Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Ý TƯỞNG KINH DOANH NHÀ ĂN CHO SINH VIÊN

5. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT :
Sinh viên các trường thành viên ĐHQG. Tôi kết luận đây là tổng thể bộc lộ.Do thời gian và kinh phí có
hạn nên chúng tôi chọn cách lấy mẫu là phi xác suất.Cỡ mẫu 100. Trong đó chúng tôi khảo sát tại các khu
nhà trọ là 40% và sinh viên ở kí túc xá là 60%.Với tỉ lệ nam-nữ là 1:1.
Kinh phí bỏ ra 300000
Thời gian thực hiện 2 tháng .
Nơi cung cấp nguyên
liệu sạch
Nhà ăn trung tâm với những
dịch vụ kèm theo (nước giải
khát ,wifi, kệ các báo trong
ngày, điện thoại công cộng,văn
phòng phẩm…)
Bộ
phận
vận
chuyển
Nơi thu phí và tiếp nhận
yêu cầu.
Nơi thu
phí và
tiếp
nhận
yêu cầu
Nơi thu phí và tiếp nhận yêu
cầu
Khu dân

Khu dân

KTX
Kh
u
dân
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỂ Ý TƯỞNG KINH DOANH NHÀ ĂN SINH VIÊN
Trong phần cơ sở lý luận này, chúng tôi sẽ giải thích 3 vấn đề về ý tưởng kinh doanh của chúng tôi:
- Tìm hiểu thực trạng các quán ăn của sinh viên ở làng ĐHQG.
- Tìm hiểu những tác động ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm ăn uống của sinh viên
- Thu thập số liệu về nhu cầu, nhận xét của sinh viên về ý tưởng kinh doanh .Xem xét, tìm hiểu,đánh
giá những khó khăn có thể gặp trong thực tế nếu thực hiện ý tưởng.
1. Tìm hiểu thực trạng các bữa ăn ở làng ĐHQG :
Trong bảng hỏi, chúng tôi sử dụng các câu hỏi: câu 5 và câu 7
Câu 5: Mức độ quan tâm của bạn đối với các tiêu chí sau: ( theo mức độ tăng dần từ 15)
Tiêu chí Mức độ quan tâm
Chất lượng bữa ăn 1 2 3 4 5
Vấn đề VSATTP 1 2 3 4 5
Thái độ phục vụ 1 2 3 4 5
Giá cả 1 2 3 4 5
Câu 7: Sự đánh giá của bạn đối với các tiêu chí sau :

Tiêu chí
Rất không hài
lòng
Không hài
lòng
Được Hài
lòng
Rất hài
lòng
Không quan
tâm
Chất lượng bữa ăn 1 2 3 4 5 8
Vấn đề VSATTP 1 2 3 4 5 8
Thái độ phục vụ 1 2 3 4 5 8
Giá cả 1 2 3 4 5 8
Chúng tôi đã sử dụng thang đo Interval để đánh giá mức độ quan tâm và mức độ hài lòng của sinh viên về
các tiêu chí ở các quán ăn.
Mức độ
2. Tìm hiểu những tác động ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm ăn uống của sinh viên
Trong bảng hỏi, chúng tôi sử dụng các câu hỏi: câu 2 – 3 – 4 – 6 – 11 – 12
Câu 2: Xin hãy cho biết bạn có thường ăn cơm ở các quán ăn không? ( chỉ chọn 1 câu trả lời)
 1. Hầu như không  chỉ trả lời câu 11 và 12  3. Thường xuyên
 2. Thỉnh thoảng  4.Hầu như mọi ngày
Câu 3: Thu nhập hàng tháng của bạn là bao nhiêu? ( kể cả tiền trợ cấp từ gia đình)
………………………………………………………………………………………………………………
Câu 4: Bạn vui lòng cho biết chi phí một bữa ăn mà bạn phải trả ?
 1. Dưới 8000đ  3. Từ 10000 đến 12000đ
 2. Từ 8000đ đến 10000đ  4. Trên 12000đ
 5. Không quan tâm
Câu 6: Tiêu chí lựa chọn quán ăn của bạn ? (có thể chọn nhiều trả lời )
 1. Quán có thức ăn hợp khẩu vị  4. Quán ăn yên tĩnh
 2. Quán hợp vệ sinh .  5. Quán có nhiều dịch vụ kèm theo
 3. Quán đảm bảo VSATTP  6. Không quan tâm, tiện là được
Câu 11: Bạn cho biết lý do vì sao bạn lại chọn nấu ăn ở nhà? ( có thể chọn nhiều phương án trả lời)
 1.Đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm  3.Nấu ăn theo sở thích
 2.Ít tốn kém chi phí hơn ăn ở ngoài  4.Phù hợp với khẩu vị của bản thân
 5. Lý do khác (ghi rõ)
………………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………………
Câu 12 : Theo bạn nấu ăn ở nhà có những khó khăn gì ? (có thể chọn nhiều phương án trả lời)
 1. Tốn nhiều thời gian  3.Gặp khó khăn trong việc lựa chọn và chế biến thực phẩm
 2. Tốn kém chi phí để mua đồ dùng nấu ăn 4.Gặp những bất đồng quan điểm trong việc nấu ăn chung
5. Lý do khác (ghi rõ)
………………………………………………………………………………………………………………
Câu 2: sử dụng thang đo Ordinal thể hiện sự hơn kém của việc ăn ở quán ăn và nấu ăn ở nhà. Từ đó, chúng tôi
xác định được đa số sinh viên lựa chọn việc ăn ở các quán ăn là chính hay nấu ăn tại nhà.Từ đó, ước lượng tỷ lệ
sinh viên ăn tại các quán ăn trong toàn bộ tổng thể sinh viên tại làng ĐHQG.
Câu 3 &4: Chúng tôi sử dụng thang đo Ratio. Chúng tôi sử dụng 2 câu hỏi này nhằm mục đích tìm hiểu thu nhập
bình quân hàng tháng và chi phí trung bình một ngày ăn của sinh viên. Nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa 2 biến
thu nhập và chi phí.Từ đó xây dựng mô hình hồi quy.
Câu 6: Chúng tôi sử dụng thang đo Norminal thể hiện các các yếu tố tác động đến việc lựa chọn quán ăn của sinh
viên.Từ đó, xem xét yếu tố nào tác động nhiều nhất đến việc lựa chọn quán ăn của sinh viên.
Câu 11,12: Chúng tôi sử dụng thang đo Norminal, để nhằm tìm hiểu lí do một số sinh viên lựa chọn nấu ăn nhà
và những khó khăn mà họ gặp phải.
3. Thu thập số liệu về nhu cầu,nhận xét của sinh viên về ý tưởng kinh doanh
Đối với vấn đề này chúng tôi chọn câu hỏi 8-9-10 và 13
Câu 8: Bạn có nghĩ đến hay muốn có 1 nơi ăn uống an toàn cho sức khỏe không?
 1. Không muốn  3. Rất muốn
 2. Muốn  4. Không quan tâm
Câu 9: Bạn đánh giá như thế nào về nhu cầu của bạn đối với các dịch vụ sau tại một quán ăn : (theo mức độ tăng
dần từ 15)
Tiêu chí Mức độ cần thiết
Chất lượng bữa ăn đảm bảo, các món ăn luôn thay đổi và vệ
sinh được kiểm tra nghiêm ngặt
1 2 3 4 5
Tại căn tin bạn có thể vừa ăn cơm, vừa sử dụng wifi free,
đọc báo và nghe nhạc tại chỗ .
1 2 3 4 5
Bạn sẽ được phục vụ tận nhà nếu có nhu cầu 1 2 3 4 5
Có nơi nghỉ ngơi trong thời gian chờ đến giờ học 1 2 3 4 5
Câu 10: Theo bạn, mức chi phí một bữa ăn mà bạn cảm thấy phù hợp nhất khi ăn tại quán ăn với các dịch vụ trên:
……………………………………………………………………………….
Câu 13: Bạn vui lòng cho biết ý kiến của bạn đối với “Ý tưởng nhà ăn sinh viên” của nhóm chúng tôi.
……………………………………………………………………………………………………………
Câu 8:Sử dụng thang đo Interval thể hiện nhu cầu hiện tại của sinh viên về một nơi ăn uống an toàn cho
sức khỏe
Câu 9 :Sử dụng thang đo Interval nhằm thể hiện nhu cầu của sinh viên đối với những dịch vụ mà chúng tôi
sẽ cung cấp.Từ đó sẽ tập trung đầu tư vào các dịch vụ mà sinh viên quan tâm nhiều nhất.
Câu 10: Chúng tôi sử dụng thang đo Ratio. Chúng tôi sẽ ước lượng được mức giá phù hợp cho quán ăn của chúng
tôi.Từ đó ước lượng được lợi nhuận sau khi đã tính toán các khoảng chi phí.
Câu 13: Chúng tôi thu thập ý kiến đóng góp của sinh viên về ý tưởng này, nhằm phục vụ tốt hơn cho sinh viên.
Mục đích cuối cùng của chúng tôi là xem xét tính khả thi của ý tưởng và mong muốn ý tưởng thành hiện thực.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
BỮA ĂN CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
1-Thực trạng các quán ăn tại làng đại học Thủ Đức:
Tại khu vực này tập trung một lượng lớn sinh viên theo học, chính vì tính chất đó nên hoạt động
kinh doanh mua bán hàng hóa ở khu vực này diễn ra khá sôi động, tâp trung chủ yếu vào các lĩnh vực
quán cơm, quán nước, các quán hàng vỉa hè, hàng rong, thực phẩm tươi sống…Vì mức độ giám sát quản
lý của các cơ quan chức năng chưa sát sao, chưa có cơ quan chuyên trách kiểm tra thường xuyên nên vấn
đề VSATTP thường xuyên bị vi phạm
Đặc biệt khu vực trước trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có nhóm chợ tự phát buôn
bán, thịt gà, thịt heo không có dấu kiểm dịch, hàng ngày một lượng lớn nước thải ra, hàng hóa thì đặt dưới
lòng đường để bán, những người bán không đảm bảo vệ sinh khi buôn bán.Không những vậy, ở các quán
cơm thì tình trạng đó cũng không khá hơn bao nhiêu, đa số bàn ghế nhìn không sạch sẽ, các khay thức ăn
thì không có dụng cụ che đậy hợp vệ sinh, nhiều quán ăn, quán nước các nhân viên chế biến không hề đeo
khẩu trang hay bao tay khi chế biến, hoặc nếu có thì một bao tay được sử dụng cho cả ngày.Trên đây chỉ
là những thứ trước mắt chúng ta có thể nhìn thấy, tìm hiểu sâu hơn còn nhiều điều bất cập.Ví như nguồn
rau, củ, quả, thực phẩm mà những chủ quán cơm dùng để chế biến, chúng ta hoàn toàn không biết nguồn
gốc.Vì lợi nhuận không người kinh doanh nào lại đi tìm nguồn rau sạch với giá thành cao cũng như các
loại thực phẩm thật tốt.
Các quán ăn, uống dọc vỉa hè hay khu vực trước cổng ký túc xá, bến xe buýt… hàng ngày, hàng
giờ vẫn hoạt động một cách mất vệ sinh nhưng vẫn chưa thấy có cơ quan chuyên trách nào xử lí. Những
quán lẩu luôn đông nghẹt, không còn chỗ chen chân vì giá rẻ dù thừa biết rằng chúng không đảm bảo vệ
sinh nhưng sinh viên không còn lựa chọn nào khác.
Đó là thực trạng hiện tại của những cơ sở kinh doanh, cá nhân bên ngoài sự quản lí của ĐHQG .
Thế còn những cơ sở hoạt động trong lòng sự quản lí của ĐHQG ( căn tin ở các trường, căn tin ký túc
xá…), nơi được coi là hợp vệ sinh thì thế nào? Thực tế thật đau lòng, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm tại
các cơ sở này cũng chẳng tốt đẹp gì hơn nếu không nói là mất vệ sinh. Chúng ta dễ dàng nhận thấy những
hình ảnh mất vệ sinh đó trong căn tin tại dãy nhà A Đại học KHTN – những cái chén, đĩa, tô sứt mẻ, ngả
màu trông rất mất vệ sinh vẫn được sử dụng hằng ngày.
Một sinh viên đã làm thêm ở nhiều quán cơm tại làng ĐH tiết lộ “Chẳng biết nguồn hàng trôi nổi thế
nào mà thịt gà có giá siêu rẻ chỉ hơn 10.000đ/kg, có khi chỉ 6.000 – 7.000đ; trứng thì 500 – 700đ/quả, tất
cả đều không có kiểm dịch. Riêng thịt heo thì một con dấu của cơ sở giết mổ nào đó cũng không có!”
Theo một sinh viên khác hiện đang làm phụ quán ăn “sau mỗi bữa ăn, chủ quán thường tận dụng mọi
loại nước còn lại từ đồ ăn thừa trộn vào nhau, bỏ thêm gia vị rồi nấu lại là thành món nước chan mới dù
không ít trong số đó đã bị thiu.Khâu nhặt rau trước khi chế biến cũng làm qua loa đến bất ngờ. Tương ớt,
nước mắm hết hạn vẫn được sử dụng thường xuyên”.
Trên đây là một số thực trạng đang diễn ra trong làng Đại học Quốc gia TP HCM, nơi mà sau này sẽ trở
thành khu đô thị đại học lớn của cả nước .
2-Thực trạng các quán ăn hiện nay trong mắt của sinh viên
Chúng tôi đã khảo sát 100 sinh viên và thu được những kết quả sau:
Khi được hỏi mức độ quan tâm của bạn đối với các tiêu chí sau: ( theo mức độ tăng dần từ 15)
Tiêu chí Mức độ quan tâm
Chất lượng bữa ăn 1 2 3 4 5
Vấn đề VSATTP 1 2 3 4 5
Thái độ phục vụ 1 2 3 4 5
Giá cả 1 2 3 4 5
Qua khảo sát chúng tôi thu được bảng số liệ sau:
Tiêu chí Mức độ quan tâm
Chất lượng bữa ăn 7.4% 4.3% 25.5% 23.4% 39.4%
Vấn đề VSATTP 8.5% 4.3% 17% 24.5% 45.7%
Thái độ phục vụ 6.5% 15.1% 26.9% 26.9 24.6%
Giá cả 8.5% 6.4% 22.3% 30.9% 31.9%
Ta có thể thấy rằng sinh viên rất quan tâm đến những vấn đề trên. Trong đó, có lẽ sinh viên quan
tâm nhất đến 2 vấn đề “vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm” (87,2%)và “giá cả” (85,1%).Từ đó
chúng tôi đưa ra nhận xét, muốn kinh doanh một quán ăn dành cho sinh viên có hiệu quả cần thực
hiện 2 tiêu chí trên.Không những chất lượng phải đảm bảo mà còn phải có giá cả hợp lý đối với
sinh viên.
Câu 7: Sự đánh giá của bạn đối với các tiêu chí sau :

Tiêu chí
Rất không hài
lòng
Không hài
lòng
Được Hài
lòng
Rất hài
lòng
Không quan
tâm
Chất lượng bữa ăn 1 2 3 4 5 8
Vấn đề VSATTP 1 2 3 4 5 8
Thái độ phục vụ 1 2 3 4 5 8
Giá cả 1 2 3 4 5 8
Trong số 94/100 sinh viên trả lời câu hỏi này chúng tôi thu được bảng số liệu sau:
Mức độ

Tiêu chí
Rất không
hài lòng
Không
hài lòng
Được Hài lòng Rất hài
lòng
Không quan
tâm
Chất lượng bữa ăn 4.3% 24.5% 55.3% 12.8% 2.1% 1%
Vấn đề VSATTP 7.4% 50% 31.9% 8.5% 2.2% 0%
Thái độ phục vụ 9.6% 21.3% 47.9% 16% 2.1% 3.1%
Giá cả 9.6% 55.3% 27.7% 5.3% 2.1% 0%
Qua kết quả trên ta nhận thấy tỉ lệ sinh viên cho rằng chất lượng bữa ăn là “được” chiếm tỉ lệ cao nhất
(55,3%) và tiếp theo là “không hài lòng” là 24,5%.
Ta cũng có thể tính được chỉ có 28,8% sinh viên không thể chấp nhận được về vấn đề chất lượng bữa
ăn.Và phần lớn (70,2%) sinh viên cho rằng đã hài lòng với chất lượng bữa ăn hiện nay.
Tuy nhiên chúng tôi đã tìm hiểu sinh viên hài lòng với chất lượng bữa ăn không phải vì chất lượng bữa ăn
đã đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của sinh viên mà chỉ ăn để no để tiếp tục học tập. Chúng tôi thấy
rằng thực trạng chất lượng bữa ăn tại các quán ăn là rất đáng báo động.
Mức độ
Qua biểu đồ trên chúng tôi thấy rằng có đến 64,9% sinh viên không hài lòng về giá cả hiện nay. Họ cho rằng mức
giá mà họ đã bỏ ra là quá cao so với chất lượng bữa ăn mà họ nhận được.Và có 57,4% sinh viên tỏ ra không hài
lòng với vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm tại các quán ăn.
3.Thu thập số liệu về nhu cầu,nhận xét của sinh viên về ý tưởng kinh doanh
Với những thực trạng trên chúng tôi đã đưa ra ý tưởng về nhà ăn đảm bảo chất lượng dành cho sinh viên.Và sau
đây là số liệu mà chúng tôi đã thu thập được.
 Khi hỏi về mong muốn của sinh viên về một quán ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giá cả hợp lý
chúng tôi thu được kết quả sau:
Có 94/100 sinh viên đã trả lời câu hỏi trên trong đó có 70 sinh viên (chiếm 74.5%) trả lời là “rất muốn”, và 24
sinh viên (25,5 %) trả lời là “muốn”.Không có sinh viên nào trả lời “không muốn” hoặc “không quan tâm”. Qua
đó ta thấy hầu hết sinh viên đều mong muốn có một quán ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giá cả hợp
lý.Như vậy nhu cầu tại làng đại học về một quán ăn như vậy hiện nay là rất cao.
Từ đó, chúng tôi đã xây dựng mô hình kinh doanh quán ăn như sau:
Nơi cung cấp nguyên
liệu sạch
Nhà ăn trung tâm với những
dịch vụ kèm theo (nước giải
khát ,wifi, kệ các báo trong
ngày, điện thoại công cộng,văn
phòng phẩm…)
Bộ
phận
vận
chuyển
Nơi thu phí và tiếp nhận
yêu cầu.
Nơi thu
phí và
tiếp
nhận
yêu cầu
Nơi thu phí và tiếp nhận yêu
cầu
Khu dân

Khu dân

KTX
Kh
u
dân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét