LỜI NÓI ĐẦU
Bước vào kỷ nguyên mới, thế giới hội nhập nền kinh tế quốc tế, nước ta
cũng không ngoài vòng qui luật đó. Việt Nam đã đặt quan hệ với trên 170 nước
trên toàn thế giới, ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam- Hoa Kỳ,
hội nhập thương mại AFTA khu vực Đông Nam Á và tiến tới hội nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO. Từ đó Đảng và Nhà nước đã có sự chỉ đạo sát sao để
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sự chủ động hội nhập nền
kinh tế khu vực và thế giới với các hình thức đa phương, song phương, khu vực,
hợp tác liên doanh như thế nào cho có lợi khi làm ăn hợp tác với các doanh
nghiệp nước ngoài.
Trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo ra những cơ hội
lớn về lực lượng môi trường toàn cầu, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ,
tự do hoá thương mại, dịch chuyển dòng đầu tư và thương mại toàn thế giới
cũng như ở châu Á . Song nó cũng tạo ra những thách thức to lớn đối với các
doanh nghiệp và các nhà quản lý. Chấp nhận nền kinh tế hội nhập, là chấp nhận
cạnh tranh ngay trên “sân nhà”. Do vậy, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ dẫn tới
những thời cơ, thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm gì để nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình.
Đối với ngành Giao thông Vận tải trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, đòi
hỏi xây dựng cơ sở hạ tầng cực kỳ lớn. Vì vậy ngành đã phát triển nhanh, có
những Tổng công ty Xây dựng, Hàng hải, Hàng không mạnh có vốn lớn, bề
dày kinh nghiệm, đáp ứng nhu cầu phát triển trong nước và vươn ra thị trường
nước ngoài làm ăn có hiệu quả, chắc chắn sẽ vững bước trên con đường hội
nhập kinh tế quốc tế. Song đối với hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng chưa
đầy đủ, quy mô nhỏ, vốn ít, bề dày kinh nghiệm còn mỏng. Quả là vấn đề đáng
quan tâm khi phải đối mặt với các tập đoàn nước ngoài.
5
Tổng công ty Xây dựng Thăng Long là một doanh nghiệp trực thuộc Bộ
Giao thông Vận tải được thành lập năm 1973. Đây là doanh nghiệp xây dựng
cầu đường lớn nhất Việt Nam. Cũng như nhiều doanh nghiệp Nhà nước khác,
trong bối cảnh thị trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay, Tổng công ty Xây
dựng Thăng Long đã đặc biệt chú trọng đến việc đầu tư nâng cao năng lực cạnh
tranh của mình. Song đây không phải là một việc làm đơn giản chút nào. Nhận
thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Xây dựng Thăng
Long làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Đề tài này tập trung đánh giá tình hình đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh
của Tổng công ty Xây dựng Thăng Long trong thời gian qua từ đó thấy được
những ưu điểm và nhược điểm để đưa ra những phương hướng và giải pháp
thực hiện trong thời gian tới.
Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về đầu tư và cạnh tranh.
Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh và tình hình đầu tư nâng
cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Xây dựng Thăng Long.
Chương III: Một số giải pháp về đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của Tổng công ty Xây dựng Thăng Long.
Lời cuối, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo
Phạm Thị Thêu cũng như các cô, các chú phòng Kế hoạch- Đầu tư , Tổng công
ty Xây dựng Thăng Long đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn !
6
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ CẠNH TRANH
I/ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP
1.ĐẦU TƯ
1.1. Khái niệm đầu tư
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất
định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài
sản vật chất ( nhà máy, đướng sá, các của cải vật chất khác ) và nguồn nhân lực
có đủ điêu kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền kinh tế xã hội.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn
hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó.
1.2. Đặc điểm của hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư phát triển có sự khác biệt với các loại hình đầu tư khác,
thể hiện ở những đặc điểm sau:
ρ Hoạt động đầu tư phát triển thường đòi hỏi một khối lượng vốn lớn, vốn
này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả
khá lớn của đầu tư phát triển
ρ Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của
nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra.
ρ Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở
vật chất phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó
7
không thể tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố
không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế
ρ Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm trí tồn tại vĩnh viễn như
các công trình kiến trúc nổi tiếng trên thế giới (Kim Tự Tháp cổ Ai Cập, Nhà
thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc…). Điều này nói lên
giá trị lớn của các thành quả đầu tư phát triển.
ρ Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về địa lý, địa
hình, địa chất tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như
tác dụng sau này của các kết quả đầu tư. Việc xây dựng các nhà máy ở nơi có
địa chất không ổn định sẽ không đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động sau
này, thậm chí ngay cả trong quá trình xây dựng công trình.
ρ Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều
của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian.
ρ Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao
đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc
soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư
theo dự án được soạn thảo với chất lượng tốt.
2. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP
2.1. Khái niệm
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động chi dùng vốn cùng với
các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm
tài sản của doanh nghiệp, tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của các thành
viên trong đơn vị.
2.2.Vai trò của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để
tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ doanh nghiệp nào đều
8
cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy
móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi
phí gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất -kỹ thuật
vừa được tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư.
Đối với các cơ sở sản xuất - kinh doanh - dịch vụ đang tồn tại, sau một thời
gian hoạt động, các cơ sở vật chất - kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư
hỏng. Để duy trì được sự hoạt động bình thờng cần định kỳ tiến hành sửa chữa
lớn hoặc thay thế mới các cơ sở vật chất -kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn hoặc đổi
mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học -kỹ
thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội; mua sắm các trang thiết bị
mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư.
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp cũng tạo điều kiện nâng cao chất lượng
sản phẩm, tiết kiệm tăng năng lực cạnh tranh và là cơ sở để hạ giá thành, tăng
lợi nhuận cho doanh nghiệp.
2.3. Vốn và nguồn vốn trong doanh nghiệp.
a.Khái niệm
Theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng ta có khái niệm vốn đầu tư như
sau: Vốn đầu tư của doanh nghiệp là sô tiền mà doanh nghiệp tích luỹ được để
đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo
ra tiềm lực mới cho doanh nghiệp.
Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận chủ yếu là: Vốn chủ sở
hữu và vốn vay:
• Nguồn vốn chủ sở hữu: Đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu sau:
+ Vốn góp ban đầu: Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh
nghiệp cũng phải có một số vốn ban đầu nhất định do các cổ đông - chủ sở hữu
góp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của
Nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nước chính là Nhà nước.
9
+ Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không
chia là bộ phận lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tái đầu tư từ lợi nhuận để lại chỉ có thể
thực hiện được nếu như doanh nghiệp đã và đang hoạt động và có lợi nhuận,
được phép tiếp tục đầu tư.
+ Phát hành cổ phiếu: Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp
có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành cổ phiếu mới. Đây được xem là
nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng đối với các doanh nghiệp.
• Nguồn vốn vay: Có thể nói rằng đây là một trong những nguồn vốn quan
trọng nhất không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà
còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Không một doanh nghiệp nào không
đi vay vốn nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường.
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay vốn để đảm bảo nguồn
tài chính cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn
cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. Có thể thực
hiện phương thức vay vốn dưới các hình thức sau:
- Tín dụng ngân hàng
- Tín dụng thương mại
- Phát hành trái phiếu công ty
b .Nội dung vốn đầu tư trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp vốn đầu tư được chia thành các khoản mục sau:
- Chi phí để tạo ra tài sản cố định gồm: Chi phí ban đầu về đất đai, các
khoản chi phí cho quá trình xây dựng, sửa chữa, cải tạo các kết cấu hạ tầng, các
khoản chi phí cho quá trình mua sắm và lắp đặt máy móc thiết bị, chi phí để
mua sắm các phương tiện vận tải và các khoản chi phí khác.
- Chi phí để tạo ra tài sản lưu động gồm: Chi phí nằm trong giai đoạn sản
xuất như chi phí mua nguyên vật liệu, trả lương người lao động, chi phí về điện
nước, nhiên liệu và chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông.
10
- Chi phí chuẩn bị đầu tư gồm: Chi phí cho việc nghiên cứu và phát hiện các
cơ hội đầu tư, chi phí cho việc nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và chi
phí thẩm định dự án
- Chi phí dự phòng
2.4. Nội dung đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
2.4.1. Đầu tư xây dựng cơ bản.
Đây là hoạt động rất quan trọng hay nói cách khác, để tiến hành được các
hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp bắt buộc phải bỏ một lượng vốn
để đầu tư xây dựng cơ bản, không chỉ doanh nghiệp mà bất cứ tổ chức nào
muốn tồn tại và hoạt động phải đầu tư xây dựng cơ bản, lượng vốn này thường
chiếm một tỷ trọng khá lớn. Để đánh giá hết nội dung của đầu tư xây dựng cơ
bản ta xét trên 2 góc độ:
+ Thứ nhất là đầu tư xây dựng hệ thống nhà xưởng, công trình.
Đối với một doanh nghiệp mà nói thì đây là yếu tố căn bản ban đầu để có thể
tiến hành sản xuất kinh doanh.
Trước hết ta xét đối với doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực công nghiệp: Để
tiến hành sản xuất ra sản phẩm thì bắt buộc phải có nơi, địa điểm, (nhà xưởng) để
chứa các dụng cụ hàng hoá, máy móc thiết bị, để giao dịch ( cơ quan, trụ sở).
Đối với doanh nghiệp Xây dựng thì đây vừa là công việc vừa là sản phẩm của
họ, khi hoàn thành công trình thì đó là tài sản của họ và họ sẽ chuyển giao, bán
lại cho người khác.
Tóm lại đầu tư xây dựng nhà xưởng, trụ sở, cơ quan là đầu tư bắt buộc ban
đầu, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải bỏ một khoản vốn để tiến hành xây
dựng cơ sở vật chất ban đầu. Hơn nữa khi mở rộng sản xuất kinh doanh thì đầu
tư thêm vào xây dựng cơ bản là điều hiển nhiên.
11
Ví dụ: Việc công ty dầu khí Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất phân đạm
Phú Mỹ, thì nhà máy đó là TSCĐ của công ty dầu khí, và vốn ban đầu bỏ ra xây
dựng nhà máy là vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
+ Thứ hai là việc đầu tư vào máy móc thiết bị.
Có nhà xưởng rồi, muốn sản xuất ra sản phẩm thì phải mua sắm máy móc thiết
bị hay nói cách khác doanh nghiệp muốn mở rộng thêm sản xuất kinh doanh cũng
cần mua thêm máy móc thiết bị, sau một thời gian sử dụng máy móc thiết bị cũ
hỏng, khấu hao hết, máy móc bị hao mòn hữu hình thì đều phải tiến hành bỏ chi
phí để sửa chữa mua sắm mới. Tất cả những nội dung đó đều được hiểu là đầu tư
vào máy móc thiết bị. Như vậy ở bất cứ giai đoạn nào doanh nghiệp cũng cần
hình thành một khoản quỹ để chi dùng cho việc sửa chữa, mua sắm, thay đổi máy
móc thiết bị. Khoản quỹ này có thể là quỹ khấu hao hay quỹ dự phòng.
Các doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực khác nhau thì sử dụng các loại
máy móc thiết bị khác nhau nhưng dù hoạt động trên bất kỳ lĩnh vực sản xuất
nào thì đầu vào máy móc thiết bị là điều kiện cơ bản của sản xuất ( cũng có thể
hiểu máy móc ở đây là các phương tiện giao thông). Giá trị máy móc thiết bị sẽ
được chuyển dần vào sản phẩm và doanh nghiệp phải trích một phần lợi nhuận
bù đắp phần thiếu hụt đó.
2.4.2. Đầu tư phát triển khoa học công nghệ.
Trong nền kinh tế toàn cầu hoá diễn ra ngày càng sâu sắc và khoa học công
nghệ phát triển như vũ bão, tiến bộ khoa học công nghệ trở thành yếu tố quan
trọng nhất trong tất cả các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp nói chung và DNNN nói riêng.
Theo đánh giá của Bộ Khoa học- Công nghệ và Môi trường, trình độ công
nghệ của Việt Nam lạc hậu so với thế giới khoảng 20 năm, hiệu suất sử dụng
khoảng 25-30% và mức độ hao mòn hữu hình từ 30-50%. Tất cả những kết quả
trên đều lý giải vị sao năng suất lao động bình quân của ta thấp, mức tiêu hao
12
cho một đơn vị sản phẩm cao ( cao hơn so với mức trung bình của thế giới là 1,5
lần), chất lượng sản phẩm thiếu ổn định và mẫu mã sản phẩm đơn điệu.
Trong khi đó, áp lực từ phía khách hàng đòi hỏi ngày càng cao về chất
lượng sản phẩm, cùng với bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt sẽ luôn
luôn tạo sức ép phải đổi mới công nghệ, phương thức sản xuất và nâng cao khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Đứng trước vấn đề này các doanh nghiệp Việt Nam cần phải làm gì để
nâng vị thế cạnh tranh của sản phẩm của mình trên thương trường? Câu trả lời
có tầm quan trọng hàng đầu là nhanh chóng đổi mới tư duy, phương thức sản
xuất và đầu tư công nghệ hiện đại.
Ngày nay, công nghệ mới đã tạo cơ hội, cho phép doanh nghiệp tổ chức lại
các qui trình sản xuất của mình một cách hiệu quả hơn. Công nghệ mới cũng đã
đẩy tới việc giảm nhu cầu lao động bằng sức mạnh cơ bắp, thay vào đó là nhu
cầu lao động về trí não, về kỹ năng tay nghề tăng lên. Vì thế, sự thay đổi công
nghệ sẽ dẫn tới sự thay đổi về cơ cấu lao động, trong đó lao động có trình độ
chuyên môn sâu sẽ có lợi thế, còn lao động giản đơn có kỹ năng thấp sẽ bị đe
doạ. Vì vậy, việc các chủ doanh nghiệp khi có ý tưởng đổi mới công nghệ, thiết
bị đôi khi vấp phải sự phản đối từ phía người lao động do những lo âu về giảm
thu nhập, mất việc tồn tại đồng hành với nhịp độ thay đổi công nghệ.
Lợi thế về chi phí lao động rẻ bị đẩy lùi trong xu hướng phát triển lao động
có tay nghề chưa được chú trọng đẩy mạnh, đưa đến việc nắm bắt và ứng dụng
phương thức sản xuất mới từ các nước tiên tiến của các doanh nghiệp Việt Nam
còn chậm chạp và thiếu hiệu quả. Có một thực tế khó chối cãi là còn hiện tượng
nhiều thiết bị, máy móc nhập về trị giá hàng triệu đến hàng vài tỷ đồng được
đắp chiếu, nằm im lìm trong kho mà nguyên do chính là thiếu các kỹ sư có năng
lực vận hành. Hậu quả là vốn chết, nhà xưởng bị chiếm chỗ và công nhân ngồi
chơi. Là nước đi sau, trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ, các doanh
nghiệp Việt Nam chỉ cần cố gắng nắm bắt, tìm hiểu và sử dụng tối đa những
13
công nghệ thiết bị mà họ định trang bị sẽ tạo nên một bước phát triển. Vì vậy,
trước khi đi đến một quyết định đầu tư một thiết bị mới, các doanh nghiệp phải
nắm được phương thức vận hành nó, phải trù tính những công cụ hỗ trợ, thậm
chí còn phải biết xử lý, khắc phục những sự cố xảy ra và có kế hoạch đào tạo
nhân lực kịp thời.
2.4.3. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, là một trong những
nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực
được hiểu trên hai khía cạnh:
Một là: nguồn nhân lực là toàn bộ sức lao động và khả năng hoạt động của
lực lượng lao động xã hội.
Hai là: nguồn nhân lực là sức lao động, trình độ, ý thức của từng cá nhân và
mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân. Mặt thứ hai nói lên chất lượng của nguồn
nhân lực và đang ngày càng được chú trọng, quan tâm hơn.
Trong mấy thập niên qua, chúng ta đã chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ của nền
kinh tế, công nghệ và xã hội. Sự thay đổi mạnh mẽ này đã tạo ra những thách thức,
sức ép đang không ngừng đè nặng lên đôi vai của các doanh nghiệp đó là:
ρ Mong đợi của khách hàng ngày càng tăng: Với mức sống nhìn chung đã
được cải thiện trên toàn cầu, trình độ đào tạo của con người đang ngày càng cao
thể hiện trong những nhu cầu sinh hoạt hiện đại, mong đợi và đòi hỏi về những
sản phẩm và dịch vụ tốt hơn của đại bộ phận khách hàng ngày càng cao. Để cạnh
tranh, các doanh nghiệp cần nắm bắt nhu cầu hiện tại cũng như dự đoán trước
những mong muốn của khách hàng và đáp ứng chúng một cách nhanh chóng.
ρ Sản phẩm lỗi thời nhanh chóng: Công nghệ luôn đóng vai trò quan trọng
trong việc phát triển sản phẩm mới. Sự tiến bộ trong kỹ thuật tạo sản phẩm sẽ làm
cho các sản phẩm hiện có trên thị trường trở nên lỗi thời một cách nhanh chóng.
Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục cải tiến, đổi mới sản phẩm.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét