Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Phân tích tài chính doanh nghiệp trong hoạt động cho vay ngắn hạn tại chi nhánh Ngân hàng Công thương Cầu Giấy

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với ngời hởng lơng
trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, công an kinh tế
1.1.2. Rủi ro tín dụng và mục tiêu của phân tích TCDN tại NHTM.
Mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả
năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là
khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động cũng nh khả
năng sinh lời của doanh nghiệp. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các
NHTM vì trong các nghiệp vụ của NHTM thì cho vay là nghiệp vụ chứa đựng
nhiều rủi ro nhất và rủi ro cũng dễ xảy ra nhất.
Rủi ro tín dụng là tình trạng ngời vay không có khả năng hoàn trả đợc lãi
hoặc gốc vay hay cả hai cho ngân hàng khi đến hạn. Nguyên nhân gây ra rủi ro
tín dụng có thể chia làm ba nhóm:
- Nhóm thứ nhất là những nguyên nhân bất khả kháng mà khách hàng bị
tổn thất không trả đợc nợ và ngân hàng phải gánh chịu rủi ro (do thiên tai, dịch
bệnh, khủng hoảng kinh tế, do nhà nớc thay đổi cơ chế, chính sách ).
- Nhóm thứ hai thuộc về phía khách hàng, nhóm nguyên nhân này đợc
xem là vấn đề lựa chọn đối nghịch của ngân hàng và động cơ không trong sạch
của ngời vay: do trình độ, năng lực quản lý, kinh doanh, khả năng cạnh tranh
yếu kém nên thua lỗ, phá sản không trả đợc nợ; do khách hàng sử dụng vốn vay
sai mục đích, thậm chí cố tình lừa đảo, không trả nợ ngân hàng
- Nhóm thứ ba thuộc về chủ quan của ngân hàng: trớc hết do sự yếu kém
của nghiệp vụ chuyên môn nên đã có thiếu sót trong quá trình thu thập thông tin
và hạn chế trong quá trình phân tích về thị trờng, về khả năng tài chính, về trình
độ năng lực quản lý, về đạo đức của ngời vay dẫn đến việc ra quyết định cho
vay không đúng đắn. Sau đó, do sự yếu kém của năng lực quản lý trong giám
sát và thu hồi món vay nên không phát hiện đợc nguy cơ rủi ro hoặc có thể vô
tình không làm đúng quy trình, quy định xử lý nghiệp vụ dẫn đến tổn thất. Có
trờng hợp cán bộ ngân hàng cố ý làm sai quy định vì một lợi ích nào đó, hoặc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
CBTD tiếp tay cùng khách hàng lừa đảo hoặc tự cán bộ ngân hàng lừa đảo lấy
tiền của ngân hàng.
Trong ba nhóm trên, nhóm thứ nhất khó phòng tránh nhng ít xảy ra;
nhóm thứ hai là chủ yếu trong hoạt động kinh doanh, việc phòng tránh vô cùng
khó khăn, phức tạp; nhóm thứ ba ít xảy ra nhng khó khắc phục và thờng kết hợp
với nhóm thứ hai.
Đứng trớc thực trạng cho vay là nghiệp vụ chủ đạo mà rủi ro tín dụng thì
luôn thờng trực, hơn nữa lại diễn ra hết sức phức tạp, khó phòng tránh, nên tại
các NHTM Việt Nam hiện nay, việc cho vay đợc quy định theo một quy trình
rất chặt chẽ. Quy trình nghiệp vụ cho vay hớng dẫn trình tự, cách thức thu thập,
tiếp cận thông tin để đánh giá khách hàng về mặt tài chính và các mặt phi tài
chính để đi đến quyết định cho vay; sau đó hớng dẫn việc giải ngân, kiểm tra,
giám sát, theo dõi món vay, cuối cùng là xử lý rủi ro (nếu có) xảy ra. Trong các
nội dung đó, việc thu thập, xử lý và phân tích thông tin, đánh giá khách hàng để
đi đến quyết định cho vay là quan trọng hơn cả bởi nó vừa là tiền đề, là cơ sở
phát sinh mối quan hệ vay vốn giữa ngân hàng và khách hàng mang tính chất
quyết định đến sự tồn tại lành mạnh của món vay, tránh đợc rủi ro thất thoát cho
ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc giám sát, kiểm tra và thực
hiện các bớc tiếp theo.
Những thông số phi tài chính nh đạo đức, uy tín của ngời vay, nhu cầu
của thị trờng về sản phẩm có đặc điểm là không định lợng đợc và ngân hàng
phải dự tính, ớc đoán một cách tơng đối nên dễ nhầm lẫn. Cho nên những thông
tin về mặt tài chính là rất quan trọng đối với ngân hàng trong việc đánh giá, lựa
chọn khách hàng.Vì vậy, phân tích tài chính khách hàng không chỉ là yêu cầu
cần thiết, tự thân mỗi ngân hàng mà còn là đòi hỏi mang tính chất bắt buộc của
NHNN và xã hội đối với hệ thống NHTM.
Nh vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp tại NHTM nhằm đạt đợc các
mục tiêu sau:
Thứ nhất, xác định rõ tình trạng hoạt động hiện tại của doanh nghiệp.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ hai, dự đoán nhu cầu TCDN, qua đó đánh giá hoạt động và tình hình
trong tơng lai của doanh nghiệp. Tính lỏng của tài sản, khả năng thanh toán,
khả năng sinh lời và hiệu quả tài sản là các yếu tố cần đợc nghiên cứu kĩ, các xu
hớng tác động đến các nhân tố này cũng cần đợc xác định rõ. Cuối cùng, cần đa
ra một dự đoán về khả năng thực hiện trong tơng lai và kết quả hoạt động dựa
trên những dự đoán về hoạt động của doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính
(BCTC) doanh nghiệp và các tỷ số tài chính là đối tợng trọng tâm và chủ yếu
cho việc phân tích.
Thứ ba, đảm bảo cho ngân hàng thu lại đợc gốc và lãi đúng hạn, giảm
thiểu rủi ro tín dụng, tránh gây thất thoát vốn cho ngân hàng. Đây là mục tiêu
tổng quát nhất và cũng là mục đích của ngân hàng khi cho vay.
1.2. Nhân tố ảnh hởng đến công tác phân tích TCDN trong hoạt động cho
vay của NHTM.
Công tác phân tích TCDN trong hoạt động cho vay của NHTM chịu ảnh
hởng của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan. Vấn đề là phải nắm vững các
nhân tố này để tìm ra biện pháp quản lý hiệu quả nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng
cao chất lợng tín dụng.
1.2.1. Nhân tố chủ quan.
- Cán bộ thẩm định: trình độ, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức của cán
bộ thẩm định có ảnh hởng lớn đến kết quả thẩm định trong đó có công tác phân
tích TCDN. Đội ngũ cán bộ phải vững về chuyên môn, có kiến thức sâu rộng về
các ngành nghề thì công tác phân tích mới đạt hiệu quả.
- Quy trình và nội dung phân tích TCDN: trực tiếp ảnh hởng đến hiệu quả
công tác phân tích và hoạt động tín dụng của NHTM. Đó cũng là căn cứ để
CBTD tiến hành công tác phân tích TCDN và đa ra quyết định tín dụng đúng
đắn, hợp lý và hiệu quả nhất.
- Thông tin và trang thiết bị công nghệ thông tin: mức độ chính xác, đầy
đủ của thông tin có ảnh hởng rất lớn đến công tác phân tích TCDN trong hoạt
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
động cho vay của NHTM. Nếu thông tin không đầy đủ, chính xác thì công tác
phân tích tài chính không có ý nghĩa, thậm chí gây thiệt hại lớn cho ngân hàng
nếu doanh nghiệp gặp rủi ro. Sự phát triển của công nghệ thông tin đã trợ giúp
hiệu quả cho công tác phân tích tài chính bằng các phần mềm chuyên dụng,
giúp rút ngắn thời gian thẩm định, tiết kiệm chi phí, đặc biệt giảm tối đa rủi ro
trong tính toán, nâng cao chất lợng công tác phân tích TCDN.
- Công tác tổ chức phân tích TCDN của ngân hàng: việc sắp xếp, bố trí,
quy định nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cá nhân tham gia công tác phân tích
TCDN có ảnh hởng lớn đến hiệu quả phân tích. Tổ chức khoa học, hợp lý sẽ
phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ
phận, phát huy mọi khả năng, giảm rủi ro trong công tác phân tích.
1.2.2. Nhân tố khách quan.
- Môi trờng kinh tế-xã hội: môi trờng kinh tế-xã hội phát triển thì thông
tin trên thị trờng sẽ nhanh chóng và chính xác hơn, do vậy sẽ nâng cao tính
chính xác của kết quả phân tích. Ngợc lại thì việc cung cấp thông tin sẽ chậm
chễ, thiếu chính xác ảnh hởng đến chất lợng công tác phân tích.
- Môi trờng pháp lý: nếu môi trờng lành mạnh, rõ ràng, chặt chẽ sẽ tác
động tích cực đến kết quả công tác phân tích, tạo điều kiện thực hiện đúng trình
tự, tuân theo pháp luật. Ngợc lại, những khiếm khuyết trong môi trờng pháp lý
có thể dẫn đến các quy định về công tác phân tích chồng chéo, mâu thuẫn giữa
các bên, tạo điều kiện để doanh nghiệp lách luật, có những hành động không
chân chính, gây thiệt hại cho ngân hàng và cho xã hội.
- Doanh nghiệp: mức độ chính xác, thái độ trung thực trong việc cung
cấp thông tin cho ngân hàng của doanh nghiệp có ảnh hởng trực tiếp đến kết
quả đánh giá các chỉ tiêu tài chính. Nếu thông tin không đầy đủ, độ chính xác
không cao thì cán bộ thẩm định phải tốn thêm thời gian, chi phí để tiếp tục thu
thập, xác minh lại thông tin, làm chậm tiến độ công tác phân tích. Hơn nữa, nếu
chủ doanh nghiệp có năng lực, phối hợp tốt với ngân hàng thì công tác phân tích
sẽ đợc tiến hành nhanh chóng. Còn nếu chủ doanh nghiệp thiếu năng lực, đặc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
biệt không trung thực dẫn tới sử dụng vốn sai mục đích, hay cố tình lừa đảo
chiếm dụng vốn sẽ ảnh hởng xấu đến hiệu quả phân tích và hoạt động tín dụng
của ngân hàng.
1.3. Phơng pháp và quy trình phân tích TCDN tại NHTM.
1.3.1. Phơng pháp phân tích TCDN.
Phơng pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tợng, các mối liên hệ bên
trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài
chính tổng hợp và chi tiết nhằm đánh giá tình hình TCDN.
Các phơng pháp sau đây thờng đợc sử dụng trong phân tích TCDN:
Phơng pháp so sánh: để có thể so sánh đợc với nhau, các chỉ tiêu tài
chính phải đảm bảo thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và
đơn vị tính toán và theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh. Gốc so
sánh đợc lựa chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kì phân tích đợc lựa
chọn là kỳ báo cáo, giá trị so sánh đợc lựa chọn có thể bằng số tuyệt đối, số t-
ơng đối hoặc số bình quân. Nội dung so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kì trớc để thấy rõ xu
hớng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, đánh giá sự tăng trởng hay thụt lùi
của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
- So sánh số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của
các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình TCDN là tốt hay xấu.
- Lập BCTC dạng so sánh gồm: so sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ
trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể. So sánh theo chiều ngang của nhiều kì
để thấy đợc sự biến đổi cả về số lợng tơng đối và tuyệt đối của một chỉ tiêu nào
đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
Phơng pháp phân tích tỷ số tài chính: trong đó các tỷ số đợc sử dụng
để phân tích. Đó là các tỷ số đơn đợc thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu
khác. Đây là phơng pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày
càng đợc bổ sung và hoàn thiện, bởi lẽ:
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ nhất, nguồn thông tin kế toán và tài chính đợc cải tiến và đợc cung
cấp đầy đủ hơn. Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu đáng tin cậy
cho việc đánh giá một tỷ số của một hay một nhóm doanh nghiệp.
Thứ hai, việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc
đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số.
Thứ ba, phơng pháp này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những
số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên
tục hoặc theo từng giai đoạn.
Về nguyên tắc, phơng pháp tỷ số yêu cầu phải xác định đợc các ngỡng,
các tỷ số tham chiếu. Để đánh giá tình trạng tài chính của một doanh nghiệp
cần so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu. Nh vậy, phơng
pháp so sánh luôn đợc sử dụng kết hợp với các phơng pháp phân tích tài chính
khác. Khi phân tích, nhà phân tích thờng so sánh theo thời gian (kì này so với kì
trớc) để nhận biết xu hớng thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, theo
không gian (so sánh với mức trung bình ngành) để đánh giá vị thế của doanh
nghiệp trong ngành.
Phơng pháp phân tích tài chính DUPONT: với phơng pháp này, các
nhà phân tích sẽ nhận biết đợc các nguyên nhân dẫn đến các hiện tợng tốt, xấu
trong hoạt động của doanh nghiệp. Bản chất của phơng pháp này là tách một tỷ
số tổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp nh tỷ suất lợi nhuận tổng
tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích số
của chuỗi các tỷ số có quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích
ảnh hởng của các tỷ số đó đối với các tỷ số tổng hợp.
1.3.2. Quy trình phân tích TCDN tại NHTM.
a) Phân tích trớc khi cho vay.
Trớc khi quyết định cho vay, dựa vào các nguồn thông tin thu thập đợc,
ngân hàng tiến hành phân tích tình hình TCDN để đánh giá tình hình SXKD
hiện tại, tiềm năng tơng lai và dự báo khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Việc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phân tích trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào các nội dung: phân tích khả
năng sinh lời, phân tích rủi ro, từ đó xác định khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là khả năng lâu dài và liên tục
của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính gắn liền với khả
năng tạo lợi nhuận.
Điều kiện trớc tiên khi cấp một khoản vay là lợi nhuận do SXKD tạo ra
phải đủ lớn để không những trang trải chi phí, trả lãi cho ngân hàng mà còn
phải đem lại lợi nhuận cho bản thân chủ doanh nghiệp. Khả năng sinh lời của
doanh nghiệp qua các năm là ổn định hay biến động sẽ cho biết năng lực SXKD
của doanh nghiệp, vì vậy cho biết mức độ đảm bảo, tính tin cậy trong khả năng
trả nợ của doanh nghiệp.
Để phân tích khả năng sinh lời của doanh nghiệp, ngân hàng dựa vào các
chỉ tiêu đợc thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh (KQKD) và các tỉ số thể
hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp nh: hệ số sinh lời doanh thu, hệ số
sinh lời tài sản và các hệ số thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
Rủi ro xảy ra cho doanh nghiệp cũng chính là rủi ro của ngân hàng
bởi doanh nghiệp đang sử dụng vốn vay của ngân hàng để tiến hành hoạt động
SXKD. Nếu tình hình SXKD không có hiệu quả, thua lỗ kéo dài sẽ trực tiếp
làm mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp. Trờng hợp
ngời vay vốn bị phá sản thì tình trạng mất vốn của ngân hàng sẽ trở nên nghiêm
trọng hơn. Vì vậy trớc khi cấp tín dụng, nhất thiết ngân hàng phải phân tích rủi
ro cho món vay.
Phân tích rủi ro là việc ngân hàng dựa vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối
kế toán (CĐKT) và các tỷ số thể hiện mức độ rủi ro trong hoạt động SXKD nh:
các tỷ số về khả năng thanh toán, năng lực hoạt động, cơ cấu tài chính để xác
định tính an toàn của hoạt động SXKD tại doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại,
từ đó dự đoán sự an toàn, ổn định của sản xuất trong tơng lai. Tất cả những phép
phân tích rủi ro này sẽ giúp ngân hàng gián tiếp xác định đợc khả năng trả nợ
của doanh nghiệp, nếu độ rủi ro cao thì bất kì một sự đầu t nào vào doanh
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nghiệp cũng là mạo hiểm vì khả năng trả nợ kém, ngợc lại độ rủi ro càng thấp
thì món vay của ngân hàng càng đợc bảo đảm thanh toán.
Để có thể đánh giá khả năng sinh lời, độ rủi ro của món vay, khả năng
trả nợ của doanh nghiệp, ngân hàng phải tiến hành theo các bớc[7]:
- Thứ nhất, thu thập thông tin: thông tin cần thu thập là mọi nguồn có khả
năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động TCDN, phục vụ cho quá trình
dự đoán tài chính, gồm thông tin do doanh nghiệp cung cấp và thông tin do cán
bộ ngân hàng tự điều tra từ các nguồn thông tin ở các cơ quan có liên quan và
thị trờng. Yêu cầu cơ bản khi thu thập thông tin là phải đảm bảo chính xác, đầy
đủ, kịp thời, các BCTC đợc sử dụng thông thờng phải là những báo cáo đã đợc
kiểm toán của cơ quan kiểm toán có chức năng.
- Thứ hai, xử lý và phân tích thông tin: là quá trình sắp xếp các thông tin
theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác
định nguyên nhân của các kết quả đã đạt đợc phục vụ cho quá trình dự đoán và
quyết định.
- Thứ ba, dự đoán và quyết định: thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn
bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để ngân hàng dự đoán nhu cầu tài chính
của doanh nghiệp trong tơng lai và góp phần vào việc đa ra quyết định tài trợ
hay không tài trợ đối với doanh nghiệp xin vay.
b) Phân tích trong khi cho vay.
Trong khi cho vay, quyền sử dụng vốn của ngân hàng đã đợc chuyển
sang cho doanh nghiệp nhng ngân hàng vẫn có quyền và phải có nghĩa vụ kiểm
tra và theo dõi món vay. Kiểm tra và theo dõi món vay bao gồm nhiều nội dung
nhng dới giác độ của công tác phân tích TCDN thì có các nội dung sau: xác
định nguồn trả nợ của doanh nghiệp; phân tích lại các tỷ số thể hiện khả năng
sinh lời, độ rủi ro trong SXKD và dự án đầu t của doanh nghiệp, từ đó xác định
khả năng thanh toán và dự đoán nhu cầu tài chính của doanh nghiệp trong các
kì kế toán tiếp theo.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mục đích của việc phân tích trong giai đoạn này là nhằm xác định xem
khoản vay có vấn đề hay không, từ đó quyết định tiếp tục mối quan hệ tín dụng
với khách hàng, chấm dứt nó hay chuyển sang hình thức tín dụng khác.
Xác định nguồn trả nợ của doanh nghiệp là nội dung đầu tiên mà ngân
hàng cần xác định vì bản chất của tín dụng ngân hàng và mục đích của ngân
hàng khi cho vay là phải thu lại đợc cả gốc và lãi. Thờng nguồn trả nợ vay ngắn
hạn là tiền thu đợc từ tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá dịch vụ hình thành từ nguồn
vốn vay. Nguồn trả nợ của doanh nghiệp cũng là dấu hiệu nhạy cảm nhất cho
biết liệu món vay có vấn đề hay không bởi vì chỉ cần không đáp ứng đủ cả gốc
và lãi cho ngân hàng thì khoản vay đó đã vi phạm không những bản chất kinh tế
của mối quan hệ tín dụng ngân hàng mà còn vi phạm cả hợp đồng tín dụng ngân
hàng, tức là xuất hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật. Từ đó, CBTD quản lý món
vay phải có biện pháp khắc phục kịp thời ngay. Nguồn trả nợ của doanh nghiệp
có thể đợc xác định căn cứ vào báo cáo lu chuyển tiền tệ (LCTT) do doanh
nghiệp cung cấp trong các kì kế toán tiếp theo hoặc căn cứ vào kế hoạch SXKD
của doanh nghiệp.
Nội dung thứ hai là phân tích lại các tỷ số đặc trng cho TCDN nh trong
giai đoạn phân tích trớc khi cho vay, khi nhận đợc các BCTC do doanh nghiệp
cung cấp trong các kì kế toán tiếp theo. Qua việc phân tích từng tỷ số, chỉ tiêu,
so sánh chúng với nhau và so sánh qua các năm, ngân hàng sẽ dự đoán xu hớng
phát triển của doanh nghiệp trong tơng lai, từ đó sẽ tiếp tục có quyết định về
mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp.
c) Phân tích sau khi cho vay.
Sau khi xác định đợc nguồn trả nợ của doanh nghiệp và có quyết định về
quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp, ngân hàng sẽ tiến hành thu
nợ, CBTD và cán bộ kế toán đối chiếu, tất toán tài khoản cho vay của món nợ
đó, chuyển toàn bộ hồ sơ liên quan đến khoản vay vào kho lu trữ tài liệu.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nếu khoản vay có tình trạng nợ quá hạn, CBTD tiếp tục phân tích các
nguyên nhân và thu thập thông tin để theo dõi và xử lý món vay theo đúng
chính sách, chế độ.
1.4. Thông tin sử dụng trong phân tích TCDN tại NHTM.
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi
nguồn thông tin; từ những thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin
bên ngoài doanh nghiệp, từ thông tin định lợng đến thông tin định tính. Những
thông tin đó đều giúp cho nhà phân tích có thể đa ra đợc những nhận xét, kết
luận tinh tế và xác đáng.
Trong những thông tin bên ngoài, cần lu ý thu thập những thông tin
chung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính
sách thuế, lãi suất ), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị
trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, sản phẩm, thị phần ) và các
thông tin về pháp lý, kinh tế đối với doanh nghiệp (các thông tin doanh nghiệp
phải báo cáo cho các cơ quan quản lý nh: tình hình quản lý, kiểm toán, kế
hoạch sử dụng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ).
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình TCDN, có thể sử dụng
thông tin tài chính trong nội bộ doanh nghiệp nh là một nguồn thông tin quan
trọng bậc nhất. Với những đặc trng hệ thống, đồng nhất và phong phú, kế toán
hoạt động nh một nhà cung cấp quan trọng những thông tin đáng giá cho phân
tích tài chính. Thông tin tài chính đợc phản ánh khá đầy đủ trong các BCTC,
phân tích tài chính cũng đợc thực hiện trên cơ sở đó. BCTC (gồm: bảng
CĐKT, báo cáo KQKD, báo cáo LCTT và thuyết minh BCTC) là những báo cáo
tổng hợp nhất về tình hình tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng nh
kết quả kinh doanh trong kì của doanh nghiệp. Nói cách khác, BCTC là phơng
tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho
những ngời quan tâm, trong đó có nhà cho vay-chính là các ngân hàng.
1.4.1. Bảng cân đối kế toán.
a) Khái niệm, đặc điểm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét