2.3. Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động
cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát
huy tác dụng lâu dài do đó thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích
cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế…
Do đó, ngoài việc thực hiện tốt quá trình chuẩn bị và thực hiện đầu tư, cũng cần quản
lý tốt quá trình vận hành, nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử dụng, hoạt
động tối đa công suất để nhanh chóng thu hồi vốn, tránh hao mòn vô hình…
2.4. Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển mà là các công trình xây
dựng thường phát huy tác dụng ngày tại nơi nó được tạo dựng nên, do đó,
quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư
chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng.
Các công trình đã xây dựng xong, sẽ không thể dễ dàng di chuyển chúng từ nơi
này sang nơi khác. Do đó, trong công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển: trước
hết, cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng. Đầu tư cái gì công suất
bao nhiêu là hợp lý…cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, dựa trên những căn cứ
khoa học. Ngoài ra, việc lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý cũng rất quan trọng. Để lựa
chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên những căn cứ khoa học, dựa vào
một hệ thống các chỉ tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, văn hoá… Cần xây
dựng một bộ tiêu chí khác nhau và nhiều phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh
thổ và địa điểm đầu tư cụ thể hợp lý nhất, sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng
và không gian đầu tư cụ thể, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
2.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao
Qui mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả
đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao.
Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ phía các
nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên
nhân khách quan như giá nguyên vật liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản
5
xuất không đạt công suất thiết kế…Do đó, để quản lý hoạt động đầu tư phát triển
hiệu quả, cần phải thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro: Nhận diện rủi ro, đánh giá
mức độ rủi ro và xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro.
3. Phân loại đầu tư phát triển theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư
3.1. Đầu tư gián tiếp: Người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành,
quản lý quá trình thực hiện, vận hành các kết quả đầu tư.
Người có vốn thông qua các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển.
Đó là việc các chính phủ thông qua các chương trình tài trợ không hoàn lại hoặc có
hoàn lại với lãi suất thấp cho các chính phủ các nước khác vay để phát triển kinh tế
xã hội; các cá nhân, các tổ chức mua các chứng chỉ có giá như: cổ phiếu, trái phiếu…
để hưởng lợi tức.
Đầu tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tư phát triển.
3.2. Đầu tư trực tiếp: Người bỏ vốn trực tiếp tham gia điều hành, quản lý
quá trình thực hiện, vận hành các kết quả đầu tư.
Loại đầu tư này tạo nên những năng lực sản xuất phục vụ mới cả về lượng và
chất .
II. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
1. Khái niệm
1.1. Đầu tư nước ngoài: là việc nhà đầu tư đưa vốn, tiền tệ, các hình thức giá trị khác
vào sử dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận
hoặc đạt được các kết quả xã hội
Đầu tư nước ngoài gồm: Đầu tư gián tiếp và Đầu tư trực tiếp
1.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI-Foreign Direct Investment )
Theo quỹ tiền tệ Quốc tế đưa ra năm 1977: “FDI là vốn đầu tư được thực hiện nhằm
thu về những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế
thuộc đất nước của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả
trong việc quản lý doanh nghiệp đó”
6
Theo tổ chức thương mại thế giới: FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay
công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay
công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.
Theo nghị định số 78/2006/NĐ-CP của chính phủ: “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là
việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp
tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài.”
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước ( nước chủ đầu tư )
có được một tài sản ở một nước khác ( nước thu hút đầu tư ) cùng với quyền quản lý tài sản
đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
2. Các hình thức FDI
2.1. Phân theo bản chất đầu tư
- Đầu tư phương tiện hoạt động
Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua
sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này
làm tăng khối lượng đầu tư vào
- Mua lại và sát nhập
Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có
vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang
hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn
FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu
tư vào.
2.2. Phân theo tỷ lệ sở hữu vốn
- Vốn hỗn hợp ( vốn trong nước và nước ngoài )
* Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Theo Điều 9- Nghị định 108/2006/ NĐ-CP của chính phủ: Hợp đồng hợp tác
kinh doanh là hợp đồng do một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài ký kết với một
hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước để tiến hành đầu tư, kinh doanh; trong đó có quy
định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh mà không thành lập
pháp nhân.
7
Như vậy có thể hiểu đây là hình thức đầu tư mà các bên tham gia hợp đồng ký
kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước
nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách
nhiệm và phân chia các kết quả kinh doanh cho các bên tham gia. Khi hết thời gian
hiệu lực thì các bên không còn rang buộc về mặt pháp lý.
Hình thức này thường không đòi hỏi vốn lớn và thời hạn hợp đồng thường
ngắn, cũng chính vì vậy mà ít thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài có tiềm
năng.
* Doanh nghiệp liên doanh ( hay công ty liên doanh )
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước nhận đầu tư (
nước chủ nhà ) giữa các bên nước ngoài và nước chủ nhà. Trong đó, các bên cùng
đóng góp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ góp
vốn.
Với hình thức này, các bên cùng tham gia điều hành doanh nghiệp, chia lợi
nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên.
* Doanh nghiệp cổ phần FDI ( hay công ty cổ phần )
Doanh nghiệp cổ phần FDI là doanh nghiệp có các cổ đông nước ngoài và trong
nước ( cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức ) nhưng cổ đông nắm quyền chi phối
có quốc tịch nước ngoài, đây là hình thức doanh nghiệp hiện đại.
- DN 100% vốn FDI
Đây là loại hình doanh nghiệp do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước
chủ nhà và họ tự quản lý, chịu trách nhiệm hoàn toàn về các kết quả sản xuất kinh
doanh.
2.3. Phân theo tính chất dòng vốn
- Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một
công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết
định quản lý của công ty.
- Vốn tái đầu tư
8
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dung lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
- Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể
cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
2.4. Phân theo động cơ của nhà đầu tư
- Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và rồi rào
ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp
hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào.
Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương
hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác
các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận.
Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến
lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
- Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước
tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện
nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ,
thuế suất ưu đãi, v.v
- Vốn tìm kiếm thị trường: nhằm mở rộng thi trường hoặc giữ thị trường khỏi
các đối thủ cạnh tranh
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị
đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các
hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy
nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu.
9
3. Vai trò của FDI đối với nước đi đầu tư
- Dựa trên lý thuyết xuất khẩu tư bản của lenin, thì đầu tư ra nước ngoài là yếu
tố sống còn của Chủ nghĩa tư bản, do đó mục đích tiến hành đầu tư ra nước ngoài
nhằm:
+ Mục đích kinh tế là tìm kiếm lợi nhuận:
Bằng cách thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để sử dụng nguồn lao động
rẻ. Mặt khác đối với những công nghệ đã cũ, khi trong nước không còn điều kiện để
phát triển thì họ có thể mang đi đầu tư ở những nước có trình độ công nghệ thấp hơn
để kéo dài chu kỳ sống cho sản phẩm và công nghệ, nhờ vậy mà tạo thêm được lợi
nhuận.
+ Tạo ra nguồn cung cấp nguyên vật liệu mới:
Thông thường, những nước có trình độ công nghệ thấp chưa khai thác được hết
những nguồn nguyên vật liệu, tài nguyên phong phú của mình. Do đó, đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài một phần cũng là để khai thác tài nguyên nước ngoài, bảo vệ tài
nguyên nước mình.
+ Trong trường hợp các nước phát triển đầu tư sang nhau thì một mục đích rất
rõ rệt là hợp tác và liên kết cùng với nhau để cùng phát triển, hạn chế bớt sự cạnh
tranh không cần thiết.
- Đối với các nước đang phát triển, lợi ích của hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài:
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp cho nước đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn
lực “dư thừa” trong nước, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đầu tư; đồng thời khai thác có
hiệu quả lợi thế quốc gia trên trường quốc tế.
Các quốc gia đều phát triển nền kinh tế với những lợi thế riêng có của mình,
nếu biết khai thác những lợi thế đó một cách hợp lý thì sẽ tạo ra những bước nhảy vọt
cho nền kinh tế khi nền kinh tế thế giới ngày càng tiến sâu vào quá trình toàn cầu hoá.
Với các nước có nền kinh tế đang phát triển, việc sử dụng các nguồn lực trong
nước vẫn còn nhiều bất cập, chưa tiết kiệm và chưa có hiệu quả. Do vậy khi tiến hành
đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư sẽ đem theo những yếu tố sản xuất được bắt nguồn
10
từ những nguồn lực trong nước, thậm chí có cả những nguồn lực “dư thừa” so với
nhu cầu đầu tư trong nước ở những lĩnh vực mang tính truyền thống, lĩnh vực có thế
mạnh của quốc gia đó. Với môi trường kinh doanh lành mạnh ở nhiều nước khác
nhau trên thế giới, trình độ quản lý doanh nghiệp, quản lý quá trình đầu tư ngày càng
hiện đại nên những nguồn lực “dư thừa” đó sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả
hơn.
+ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho nước đầu tư tìm kiếm và tận dụng
được các nguồn lực ở nước ngoài một cách có hiệu quả, xây dựng thị trường cung
cấp đầu vào ổn định, giá phải chăng.
Hiệu quả sử dụng nguồn lực là vấn đề đóng vai trò quan trọng để giảm thiểu chi
phí trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, góp phần đắc lực cho
doanh nghiệp nâng cao được sức cạnh tranh và tăng lợi nhuận. Chính vì những đóng
góp to lớn đó mà doanh nghiệp luôn phải đi tìm lời giải bài toán sử dụng có hiệu quả
nguồn lực trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài là một giải pháp tốt cho bài toán này.
Do lực lượng sản xuất phát triển không đều giữa các quốc gia và sự phân bố
nguồn lực không đều trên thế giới đã tạo ra lợi thế và sự khác nhau giữa nhu cầu, khả
năng khai thác và hiệu quả khai thác nguồn lực khác nhau ở mỗi nước. Có hiện tượng
“thừa” nguồn lực tương đối ở một số nước và “thiếu” nguồn lực tương đối ở một số
nước khác, dẫn đến hiện tượng tìm kiếm và khai thác các nguồn lực lẫn nhau giữa
các nước nhằm tối ưu hoá hiệu quả sử dụng chúng phục vụ cho mục đích tăng lợi
nhuận của các chủ thế kinh doanh, từ đó cũng thúc đầy nền kinh tế nước đầu tư phát
triển nhanh chóng.
+ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài còn giúp cho các nhà đầu tư mở rộng được thị
trường tiêu thụ sản phẩm.
Việc mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm ở trong nước là một
việc làm thường xuyên và rất quan trọng với doanh nghiệp. Nhưng việc thâm nhập
thị trường nước ngoài cũng có ý nghĩa cực kỳ to lớn, đặc biệt trong xu thế chung, các
11
quốc gia trên thế giới đều muốn lấy xuất khẩu hàng hoá làm động lực phát triển nền
kinh tế trong nước.
Thâm nhập thị trường nước ngoài cũng có nghĩa là thị trường tiêu thụ sản phẩm
của quốc gia được mở rộng, doanh thu của các doanh nghiệp tăng lên, sản phẩm của
các doanh nghiệp của quốc gia đó sẽ được nhiều người sử dụng hơn, từ đó nâng cao
được khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Đồng thời uy tín của các doanh
nghiệp của quốc gia đó sẽ được nâng cao và được nhiều người biết đến, khả năng
phát triển của các doanh nghiệp ngày càng cao. Đặc biệt vị thế của quốc gia đó trên
trường quốc tế nói chung và trong thương mại quốc tế nói riêng sẽ được nâng cao.
+ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các nước đầu tư tránh được hàng rào
thuế quan và hàng rào bảo hộ phi thuế quan của nước nhận đầu tư.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã đặt ra các hàng rào bảo hộ khác nhau nhằm bảo
hộ ngành sản xuất trong nước. Các hàng rào đó có thể là thuế quan, giấy phép nhập
khẩu, hạn ngạch nhập khẩu… Ngày nay, do xu thế chung của các quốc gia, đặc biệt
của các nước thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, các hàng rào bảo hộ phi
thuế quan như giấy phép nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu… được nhiều nước bãi bỏ
cùng với việc hạ thấp dần hàng rào thuế quan.
Tuy nhiên, ở một số quốc gia, kể cả các nước phát triển và các nước đang phát
triển, chủ nghĩa bảo hộ vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức: các yêu cầu về vệ sinh môi
trường, vệ sinh sản xuất, về điều kiện làm việc của người sản xuất hàng hoá, về tiêu
chuẩn chất lượng, kỹ thuật của hàng hoá…
Đầu tư quốc tế là biện pháp hữu hiệu để các doanh nghiệp tránh hàng rào bảo
hộ thương mại và dễ dàng hơn trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào thị trường
nước ngoài.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng giúp cho các nước bành trướng sức mạnh về
kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, chủ thể
đầu tư khẳng định được khả năng, bản lĩnh và trình độ của mình nói riêng và của cả
nước nói chung đối với nước nhận đầu tư và đối với thế giới.
12
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn giúp nước đầu tư kéo dài chu kỳ sống của
sản phẩm, khắc phục tình trạng lão hoá sản phẩm, tạo điều kiện để đổi mới công nghệ
trong nước, đổi mới cơ cấu sản xuất thông qua việc di chuyển các công nghệ cũ sang
các nước nhận đầu tư…
Chu kỳ sống của bất kỳ sản phẩm nào cũng trải qua các giai đoạn: ra đời, phát
triển, bão hoà, suy giảm và tiêu vong. Thực tế, có những sản phẩm đã bão hoà trên
một thị trường nào đó, đòi hỏi phải chấm dứt chu kỳ sản xuất và kinh doanh sản
phẩm đó trên thị trường nước này. Khi sản phẩm đang ở giai đoạn bão hoà, nhà sản
xuất có thể di chuyển máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất sang các nước khác để
sản xuất để kéo dài “tuổi thọ” của sản phẩm.
Hơn nữa, với tiến bộ như vũ bão của Cách mạng khoa học công nghệ Thế Giới
hiện nay, nhiều máy móc thiết bị đã nhanh chóng bị hao mòn vô hình. Để có thể áp
dụng các tiến bộ mới về Khoa học công nghệ vào doanh nghiệp và tận dụng các máy
móc, thiết bị này các doanh nghiệp có thể tìm những quốc gia thích hợp để chuyển
các máy móc đó tới để đầu tư. Điều này mang lại lợi nhuận kép cho các nhà đầu tư
nước ngoài.
+ Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước thực hiện đầu tư có thể tạo ra
nhu cầu mới và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong quản lý.
+ Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nước thực hiện đầu tư có điều kiện
học hỏi kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoạch định chính sách quản lý kinh tế,
trong việc tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng với các thành
phần kinh tế, các chủ thể khác nhau trên thị trường trong nước.
4. Nhân tố thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
4.1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất
cân biên của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên
thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng
này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa
hoá lợi nhuận.
13
4.2. Chu kỳ sản phẩm
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh và sản
xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước
nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường nội địa tăng lên,
nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khấu này bằng
cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản
phẩm mới trên thị trường trong nước bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện
tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai
đoạn chuẩn hoá trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này
có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh
giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt
giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyên sản xuất sản phẩm
sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn.
4.3. Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981),
Rugman A.A (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có
những lợi thế đặc thù ( chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những
trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sang đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi
chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện
( lao động, đất đai, chính trị ) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên.
4.4. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại
song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản
có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song
phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ
sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và Châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản
phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó
xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và Châu Âu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét