giờ. Tuy nhiên, những tầng lớp dưới của xã hội đã khơng thoả mãn sự cải cách
này của Luther, họ đã đi xa hơn, triệt để hơn. Đại diện cho xu hướng này là
Thomas Muntzer (1940-1525), đại biểu của phái nơng dân nghèo cách mạng.
Ơng là người có tư tưởng tiến bộ vừa chống thần quyền, vừa chống thế quyền.
Lúc đầu ơng nhiệt liệt ủng hộ cuộc cải cách của Luther, hoan nghênh “95 luận
đề”, nhưng khi Luther phản bội thì ơng kiên quyết chống lại tư tưởng ơn hồ,
thoả hiệp, tách khỏi tư tưởng cải lương tư sản và trực tiếp vận động cách mạng.
Ơng cơng kích tất cả những quan điểm cơ bản và tồn bộ triết học tư tưởng của
Luther về thần học cơ đốc giáo. Ơng cho rằng: “Khơng có thiên đường cũng
chẳng có địa ngục để đầy đoạ con người, khơng có quỷ thần mà chẳng qua là
dục vọng sâu sa của con người” [10.132]. Ơng kêu gọi những nơng dân Đức
đứng lên khởi nghĩa xây dựng xã hội mới khơng có giai cấp, khơng có tư hữu,
khơng có chế độ riêng, khơng có chính quyền đối lập với nhân dân xã hội đó là:
“Thiên đường của trần gian, vương quốc của thần thánh” [10.123]. Quan điểm
đó đã trở thành quan điểm xã hội khơng tưởng, chính quan điểm này đã làm cho
giai cấp phong kiến và giáo sĩ chống lại mạnh mẽ.
Cũng trong nửa đầu thế kỷ XVI, phong trào cải cách tơn giáo đã phát triển
ra các quốc gia khác bên ngồi nước Đức, như ở Áo, ở các nước Bắc Âu, Ba
Lan, Hungari… Cũng trong thời gian này, tại Thụy Sỹ và sau đó là Hà Lan, Anh
đã xuất hiện những trung tâm mới của phong trào cải cách tại Thụy Sỹ. Phong
trào này tập trung ở Duyrich và Giơnevơ. Ở thành phố Duyrich xuất hiện Ubric
Zwingli (1484-1531) đã lãnh đạo vùng Đơng bắc Thụy Sỹ tiến hành cải cách
Ubric Zwingli chịu ảnh hưởng rất lớn của chủ nghĩa nhân văn, rất ủng hộ đối với
tư tưởng của một số người như: Wicliffe và Huss… Tháng 1 năm 1523 đã đề ra
“67 điều luận cương” nhấn mạnh quyền uy tối cao của Kinh thánh, chủ trương
cứu vớt chỉ cần dựa vào niềm tin, mở cửa trường học, đơn giản hố nghi thức
truyền bá… Năm 1517 ơng phản ứng mạnh mẽ việc chuộc tội nhờ hành hương
đến thánh Phi-e-zơ và Phao lơ, ơng phủ nhận tồ thánh La mã, phủ nhận tầng
lớp trung gian giữa chúa trời và con chiên của linh mục, ơng nói: “Duy chỉ có
một mình chúa Jesus là xứng đáng cho ta tơn vinh, thờ kính, ấy vậy mà phẩm
trật La mã chủ trương rằng mình là trọng tài giữa Đấng Christ với dân ngài và có
quyền rao giảng cho giáo thuyết” [12.107]. Ơng khơng chấp nhận lễ phong chức
và lễ rửa tội, chống chế độ độc thân của Giáo sĩ, sự cai trị độc đốn, hà khắc của
Giáo hội mà cũng chủ trương thành lập Giáo hội rẻ tiền, đẳng cấp phức tạp,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
khơng có tu viện, khơng chiếm nhiều tài sản của tín đồ, khơng có những lễ nghi
phơ trương lãng phí. Như vậy, tư tưởng của Ubric Zwingli tiến bộ và triệt để
hơn tư tưởng của Luther. Ơng bác bỏ hai lẽ mà Luther vẫn còn giữ lại là lễ rửa
tội và lễ tiệc thánh, vì vậy ơng phản đối quan điểm cho rằng: “Ăn bánh mì uống
rượu nho sẽ biến thành máu thịt của Chúa”. Sau khi Ubric Zwingli qua đời,
Giơlevơ trở thành trung tâm mới của phong trào cải cách tơn giáo ở Thụy Sỹ.
Giơlevơ gắn liền với tên tuổi của Jean Calvin (1509-1564), ơng theo học thần
học ở Pháp năm 1528, do ủng hộ của phong trào cải cách của Luther ơng bị trục
xuất khỏi Pháp sang sống ở Thụy Sĩ. Tư tưởng chính của Calvinlà thuyết về “sự
tiền định tuyệt đối”. Khác với Kuther, ơng cho rằng số phận của con người là do
chúa trời quyết định, số phận đó khơng tuỳ thuộc vào mỗi người, mọi cố gắng
của mỗi người hay sự giúp đỡ của Giáo hội cũng khơng thể thay thế được. Để
được sự cứu vớt “người theo đạo khơng thể dùng những hành động bề ngồi mà
phải có một đức tin, phải tận tuỵ khơng phải vì việc đạo mà vì việc đời” [18/58].
Sở dĩ như vậy là vì, khi sáng tạo ra thế giới chúa trời đã chia lồi người ra thành
2 loại: “Dân cứu vớt và dân chọn lọc”. “Dân cứu vớt” phải chịu khổ cực và bị
đầy ải ở hoả ngục. Chúa chọn ai, vớt ai con người khơng thể biết được nhưng
mỗi người có thể nhìn vào hồn cảnh của mình để biết mình thuộc loại nào. Còn
“Dân chọn lọc” được sống sung sướng, khi chết được lên thiên đàng. Như vậy,
về một tơn giáo thì thuyết “tiền định tuyệt đối” của Calvin đã phủ nhận vai trò
của tầng lớp giáo sĩ và tác dụng của các nghi lễ bái phiền phức của đạo Thiên
chúa giáo. Về mặt xã hội học, thuyết đó đã che đậy được bản chất bóc lột, lừa
lọc của kẻ giàu có, che giấu ngun nhân thực sự của sự nghèo khổ, đồng thời
nó cũng là động lực thơi thúc con người tập trung tinh thần nghị lực nhằm đạt
lấy cuộc sống giàu sang. Ơng chủ trương đơn giản hố các nghi thức tơn giáo,
giảm bớt các ngày lễ, các trò tiêu khiển nhằm tiết kiệm thời gian và tiền của.
Như vậy, quan điểm của ơng rất phù hợp với giai cấp tư sản trong q trình tích
lũy tư bản. Chính vì vậy, Ph.Ăngghen nói: “Cải cách của Calvin đã đáp ứng nhu
cầu của giai cấp tư sản tiên tiến hồi đó” [24.161.163]. Ơng chủ trương tổ chức
Giáo hội theo ngun tắc dân chủ, khơng lệ thuộc vào Giáo hồng như Giáo hội
cơng giáo, cũng khơng lệ thuộc vào vương cơng như Giáo hội Luther.
Ph.Ăngghen cho rằng: “Chế độ giáo hội học thuyết của Calvin đã chống lại giáo
hội Roma và chống lại sự đòi hỏi trong cuộc cải cách của quần chúng nhân dân.
Qua quan điểm của Calvin tỏ ra đáp ứng được u cầu của giai cấp tư sản đang
lên. Nhận định về ý nghĩa và tính chất của Calvin, Ph.Ăngghen nhận xét:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
“Calvin đã để lên hàng đầu tính chất tư sản của cuộc cải cách và làm cho nhà thờ
có một vẻ mặt cộng hồ và dân chủ” [25.650].
Bên cạnh cuộc cải cách ở Thụy Sĩ thì ở Anh phong trào cải cách cũng
đang được phát triển. Cuộc cải cách bắt đầu Anh tun bố xố bỏ giáo quyền
Roma đối với giáo hội Anh, ban hành luật “Quyền tối thượng” đưa vua Herry
VIII lên đứng đầu giáo hội Anh, có quyền bính như Giáo hồng thâu tóm cả thế
quyền và thần quyền. Sau đó vua Herry VIII cho đóng tất cả nhà thờ và tất cả tài
sản cho chung vào quỹ nhà vua. Sau khi vủa Herry VIII qua đời, nữ hồng Mary
lên ngơi, đưa giáo hội Anh trở lại đầu phụ Giáo hồng Anh và Giáo hội Roma.
Từ năm 1547 đến 1603, dưới thời trị vì của Elizabeth và Edward, phong trào cải
cách tơn giáo ở Anh mới có điều kiện phát triển. Cuộc cải cách tơn giáo ở Anh
về giáo thuyết chủ yếu dựa vào quan điểm thần học của Calvin, còn về cách thức
hành đạo theo nghi lễ Cơng giáo và tổ chức Anh giáo thành lập giáo hội riềng,
duy trì cơ cấu tổ chức và hàng giáo phẩm theo đạo Cơng giáo.
Phong trào cải cách tơn giáo lan rộng sang nhiều quốc gia khác như:
Pháp, Đan Mạch, Nauy, Scotland, Tiệp Khắc, Ba Lan… Đến cuối thế kỷ thứ
XVI ở Châu Âu đã xuất hiện một tơn giáo mới gọi là đạo Tin lành, đạo này được
tách ra từ đạo Cơng giáo.
1.2. Những đặc điểm chung của đạo Tin lành:
Đạo Tin lành được tách ra đạo Cơng giáo “cuối thế kỷ XVI” vì vậy giữa
hai tơn giáo này có những điểm tương đồng và tách biệt.
Thứ nhất: Đạo Cơng giáo cho rằng bất kỳ tín đồ nào cũng được cứu vớt
thơng qua khâu trung gian là Giáo hội. Giáo hội và các chức sắc là những người
thay mặt Chúa, đại diện cho Ch ở dưới trần gian thực hiện quyền thiêng liêng
trong việc phán xét mọi việc… Với đạo Tin lành thì chủ trương về vị cứu vớt có
điểm khác. Theo giáo hội Luther, con người chỉ được cứu chuộc nhờ đức tin và
tình thương của Chúa. Mỗi tín đồ tự tìm cho mình một con đường đi đến với
Chúa, giáo sỹ, các chức sắc chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, chỉ đường cho
q trình đó mà thơi.
Thứ hai: Đối với đạo Cơng giáo coi nền tảng đức tin là kinh thánh và tồn
bộ các sắc chỉ, sắc lệnh của Giáo hồng và Cơng đồng. Với đạo Tin lành chỉ
cơng nhận kinh thánh là nền tảng duy nhât của đức tin. Trong kinh thánh gồm
kinh Cựu ước và kinh Tân ước; riêng kinh Cựu ước chỉ cơng nhận 39 cuốn trong
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
số 46 cuốn. Đạo Tin lành cho rằng mỗi tín đồ đều tự đọc và hiểu theo cách riêng
của mình.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Thứ ba: Về các bí tích thì đạo Cơng giáo cơng nhận bảy bí tích:
1. Bí tích Thánh tẩy (rửa tội). Dùng nước Thánh để rửa sạch tội tổ tơng
truyền để trở thành Kitơ hữu.
2. Bi tích Thêm sức.
3. Bi tích Giải tội. Cần cho những người cần sám hối tội lỗi hoặc quyết
tâm sửa chữa tội lỗi của mình.
4. Bí tích Thánh thể (lễ Misa). Đây là bí tích quan trọng nhất trong các bí
tích. Linh mục ban bánh, rượu đã được thánh hố.
5. Bi tích Xức dầu thánh.
6. Bi tích Truyền chức thánh.
7. Bi tích Hơn phối.
Đối với đạo Tin lành, giáo hội Luther chỉ cơng nhận có hai bi tích đó là bi
tích Rửa tội và bi tích Thánh thể (hay là lễ tiệc thánh). Jean Calvin lại chỉ cơng
nhận có một bi tích, đó là bi tích Rửa tội. Quan điểm của ơng cho rằng phép
thánh thể cũng được cử hành như họ, đó chỉ là kỷ niệm về cái chết, vì sự cứu
chuộc của Thiên chúa cho con người mà thơi. Về bà Maria, ơng cho rằng: Bà
khơng phải là mẹ của Thiên chúa và chỉ đồng trinh khi sinh Thiên chúa. Thậm
chí một số giáo phái còn cho rằng, sau khi sinh chúa Jesus bà còn sinh cho ơng
Juise một số người con khác một cách bình thường. Đạo Tin lành tin có thiên sứ,
các thánh tơng đồ, thánh tử đạo và các thánh khác nhưng khơng sùng bái và thờ
lại. Đạo Tin lành khơng thờ tranh ảnh, hình tượng và các di vật, thậm chí các
bức tranh phù điêu trang trí trên tường cũng bị gạt bỏ, khơng tơn sùng và thực
hiện hành hương đến các thánh địa, bỏ cả Gie-ru-xa-lem núi Xi-nai.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CHƯƠNG II: Q TRÌNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH
TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC H’MƠNG Ở MIỀN NÚI PHÍA BẮC NƯỚC TA
2.1. Q trình phát triển đạo Tin lành ở một số tỉnh miền núi phía Bắc
nước ta.
Cho đến nay mọi hiện tượng tơn giáo được truyền vào đồng bào dân tộc
thiểu số ở một số tỉnh miền núi phía Bắc nước ta là đạo Tin lành hay đạo Vàng
chứ có nhiều ý kiến khác nhau.
Khi đạo Tin lành mới vào vùng đồng bào dân tộc H’mơng thì tơn giáo này
được gọi với tên “Vàng chứ”, vì nó gắn bó mật thiết với tín ngưỡng truyền thống
của đồng bào. Nhưng càng về sau thì nội dung của Tin lành càng biểu hiện rõ rệt
về đối tượng tơn thờ, kinh thánh, nghi lễ của đạo Tin lành… Điều đó có nghĩa
là, về bản chất “Vàng chứ” chính là Tin lành. Vì vậy, trong niên luận này chúng
tơi mạnh dạn gọi là đạo Tin lành, đúng như quan điểm của Đảng ta về vấn đề
này trong kế hoạch 184B (1999), thơng báo 255/TW (1999) tổng kết nghị quyết
24 số 01BC/BCD của Bộ Chính trị về sự phân chia các giai đoạn phát triển của
đạo Tin lành trong đồng bào H’mơng ở một số tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay
vẫn còn có những quan điểm khác nhau. Chúng tơi nhất trí với quan điểm chia
q trình phát triển của đạo Tin lành làm ba giai đoạn chủ yếu sau:
a) Giai đoạn thứ nhất (từ 1986 đến 1987):
Đây là thời kỳ sâm nhập của đạo Vàng chứ vào đồng bào H’mơng.
Năm 1987, đạo Vàng chứ bắt đầu sâm nhập vào huyện Sơng Mã - tỉnh
Sơn La. Q trình sâm nhập đạo Vàng chứ ở đây bắt đầu từ hoạt động của Thào
Bả Hụ. Năm 1986, gia đình Hụ có con ốm chữa mãi khơng khỏi, sau khi nghe
đài Manila (hay đài FEBC, phát từ Philipin) và lời tun truyền của những
người đi bn từ n Bái đến, lên Hụ đã cùng hai người H’mơng ở đây sang
nhà thờ Trạm Tấu (n Bái), gặp Sùng Bla Giống để học “Cách cúng mới”.
Giống đã dậy họ hát thánh ca, đọc kinh thánh bằng chữ H’mơng Latinh, các nghi
lễ hành đạo và cung cấp một số tranh ảnh chúa Jesus… Sau khi trở về 15 ngày,
Hụ bỏ bàn thờ tổ tiên, treo ảnh chúa và đọc kinh theo hướng dẫn của nhà thờ.
Tháng 5/1986, Hụ đã vận động trưởng bản đồng ý cho truyền đạo trong dân bản
và đã có 8/17 hộ trong bản tin theo, cuối 1986 lên đến 16/17 hộ và bắt đầu lan ra
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
các bản H’mơng trong tồn xã. Từ Sơn La, đạo Vàng chứ phát triển sang các xã
của huyện Điện Biên – Lai Châu. Ở các xã này có 183 hộ theo Vàng chứ. Những
kẻ cầm đầu đến truyền đạo là Hạng Chù Bá và Hạng A Dy ở xã Phì Nhừ. Chúng
lợi dụng trình độ dân trí thấp, phong tục tập qn lạc hậu, đời sống kinh tế khó
khăn của đồng bào để tun truyền lừa bịp, ép buộc nhân dân tin theo Vàng chứ.
Q trình phát triển đạo Tin lành ở Hà Giang bắt đầu tư hoạt động của
một số phần tử cầm đầu ở địa phương. Chúng đã tụ tập một bộ phận quần chúng
nhân dân nghe đài Manila phát bằng tiếng H’mơng để kích động đồng bào theo
đạo, đồng thời những tên cầm đầu như Ma Seo Chảo, Tráng A Vàng, Ma Seo
Bảy, Giàng A, chúng đã trực tiếp đến nhà thờ xứ Tun Quang, n Bái, Lào
Cai và tổng hội thánh Tin lành miền bắc để học hỏi về cách thức truyền đạo.
Q trình truyền đạo ở giai đoạn này nổi lên một số đặc điểm sau:
- Lực lượng truyền đạo lợi dụng sự hạn chế về nhận thức, sự mê tín của
đồng bào để truyền đạo. Họ bịa đặt ra những câu chuyện hoang đường, thơng
qua truyền miệng gây tâm lý hoang mang, lo sợ đồng bào để tập hợp quần chúng
phát triển tín đồ. Nội dung truyền đạo ở giai đoạn này xung quanh nguồn tin:
Đến năm 2000 trái đất sẽ nổ tung, trời sẽ sập và mọi người sẽ chết. Lúc đó nếu
ai theo Vàng chứ thì sẽ được cứu sống. Chúng còn nói: Khi nào vua sắp ra tất cả
khơng ai được ra khỏi nhà, phải chuẩn bị mang quần áo trắng ra đón vua. Lúc đó
trời sẽ tối ba ngày ba đêm, sau đó xuất hiện bảy con rồng phun nước xuống khu
vực huyện Xì Hồ. Đó là lúc Vàng chứ đón người H’mơng lên trời. Chúng tung
tin để hú doạ, năm 2000 sẽ có nạn hồng thuỷ, ai theo đạo sẽ được Chúa cứu vớt.
Nội dung như vậy thật sự là hoang đường, mê tín, xong do đồng bào H’mơng
vốn dân trí thấp, nhiều phong tục lạc hậu, nặng đầu óc, mê tín và đời sống có
nhiều khó khăn nên họ đã tin theo.
- Việc truyền đạo chủ yếu thơng qua phương thức truyền miệng, vừa bí
mật, vừa cơng khai, truyền đạo thơng qua đài FEBC. Những người truyền đạo
Tin lành ở giai đoạn này vừa bí mật cho bà con, giữ kín đối với cán bộ, nhất là
cán bộ xã, huyện. Chúng truyền đạo cơng khai thường vào ban đêm, từ 9 giờ đến
1-2 giờ sáng.
Thủ đoạn truyền đạo là: Một số người cầm đầu tổ chức nghe chương trình
phát thanh của đài FEBC rồi ghi âm, sau đó đi tới các bản mở cho nhiều người
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nghe, kết hợp với truyền miệng, tung tin lừa bịp đe doạ làm cho nhân dân nửa
nghi, nửa ngờ nên nên nhiều người do sợ nghe theo.
b) Giai đoạn thứ hai (Từ 1988 đến 1991):
Đặc điểm chính của giai đoạn này là sự phát triển của đạo Tin lành lan
rộng ra ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng thời xảy ra tình trạng đồng
bào khủng hoảng niềm tin và tìm đến nhà thờ Cơng giáo.
Năm 1988, đạo Vàng chứ tiếp tục được truyền vào hai xã Ẳng Tơ và
Mường Thín của huyện Tuần Giáo – Lai Châu. Tiếp đó năm 1989, đạo này phát
triển rất nhanh, cùng một lúc vào 3 huyện Sìn Hồ, Mường Tè và Phong Thổ. Chỉ
trong vòng 3 tuần lễ của tháng 10/1989, ở huyện Sìn Hồ đã có 11 xã với 29 bản
và 533 hộ theo Vàng chứ. Đến 1990, đạo Vàng chứ phát triển sang huyện
Mường Lay. Chỉ sau vài năm truyền đạo, đến cuối 1990, tồn tỉnh Lai Châu có
1.159 hộ ở 75 bản của 332 xã thuộc 6/7 huyện theo Vàng chứ. Đến 1991-1992
đạo Tin lành ở Lai Châu có chiều hướng suy giảm. Đến thời điểm này chỉ có 3
huyện, 3 xã, 5 bản, 143 hộ theo Vàng chứ.
Trong giai đoạn này ở Lào Cai nổi lên sự việc cúng đón Vàng chứ trong
đồng bào dân tộc H’mơng. Đầu tiên hiện tượng này diễn ra ở 3 huyện là Bảo
n, Bắc Hà, Bảo Thắng sau đó phát triển ra các huyện Văn Bàn, Sa Pa, Bát Sát
và Than Un. Theo báo cáo của Ban Tun giáo vào dân tộc tỉnh Lào Cai, đến
tháng 6/1998 có 14.034 người H’mơng và 165 người Dao theo Tin lành.
Lúc đầu người H’mơng được nghe tun truyền Vàng chứ qua đài FEBC
và sau đó được một số người H’mơng từ Hà Giang đến tun truyền, trong số đó
có Sùng Seo Pao. Pao đã đến chơi nhà anh dể là Giàng Seo Câu (Bảo n – Lào
Cai). Tại đây Pao đã tun truyền về Vàng chứ và tập hợp được một số đối
tượng khác như Hồng Tếch Giáo, Lù Seo Giống, Lù Seo Châu… đê tun
truyền Vàng chứ sang các vùng xung quanh. Chỉ trong một thời gian ngắn đã có
gần 2.000 hộ, khoảng 6.000 người H’mơng đăng ký theo Vàng chứ [9].
Từ năm 1991, do có sự hướng dẫn và giúp đỡ của Cơng giáo, các đối
tượng đi truyền đạo đã cơng khai tun truyền lơi kéo người H’mơng đi theo
“Con đường mới” (thực chất là Cơng giáo). Vì vậy, những người H’mơng trước
đây theo Vàng chứ nay chuyển sang đạo Cơng giáo.
Sự phát triển của tơn giáo H’mơng trong giai đoạn này ngày một gia tăng
và có tính chất đột biến. Trong thơn bản lan truyền dư luận “Vua H’mơng sắp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
về, người H’mơng có vua Vàng chứ – có vương chủ, vua về người H’mơng sẽ
có đất ở riêng…”. Lúc này đạo Tin lành phát triển nhanh là do hoạt động tun
truyền kích động mạnh mẽ của lực lượng truyền đạo thơng qua đài FEBC và
tun truyền miệng, đồng thời do sự tác động của những thiên tai xảy ra trong
vùng đồng bào. Những “Thừa tác viên” truyền đạo tích cực phải kể đến Thào Bả
Hụ, Hờ A Phềnh (huyện Sơng Mã); Hạng A Dua, Vàng A Pả (Mường La);
Giàng A Thào, Vàng A Dâu (Quỳnh Nhai)… Đến cuối 1991 có 167 hộ với gần
khoảng 2.000 người H’mơng theo đạo, 12 xã, 5 huyện trong tỉnh [8.4].
Những năm 1989-1990, hoạt động truyền đạo tin lành trái phép đã xuất
hiện ở các huyện Bắc Quang, Xín Mần, Bắc Mê (Hà Giang). Đến cuối 1991 đạo
Tin lành đã lan rộng ra nhiều xã của các huyện Bắc Quang, Hồng Su Phì, Xín
Mần.
Cũng như ở một số tỉnh khác đạo Tin lành xuất hiện ở n Bái vào cuối
1989, đầu những năm 1990 do sự du nhập đạo từ tỉnh Lào Cai. Sự du nhập đó
gắn liền với q trình di dịch di dân của người H’mơng theo đạo Tin lành ở
huyện Bảo n – Lào Cai đến xã Lang Thít và Châu Quế thuộc huyện Văn n
– n Bái. Khi mới đến Văn n họ khai báo là theo đạo Cơng giáo, nhưng đến
năm 1992 họ làm đơn xin theo đạo Tin lành và cử đại diện xuống hội thánh Tin
lành miền Bắc xin kinh sách, băng ghi âm và học đạo.
Đặc điểm chủ yếu của giai đoạn này:
- Việc truyền đạo Vàng chứ gắn với các hiện tượng thiên tai xảy ra vào
thời điểm này cùng với truyền thống “Vua ra”, “đón vua” của người H’mơng.
Năm 1990, ở thị xã Lai Châu và huyện Mường Lay đã xảy ra một trận lũ lớn
năm 1991 tại thị xã Sơn La, huyện Mai Sơn, Mường La, Sơng Mã (Sơn La) đã
xảy ra trận lũ qt lịch sử, đã để lại hậu quả hết sức nghiêm trọng. Lợi dụng
những thiên tai này lực lượng truyền đạo Vàng chứ tun truyền: nếu ai khơng
tin theo đạo này sẽ bị nước cuốn trơi, bị hổ ăn thịt như mọi người đã từng chứng
kiến.
“Xưng vua”, “vua ra” là hiện tượng vừa mang tính thế tục, lại vừa mang
tính tơn giáo diễn ra trong xã hội truyền thống của người H’mơng. Việc truyền
đạo Vàng chứ ở giai đoạn này giống như các vụ Xưng vua, đón vua ở vùng cao
trước đây bởi tính chất mê tín, lạc hậu của nó, song có điểm khác nhau là hiện
tượng mê tín đã bắt đầu được gắn với tơn giáo.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Hoạt động truyền đạo Vàng chứ từ chỗ lén lút, vừa bí mật, vừa cơng
khai, gắn với mê tín thì nay chuyển sang cơng khai viết đơn, đi gặp các cấp
chính quyền xin theo đạo Thiên chúa và đạo Tin lành. Sự chuyển hướng này có
liên quan đến việc đã có nhiều người chuẩn bị các hoạt động chờ đón Vàng chứ,
song thực tế đã lâu khơng thấy xảy ra. Do đó, một số người chủ động tìm đến
các nhà thờ ở Tân Châu (Bắc Quang), n Bái, Sơn Tây để hỏi về chúa Giê su,
về đạo Kitơ, nghĩa là họ xin theo đạo và muốn học đạo này.
Với quan niệm về đạo Cơng giáo thơng qua học hỏi và ít nhiều có sự tìm
hiểu về chính sách tơn giáo của Đảng và Nhà nước ta, người dân đã viết đơn,
đến gặp chính quyền xin theo đạo Cơng giáo, đa số các nhà thờ Cơng giáo chưa
chủ động đón nhận.
Tuy hình thức chuyển sang Cơng giáo, song ở giai đoạn này, thực chất từ
tư tưởng đến cách làm của những người theo đạo vẫn chủ yếu là tin theo Vàng
chứ được phát trên đài FEBC.
c) Giai đoạn thứ ba (từ 1993 đến nay):
Đạo tin lành tiếp tục phát triển trong đồng bào H’mơng.
Từ năm 1993 đến nay, đạo Tin lành tiếp tục phát triển đột biến trong đồng
bào H’mơng tỉnh Lào Cai nhờ vào hoạt động tích cực của lực lượng truyền giáo
và sự giúp đỡ trực tiếp của Hội thánh Tin lành miền Bắc. Theo báo cáo của tỉnh,
đến cuối năm 1993 đã có 1.746 hộ với hơn 11.0000 người H’mơng đăng ký theo
đạo Tin lành [9]. Đến tháng 8/1999, trong tồn tỉnh số người bị tun truyền lơi
kéo theo đạo Tin lành là 2.234 hộ với 13.229 nhân khẩu.
Ở Sơn La, cuối năm 1991 đầu năm 1992, theo chỉ dẫn của đài FEBC,
Thào Bả Hụ và Vàng Seo Lau đã xuống Hội thánh Tin lành miền Bắc và được
mục sư Bùi Hồnh Thử đón tiếp, cung cấp cho nhiều mẫu đơn xin gia nhập đạo
Tin lành, cùng một số tài liệu, băng cát-xét tun truyền đạo. Sau khi trở về, họ
cùng với những phần tử tích cực khác đã vận động đồng bào trước đây ngộ nhận
theo đạo Cơng giáo chuyển sang theo đạo Tin lành. Tháng 3/1993, 10 nhân vật
người H’mơng khác lại về số 2 – Ngõ Trạm – Hà Nội để học đạo. Tháng 2/1995,
một nhóm 7 người do Vàng A Vư (trưởng đạo ở Mường La) cầm đầu đi xuống
Hà Nội để học đạo. Thảo Bả Hụ đã trở về các huyện Sơng Mã, Mai Sơn, Thuận
Châu và Mường La tun truyền phát triển đạo. Tại số 2 – Ngõ Trạm, các “phần
tử truyền đạo” đã được mục sư Bùi Hồnh Thử, giảng sư Âu Quang Vinh trực
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét