuộc đấu, Ban trọng tài, trọng
tài thời gian, bác sĩ, năm giám định), trọng tài đài sẽ ra ký hiệu và khẩu lệnh cho trận đấu bắt đầu.
6.5.5. Trong thời gian nghỉ giữa hai hiệp, Pesilat phải trở về góc đài của mình để cho chỉ đạo viên
và săn sóc viên thực hiện nhiệm vụ của họ theo điều 6 mục 4 đã nêu trên.
6.5.6. Trừ trọng tài và hai Pesilat, không ai được phép vào trong thảm thi đấu khi chưa có yêu cầu
của trọng tài đài.
6.5.7. Sau khi hiệp cuối cùng kết thúc, hai Pesilat trở về góc đài của mình, đợi công bố kết quả
người thắng cuộc. Khi công bố kết quả người thắng cuộc, trọng tài đài sẽ gọi hai Pesilat vào trong
trung tâm thảm và tên người thắng cuộc được thông báo trên loa và bằng đèn hiệu, trọng tài đài sẽ
dơ cao tay người thắng cuộc.
6.5.8. Sau khi công bố người thắng cuộc, hai Pesilat bắt tay nhau, rời khỏi võ đài. Tổ trọng tài sẽ rời
võ đài sau cùng và cùng nhau xếp hàng trước mặt Chủ tịch cuộc đấu, báo cáo về việc hoàn thành
nhiệm vụ và chào Chủ tịch cuộc đấu rồi về vị trí tập trung cho các trọng tài.
6.6. Luật thi đấu
6.6.1. Nguyên tắc thi đấu:
6.6.1.1. Hai Pesilat phải mặt đối mặt với nhau và sử dụng các kỹ thuật tấn công và phòng thủ của
Pencak Silat, bao gồm các đòn tay, đòn chân, đòn đánh ngã, tuân thủ nguyên tắc thi đấu Pencak
Silat và không vi phạm các điều luật cấm trong thi đấu. Việc tuân thủ nguyên tắc thi đấu Pencak
Silat nhằm đảm bảo tính đặc trưng và truyền thống của hoạt động thi đấu với nội dung chủ yếu là
tuân thủ nghiêm ngặt trình tự kỹ thuật trong thi đấu. Mỗi một đợt tấn công, phòng thủ đều phải thực
hiện từ tư thế lập tấn, di chuyển tiếp cận theo đúng các tư thế và bước tấn đã được quy định của
Pencak Silat; sau đó ra đòn tấn công, phòng thủ trên thế tấn vững vàng, có chủ đích; sau khi tấn
công, phòng thủ, Pesilat phải di chuyển quay về vị trí ban đầu với tư thế lập tấn.
6.6.1.2. Từ vị trí lập tấn ban đầu, để tiếp cận đối phương, ra đòn tấn công, phòng thủ, mỗi Pesilat
phải di chuyển theo các bước tấn đã được định trước với tối thiểu là 3 bước tấn khác nhau, rồi ra
đòn tấn công, phòng thủ, Pesilat phải trở về vị trí lập tấn ban đầu bằng các bước tấn quy định.
Nếu Pesilat nào khi di chuyển không tuân thủ theo các bước tấn quy định bắt buộc quy định này,
trọng tài đài sẽ dùng khẩu lệnh “Langka” để nhắc nhở, khiển trách hoặc cảnh cáo (Hình 7).
6.6.1.3. Mỗi loạt đòn tấn công phải đúng luật, hợp lệ và sử dụng các kỹ thuật khác nhau để tấn
công vào đích với tối đa là 4 đòn. Nếu một Pesilat trong một loạt đòn tấn công đánh quá 4 đòn thì
trọng tài đài sẽ dừng cuộc nhắc nhở.
Các kiểu đòn tấn công (đòn tay hoặc đòn chân) giống nhau lặp lại liên tục trong một loạt đòn tấn
công đánh quá 4 đòn thì trọng tài đài sẽ dừng cuộc và nhắc nhở.
Các kiểu đòn tấn công (đòn tay hoặc đòn chân) giống nhau lặp lại liên tục trong một loạt 4 đòn thì
sẽ chỉ được tính cho một lần tấn công. (Hình 7 – Các bước tấn di chuyển mẫu của Pencak Silat)
Hình 7 - Các bước tấn di chuyển mẫu của Pencak Silat
6.6.1.4. Đòn tấn công hiệu quả được tính điểm là đòn đánh có kỹ thuật với một thế tấn rõ ràng
(thuộc các thế tấn quy định của Pencak Silat), có biên độ, rõ nét, có sức mạnh, không bị gạt đỡ, né
tránh, hoá giải, trúng đích hợp lệ, được thực hiện trước lệnh BERHENTI, sau khẩu lệnh MULAI và
không vi phạm nguyên tắc 4 đòn.
6.6.2. Khẩu lệnh trọng tài đài:
- Khẩu lệnh BERSEDIA (sẵn sàng) dùng để nhắc nhở các Pesilat, các giám định và thành viên cuộc
đấu chuẩn bị cho trận đấu bắt đầu.
- Khẩu lệnh MULAI (bắt đầu) dùng để bắt đầu hay tiếp tục trận đấu, kèm theo khẩu lệnh có một ký
hiệu.
- Khẩu lệnh BERHENTI (ngừng) dùng để chỉ trận đấu.
- Khẩu lệnh PASANG (lập thế) dùng để nhắc nhở các Pesilat lập thế.
- Khẩu lệnh SILAT dùng để nhắc nhở Pesilat về luật tấn công 4 đòn
- Ngoài các khẩu lệnh trên, khi bắt đầu và kết thúc mỗi hiệp có một tiếng cồng báo hiệu
6.6.3. Đích tấn công hợp lệ
Đích tấn công hợp lệ được phép tính điểm là phần cơ thể được che bởi giáp thi đấu trừ cổ và hạ
bộ, bao gồm:
- Phần ngực
- Bụng
- Sườn bên phải và trái
- Phần lưng.
Tay và chân có thể là đích tấn công hợp lệ để đánh ngã đối phương nhưng không được tính điểm
như đánh trúng giáp. (Hình 8 – Đích tấn công hợp lệ)
Hình 8 - Đích tấn công hợp lệ
6.6.4. Các trường hợp phạm luật
Các trường hợp phạm luật được chia thành ra thành các mức độ sau:
6.6.4.1. Phạm luật nặng
6.6.4.1.1. Không sử dụng đúng các bước tấn công quy định và không tuân thủ nguyên tắc thi đấu
Pencak Silat.
6.6.4.1.2. Tấn công vào các vùng cấm trên cơ thể (đầu, cổ, hạ bộ) gây chấn thương cho đối
phương.
6.6.4.1.3. Tấn công trực tiếp vào các khớp xương.
6.6.4.1.4. Ném đối phương ra khỏi đài một cách có chủ ý.
6.6.4.1.5. Tấn công, ra đòn bằng đầu
6.6.4.1.6. Tấn công đối phương trước lệnh MULAI sau lệnh BERHENTI của trọng tài đài, gây chấn
thương cho đối phương.
6.6.4.1.7. Vật, cắn, cào, xé, túm tóc đối phương
6.6.4.1.8. Thách thức, chửi bới, thoá mạ, la hét trên đài đấu.
6.6.4.1.9. Tiếp tục phạm luật sau khi trọng tài đài nhắc nhở, khiển trách
6.6.4.2. Phạm luật nhẹ
6.6.4.2.1. Liên tục di chuyển ra khỏi thảm đấu
6.6.4.2.2. Ôm ghì đối phương trong quá trình thi đấu
6.6.4.2.3. Không sử dụng kỹ thuật Pencak Silat
6.6.4.2.4. Vi phạm các nguyên tắc thi đấu (khoản 6, mục 6.1)
6.6.4.2.5. Trong quá trình thi đấu, liên lạc với người bên ngoài bằng lời nói hay ký hiệu
6.6.4.2.6. Đem sử dụng các vật cấm vào sàn đấu
6.6.4.2.7. Không tích cực thi đấu hoặc có ý định kéo dài thời gian
6.6.4.2.8. Cố ý phạm luật
6.6.5. Lỗi kỹ thuật phòng thủ:
6.6.5.1. Nếu một đòn tấn công có kỹ thuật, hợp lệ nhằm ghi điểm nhưng gây chấn thương cho đối
phương do trong khi đòn tấn công đó được thực hiện, đối phương đã sử dụng kỹ thuật phòng thủ
sai, thì đòn tấn công đó không bị coi là phạm luật.
6.6.5.2. Nếu một Pesilat bị trúng đòn như trên và bị chấn thương, trọng tài đài sẽ gọi bác sỹ vào
kiểm tra. Nếu bác sĩ quyết định là Pesilat đó không thể tiếp tục thi đấu được thì Pesilat đó sẽ bị xử
thua kỹ thuật.
6.6.5.3. Nếu một Pesilat bị trúng đòn như trên và bị ngã không thể đứng dậy để thi đấu được, trọng
tài đài sẽ tiến hành đếm kỹ thuật. Nếu trọng tài đài đếm đến 10 mà Pesilat đó không đứng dậy
được thì Pesilat đó sẽ bị xử thua kỹ thuật.
6.6.6. Các mức phạt
6.6.6.1. Khiển trách
Khiển trách được áp dụng để phạt và trừ điểm khi Pesilat phạm luật nhẹ. Khiển trách có giá trị trong
từng hiệp
6.6.6.2. Cảnh cáo:
Cảnh cáo có giá trị trong toàn trận và có hai mức.
6.6.6.2.1. Cảnh cáo lần thứ nhất: Được áp dụng để phạt và trừ điểm Pesilat khi:
- Phạm luật nặng.
- Tiếp tục phạm luật nhẹ và bị khiển trách lần thứ ba
Sau khi bị cảnh cáo lần thứ nhất, nếu Pesilat lại phạm lỗi nhẹ thì sẽ bị khiển trách.
6.6.6.2.2. Cảnh cáo lần thứ hai: Được áp dụng để phạt và trừ điểm khi Pesilat tiếp tục phạm lỗi sau
khi bị cảnh cáo lần thứ nhất.
6.6.6.2.3. Truất quyền: Pesilat bị truất quyền khi
6.6.6.2.3.1. Tiếp tục bị cảnh cáo sau khi đã bị cảnh cáo lần thứ hai.
6.6.6.2.3.2. Cố ý phạm luật nặng, đi ngược lại nguyên tắc thi đấu thể thao.
6.6.6.2.3.3. Làm đối phương bị chấn thương không thể tiếp tục thi đấu theo quyết định của Bác sĩ
cuộc đấu.
6.6.6.2.3.4. Ở lần cân lại trước khi thi đấu 15 phút, chỉ số cân nặng không phù hợp với hạng cân đã
đăng ký.
6.6.7. Điểm thi đấu:
6.6.7.1. Cách tính điểm thi đấu
Điểm 1: Đòn tấn công bằng tay trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né
tránh hay hoá giải.
Điểm 1 + 1: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công của đối phương và lập tức phản
công lại bằng đòn tay trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải.
Điểm 2: Đòn tấn công bằng chân trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né
tránh, hoá giải.
Điểm 1 + 2: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công của đối phương và lập tức phản
công lại bằng đòn chân trúng đích hợp lệ vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá
giải.
Điểm 3: Đòn tấn công đánh ngã đối phương hợp lệ.
Điểm 1 + 3: Tránh né, gạt đỡ, hoá giải thành công đòn tấn công của đối phương và lập tức phản
công đánh ngã đối phương hợp lệ.
6.6.7.2. Các căn cứ để tính điểm thi đấu:
Đòn phản công thành công
- Đòn gạt đỡ, phản công thành công là một tổ hợp kỹ thuật của Pesilat bao gồm đòn gạt đỡ thành
công đòn tấn công của đối phương bằng kỹ thuật tự vệ và liền sau đó phản công trúng đích hợp lệ
vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải hoặc phản công đánh ngã đối phương.
- Đòn né tránh, phản công thành công là một tổ hợp kỹ thuật của Pesilat bao gồm kỹ thuật tránh né
thành công đòn tấn công của đối phương và liền sau đó phản công trúng đích hợp lệ vào giáp đối
phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, hoá giải hoặc phản công đánh ngã đối phương.
- Đối với những đòn nêu trên, Pesilat sẽ được tính điểm 1+ (điểm cho kỹ thuật gạt đỡ, né tránh và
phản đòn thành công), tuỳ theo đòn phản công trúng đích liền sau đó là loại đòn gì (1 + 1, 1 + 2, 1
+3)
6.6.7.2.2. Đòn tay và đòn chân tấn công thành công:
Đòn tay và đòn chân tấn công thành công là đòn tấn công bằng tay, bằng chân trúng đích hợp lệ
vào giáp đối phương mà không bị gạt đỡ, né tránh, chặn đỡ và đòn đánh đủ mạnh, rõ nét, có biên
độ và trên thế tấn rõ ràng.
6.6.7.2.3. Đòn đánh ngã hợp lệ:
Đòn đánh ngã được công nhận khi Pesilat ra đòn đánh ngã hợp lệ làm cho đối phương có điểm thứ
ba chạm thảm ngoài hai bàn chân (tính từ đầu gối trở lên). Đòn đánh ngã hợp lệ được xác định
theo các tiêu chí sau:
6.6.7.2.3.1. Đòn đánh ngã là các đòn tấn công trực tiếp, đòn đá quét, đòn bốc ngã, đòn bắt chân
đánh ngã, đòn cắt kéo và các kỹ thuật tấn công hợp lệ khác.
6.6.7.2.3.2. Khi thực hiện đòn đánh ngã đối phương Pesilat không được ngã theo đối phương hay
bị ngã đè lên đối phương.
6.6.7.2.3.3. Nếu đòn đánh ngã có sử dụng kỹ thuật bắt tóm chân hay ôm thân đối phương thì kỹ
thuật đó phải là loại kỹ thuật tự vệ phòng thủ (không được tấn công bằng cách bắt tóm chân hay ôm
thân đối phương) và sau đó chỉ được phép thực hiện các đòn tỳ, đẩy, vít, xoay, hất để đánh ngã đối
phương mà không được ra đòn tấn công trực tiếp khi còn đang bắt tóm chân hay ôm thân đối
phương.
Việc thực hiện các đòn đánh ngã có sử dụng kỹ thuật bắt tóm chân hay ôm thân đối phương nói
trên chỉ được phép diễn ra trong khoảng thời gian đó, đòn đánh ngã chưa thực hiện trên chỉ được
phép diễn ra trong khoảng thời gian 3 giây. Nếu trong khoảng thời gian đó, đòn đánh ngã chưa thực
hiện được thì trọng tài sẽ dừng cuộc và không công nhận đòn đánh ngã.
6.6.7.2.3.4. Khi thực hiện các kỹ thuật đá quét, cài móc chân, bốc ngã, cắt kéo để đánh ngã đối
phương không được phép dùng tay kéo, vật đối phương mà chỉ được sử dụng các kỹ thuật đẩy, tỳ,
vít, xoay, hất.
Đòn đá quét được phép thực hiện trong tư thế chủ động ngã người quét (đòn đá quét trước và quét
sau). Nếu Pesilat ở thế chủ động thoát, tránh khỏi đòn đá quét của đối phương thì cũng không
được phép ra đòn phản công.
6.6.7.2.3.5. Hai đòn tấn công cùng một lúc:
Trường hợp có hai đòn tấn công hợp lệ cùng một lúc của hai Pesilat và một hay cả hai Pesilat đều
bị ngã ra do bị đau thì đòn đánh ngã sẽ được công nhận và việc xử lý tình huống sẽ được thực hiện
như sau:
6.6.7.2.3.5.1. Nếu có một Pesilat không đứng dậy được, trọng tài sẽ đếm tuyệt đối Pesilat đó.
6.6.7.2.3.5.2. Nếu cả hai Pesilat đều không đứng dậy được, trọng tài đài sẽ đếm tuyệt đối cả hai
Pesilat, Pesilat nào dậy trước sẽ thắng cuộc.
6.6.7.2.3.5.3. Nếu cả hai Pesilat đều không dậy được thì người thắng cuộc sẽ được xác định bằng
cách cộng phiếu điểm thi đấu tại thời điểm đó của hai Pesilat, ai có tổng điểm cao hơn sẽ thắng
cuộc.
6.6.7.2.3.5.4. Nếu hai Pesilat mới thi đấu hiệp đầu tiên, chưa ai ghi được điểm thì trận đấu sẽ được
hoãn và tổ chức lại.
6.6.7.2.3.6. Trường hợp tự ngã:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét