Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Nội dung cơ bản của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và thực trạng đầu tư phát triển trong DNNN hiện nay

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
PHỤ LỤC
Lời mở đầu……………………………………………………………………………………… ……3
Chương I………………………………………………………………………………………… … 4
Những vấn đề lí luận chung I) Đầu tư phát triển1.1) Khái niệm đầu tư phát triển1.2) Đặc điểm của
đầu tư phát triển1.3) Vai trò của đầu tư phát triển1.4) Nguồn vốn cho đầu tư phát triểnII) Nội dung
cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp2.1) Khái
niệm……………………………………………………………………………………………8
2.2) Tầm quan trọng hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp……………………………… 8
2.3) Những nội dung cơ bảnChương
II 16
Thực trạng đầu tư phát triển trong doanh nghiệp Nhà nướcI) Sự đổi mới doanh nghiệp Nhà nước
giai đoạn 2001 - 2005……………………………………… 16
1.1) Giảm doanh nghiệp Nhà nước 100% vốn nhà nước1.2) Dù tăng tốc độ cổ phần hoá DNNN
nhưng con đường phía trước còn dài……………………… 17
1.3) Từ sắp xếp lại các TCT đến hình thành các tập đoàn kinh doanh 1.4) Giao, bán, khoán và cho
thuê DNNN II) Thực trạng đầu tư phát triển trong doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001-2005
…………….20…………………………………….20
2.2) Thực trạng đầu tư tài sản vốn vật chất2.3) Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhà
nước2.4) Đầu tư vào nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ.III) Đánh giá ưu,
nhược điểm của hoạt động đầu tư phát triển trong DNNN3.1) Các kết quả tích cực3.2) Các hạn chế
chủ yếuChương
III………………………………………………………………………………………………33
1
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Error: Reference source not foundError: Reference source not
foundError: Reference source not foundLời mở đầu
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn do quá trình
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đem lại.Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu đang có những bước
chuyển mạnh mẽ để theo kịp sự xu thế phát triển chung của toàn thế giới hiện nay. Điều đó được thể hiện
ở tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam trong những năm gần đây khá cao và rất ổn định, đời sống nhân dân
được cải thiên rõ rệt, tỷ lệ người nghèo giảm xuống rõ rệt…Để đạt được những thành tựu to lớn này có sự
đóng góp không nhỏ của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam, lực lượng chủ chốt của quá trình CNH – HĐH
đất nước.
Giai đoạn năm 2001 – 2005 đánh dấu sự thay đổi khá mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam. Với
những quyết định đầu tư hợp lý cộng với sự hỗ trợ rất tích cực của Nhà nước, doanh nghiệp Việt Nam
trong giai đoạn này đã có sự thay đổi căn bản cả về chất và lượng. Bên cạnh đó vẫn còn những điểm yếu
cố hữu chưa thể khắc phục được do những hậu quả của quá khứ để lại, do sự thiếu hiểu biết hay hiểu biết
còn lờ mờ.Chính vì vậy việc nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp để giúp họ có sự định hướng đúng
đắn trong hoạt động đầu tư, đặc biệt là đầu tư phát triển giữ vai trò sống còn với bảnthân các doanh
nghiệp nói riêng, nền kinh tế nước nhà nói chung.
Giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống doanh nghiệp Việt Nam hiên nay là hệ thống doanh nghiệp nhà
nước.Trong 20 năm đổi mới do Đảng ta đã đề xướng và lãnh đạo, DNNN là đối tượng được Đảng đặc biệt
chú trọng tìm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Đảng ta đã đề ra cả Nghị quyết
riêng về đổi mới DNNN (Theo NQ TW3 khoá 9).Kết quả của quả trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu
quả DNNN ở Việt Nam đã có những chuyển biến cụ thể, rất tích cực với những sự đầu tư hợp lý đem lại
hiệu quả cao. Song vẫn còn nhiều chuyện phải bàn về DNNN, nhất là trong giai đoạn mới - thời kỳ Việt
Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu về hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp, đặc
biệt là trong DNNN Việt Nam hiện nay, nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài : “ Nội dung cơ bản của
hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp và thực trạng đầu tư phát triển trong DNNN hiện
nay.”
Chúng em xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương đã giúp đỡ chúng em rất nhiều trong quá
trình hoàn thiện bản đề án này.

2
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I
Những vấn đề lí luận chung
về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
I) Đầu tư phát triển
1.1) Khái niệm đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các
hoạt động nhằm tăng them hoặc tạo ra những tài xản vật chất ( nhà xưởng thiết bị…) và tài sản trí tuệ ( trí
thức,kĩ năng…), gia tăng năng lực sản xuất,tạo them việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất nhiều loại nguồn lực, Theo nghĩa hẹp,nguồn lực cho đầu tư phát triển là
tiền vốn. Theo nghĩa rộng,nguồn lực cho đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai,lao động ,máy móc,thiết
bị,tài nguyên.Như vậy khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát
triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia.
Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt
những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm phân công lao động xã hội,có hai nhóm đối tượng đầu tư chính
là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ.Trên góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối tượng đầu tư
chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận.Trên góc độ xem
xét mức độ quan trọng, đối tượng đầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư,loại không được
khuyến khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư.Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành:những tài sản
vật chất ( tài sản thực) và tài sản vô hình.Tài sản vật chất, ở đây,là những tài sản cố định được sử dụng
cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động.Tài sản vô hình như phát
minh sang chế,uy tín,thương hiệu…
Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất( nhà xưởng,thiết bị…),tài sản trí
tuệ(trình độ văn hoá,chuyên môn,khoa học kĩ thuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế,bản
quyền…). Các kết quả đạt được của đầu tư góp phần tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội.Hiệu quả của
đầu tư phát triển phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế xã hội thu được với chi phí chi ra để đạt
kết quả đó.Kết quả và hiệu quả đầu tư phát triển cần được xem xét cả trên phương diện chủ đầu tư và xã
hội, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích, phát huy vai trò chr động sáng tạo của chủ đầu tư,vai
trò quản lý kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước các cấp.Thực tế,có những khoản đầu tư không trực tiếp
tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho giáo dục,y
3
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tế,hoạt động xoá đói giảm nghèo…nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống vì mục tiêu
phát triển,do đó,cũng được xem là hoạt động đầu tư phát triển.
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững,vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu
tư.Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm mục đích thúc đẩy tưng trưởng kinh tế,tăng thu nhập quốc dân,góp
phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp
nhằm tối thiểu chi phí,tối đa lợi nhuận,nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
Đầu tư phát triển thương được thực hiện bởi một chủ đầu tư nhất định.Xác định rõ chủ đầu tư có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý đầu tư nói chung và vốn đầu tư nói riêng.Chủ đầu tư là ngời sở
hữu vốn hoặc được giao quản lý,sử dụng vốn đầu tư.Theo nghĩa đầy đủ,chủ đầu tư là người sở hữu vốn,ra
quyết định đầu tư,quản lý quá trình thực hiên và vận hành kết quả đầu tư và là người hưởng lợi thành quả
đầu tư đó.Chù đầu tư chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát đầu tư,chịu trách nhiệm toàn diện về những sai
phạm và hậu quả do ảnh hưởng của đầu tư đến môi trường môi sinh và do đó có ảnh hưởng quan trọng
đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư.Thực tế quản lý còn có những nhận thức sai lầm về quan
điểm chủ đầu tư.
Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình,diễn ra trong thời kì dài và tồn tại vấn đề “độ trễ thời
gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa thời gian đầu tư với thời gian vân hành kết quả đầu tư.
Đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần được
quán triệt khi đánh giá kết quả,chí phí và hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển.
Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có thể khác nhau.Trên góc độ
nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải chuyển giao tài sản
giữa các đơn vị.
Đầu tư phát triển khác về bản chất với đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong đó người
có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ,thị trường vốn để hưởng
lãi suất định trước(gửi tiết kiệm,mua trái phiếu Chính phủ) hoặc lợi nhuận phụ thuộc vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty phát hành(mua cổ phiếu…).Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trực
tiếp làm tăng tài sản thực(tài sản vật chất) cho nền kinh tế(nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong lĩnh
vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản chính cho chủ đầu tư.Mua cổ phiếu gắn với việc chuyển quyền sở
hữu và hoạt động cho vay dẫn đến chuyển quyền sử dụng,do vậy,hai loại đầu tư này đều thuộc loại đầu tư
dịch chuyển. Đầu tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như
ngân hang,công ty chứng khoán. Đầu tư tài chính còn có đặc điểm là:chủ đầu tư thương có kỳ vọng thu
được lợi nhuận cao khi đầu tư nhưng thực tế lợi nhuận thu được có thể tăng giảm không theo ý muốn.Tuy
nhiên, đầu tư tài chính là kênh huy động vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triểnvà là một trong
những loại hình đầu tư lựa chọn để tối đa hoá lợi ích,giảm thiểu rủi ro cho các chủ đầu tư.
4
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2) Đặc điểm của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
-Quy mô tiền vốn,vật tư,lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn.Vốn đầu
tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải
pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý,xây dựng các chính sách,quy mô,kế hoạch đầu tư đúng đắn,quản lý
chặt chẽ tổng vốn đầu tư,bố trí vốn theo tiến độ đầu tư,thực hiện đầu tư trọng tâm trọng điểm.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án trọng điểm quốc gia.Do
đó,công tác tuyển dụng, đào tạo,sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một kế hoách định trước,sao cho đáp ứng
tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh
hưởng tiêu cực do vấn đề “hậu dự án” tạo ra như việc bố trí lại lao động,giải quyết lao động dôi dư…
-Thời kỳ đầu tư kéo dài. Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án cho đến khi dự án hoàn
thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục
năm.Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư nên để nâng cao hiệu quả vốn đầu
tư,cần tiến hành phân kỳ đầu tư,bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng
mụccông trình,quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tư,khắc phục tình trạng thiếu vốn,nợ đọng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản.
-Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài.Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa
công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình.Nhiều than quả đầu tư
phát huy tác dụng lâu dài,có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim tự tháp Ai Cập,Nhà thờ La Mã ở
Rôm….Trong suốt quá trình vận hành,các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt,cả tích cực và tiêu
cực,của nhiều yếu tố tự nhiên,chính trị,kinh tế xã hội…Để thích ứng với đặc điểm này,công tác quản lý
hoạt động đầu tư cần chú ý một số nội dung sau:
Thứ nhất,cần xây dựng cơ chế và phương pháp dự báo khoa học cả ở cấp vĩ mô và vi mô về nhu cầu
thị trường với sản phẩm đầu tư tương lai,dự kiến khả năng cung từng năm và toàn bộ vòng đời dự án.
Thứ hai,quản lý tốt quá trình vận hành,nhanh chóng đưa các thành quả đầu tư vào sử dụng,hoạt động
tối đa công suất đẻ nhanh chóngthu hồi vốn,tránh hao mòn vô hình.
Thứ ba,chú ý đúng mức tới yếu tố độ trễ thời gian trong đầu tư. Đầu tư trong năm nhưng thành quả
đầu tư chưa chắc đã phát huy tác dụng ngay trong năm đó mà từ những năm sau và kéo dài trong nhiều
năm. Đây là đặc điểm rất riêng của lĩnh vực đầu tư, ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý hoạt động đầu tư
-Các thành quả hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng thường phát huy tác dụng
ngay tại nơi nó được tạo dựng nên,do đó,quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết
quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên,kinh tế,xã hội vùng.Không thể dễ dàng dịch
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chuyển các công trình đã đầu tư từ nơi này sang nơi khác,nên công tác quản lý hoạt động đầu tư phát triển
cần quán triệt đặc điểm này trên một số nội dung sau:
Trước tiên,cần phải có chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đúng. Đầu tư cái gì,công suất bao
nhiêu là hợp lý…cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng,dựa trên các nghiên cứu khoa học.
Lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý. Để lựa chọn địa điểm thực hiện đầu tư đúng phải dựa trên những
căn cứ khoa học,dựa vào hệ thống các chỉ tiêu kinh tế,chính trị,xã hội,môi trường,văn hoá…Cần xây dựng
một bộ tiêu chí khác nhau và nhiề phương án so sánh để lựa chọn vùng lãnh thổ và địa điểm đầu tư cụ thể
hợp lý nhất,sao cho khai thác được tối đa lợi thế vùng và không gian đầu tư cụ thể,tạo điều kiện nâng cao
hiệu quả vốn đầu tư.
-Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao.Do quy mô vốn đầu tư lớn,thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận
hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài…nên mức độ rủi ro hoạt động đầu tư phát triển thường cao.Rủi ro
đầu tư do nhiều nguyên nhân,trong đó,có nguyên nhân chủ quan từ phía các nhà đầu tư quản lý kém,chất
lượng sản phẩm không đạt yêu cầu…có nguyên nhân khách quan như giá nguyên vật liệu tăng,giá bán sản
phẩm giảm…Như vậy, để quản lý hoạt động đầu tư phát triển hiệu quả,cần phải thực hiện các biện pháp
quản lý rủi ro bao gồm:
Thứ nhất,nhận diên rủi ro đầu tư.Có nhiều nguyên nhân rủi ro,do vậy,xác định đúng nguyên nhân rủi
ro là khâu quan trọng đầu tiên để tìm ra giải pháp phù hợp để khắc phục.
Thứ hai, đánh giá mức độ rủi ro.Rủi ro xảy ra có khi rất nghiêm trọng,nhưng có khi chưa đến mức
gây nên những thiệt hại về kinh tế. Đánh giá đúng mức độ rủi ro sẽ giúp đưa ra biện pháp phòng và chống
phù hợp.
Thứ ba,xây dựng các biện pháp phòng và chống rủi ro.Mỗi loại rủi ro và mức độ rủi ro nhiều hay ít
sẽ có biện pháp phòng và chống thích ứng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các thiệt hại có thể có do rủi
ro này gây ra.
1.3) Vai trò của đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế của mỗi quốc gia.
Trên góc độ vĩ mô, đầu tư là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế; Đầu
tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần làm tăng năng lực khoa học công nghệ đất nước;
Đầu tư còn tác động đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế.
Trên goc độ vi mô thì đầu tưlà nhân tố quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản
xuất, cung ứng dịch vụ và của cả các đơn vị vô vị lợi. Để tạo dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời
của bất kỳ cơ sở, đơn vị sản xuất và cunh ứng dịnh vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ
tầng, mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực hiện các
chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tạo ra. Đây
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư. Đối với các đơn vị đang hoạt động, khi cơ sở vật chất , kỹ
thuật của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng cần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật
chất - kỹ thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự
phát triển khoa học, kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùg của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị
mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, đó cũng chính là hoạt động đầu tư.
1.4) Nguồn vốn cho đầu tư phát triển
Nguồn lực để thực hiện đầu tư là vốn.Nội dung và nguồn gốc của vốn là những vấn đề cốt lõi cần
phải giải quyết của lý thuyết đầu tư phát triển.Bản chất của đầu tư phát triển còn được thể hiện ở nội dung
vốn và nguồn vốn đầu tư, lý luận biện chứng về mối quan hệ hữu cơ giữa hai vấn đề này.
Vốn đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của vốn nói chung.Trên phương diện kinh tế,vốn đầu tư phát
triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra để tạo ra năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản
cố định và tài sản lưu động) và các khoản đầu tư phát triển khác.Về cơ bản vốn đầu tư phát triển mang
những đặc trung của vốn như:(1) vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản;(2) vốn phải vận động sinh lời;
(3) vốn cần được tích tụ và tập trung đến một mức nhất định mới có thể phát huy tác dụng;(4) vốn phải
gắn với chủ sở hữu;(5) vốn có giá trị về mặt thời gian.
Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển trên phạm vi nền kinh tế bao gồm:
(a). Vốn đầu tư xây dựng cơ bản: là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới ,mở rộng,xây dựng lại
hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế quốc dân.
(b). Vốn lưu động bổ sung: bao gồm những khoản đầu tư nhằm mua sắm nguyên vật liệu,thuê mướn
lao động…làm tăng tài sản lưu động trong kỳ của toàn bộ xã hội.
(c). Vốn đầu tư phát triển khác: là tất cả cá khoản đầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực phát triển
của xã hội,nâng cao trình độ dân trí,cải thiện chất lượng môi trường.Ví dụ như vốn đầu tư cho lĩnh vực
giáo dục:chương trình phổ cập giáo dục,nghiên cứu,triển khai đầo tạo…Vốn chi cho các chương trình mục
tiêu quốc gia nhằm tăng cường sức khoẻ cộng đồng như chương trình tiêm chủng mở rộng,chương trình
nước sạch nông thôn…
Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ chỉ các nguồn tích luỹ,tập trung và phân phối cho đầu tư.Về
bản chất,nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể
huy động để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội.Nguồn vốn đầu tư phát triển trên phương diện vĩ mô,bao
gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài.Nguồn vốn trong nước gồm:vốn nhà nước,vốn dân
doanh và vốn trên thị trường vốn.Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI),
vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA),vốn vau thương mại nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn
quốc tế.Trong mỗi thời kỳ khác nhau,quy mô và tỷ trọng vốn của từng nguồn vốn có thể thay đổi nhưng
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
để chủ động phát triển KTXH của quốc gia theo định hướng chiến lược và kế hoạch đặt ra,cần nhất quán
quan điểm:xem vốn trong nước giữ vai trò quết định,vốn nước ngoài là quan trọng.
II) Nội dung cơ bản về đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
2.1) Khái niệm
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệplà hoạt động sử dụng vốn cùng các nguồn lực khác trong hiện
tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng them tài sản của DN, tạo them việc làm và nâng cao đời sống
các thành viên trong đơn vị.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2.2)Tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Qua phân tích nghiên cứu các nội dung của đầu tư trong doanh nghiệp chúng ta thấy rằng đầu tư
quyết định sự ra đời , tồn tại và phát triển của mỗidoanh nghiệp. Để tạo dựng cơ sở vật chất cho sự ra đời
của bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải xây dựng văn phòng , nhà xưởng , mua sắm lắp đặt máy móc thiết
bị trong quá trình hoạt động cơ sở vật chất này bị hư hỏng hao mòn , doanh nghiệp phải bỏ chi phí để
sửa chữa. Đáp ứng nhu cầu của thị trường và thích ứng với quá trình đổi mới phát triển của khoa học kĩ
thuật ,các doanh nghiệp phải đổi mới cơ sở vật chất kĩ thuật , quy trình công nghệ.Tất cả các hoạt động
đó đều là hoạt động đầu tư.
Qúa trình đầu tư trong doanh nghiệp có những vai trò quan trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp qua cá mặt sau :
Thứ nhất:Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp , xã hội liên tục phát triển ,
nền kinh tế toàn cầu nói chung, nền kinh tế mỗi quốc gia nói riêng cũng vì thế mà không ngừng vận động
phát triển.
Thị trường ngày càng trở nên sôi động , nhu cầu của con người phát triển đòi hỏi tiêu dùng nhiều hơn
, hàng hoá phải có chất lượng cao ,mẫu mã đẹp đa dạng và phong phú.Vì thế mà các nhà cung cấp sản
phẩm , dịch vụ cho thi jtrường muốn tồn tại được thì phải đáp ứng nhu cầu đó của dân cư.Vì tất lẽ đó mà
đòi hỏi nhà sản xuất phải tiến hành đầu tư phát triển.Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có thể được tiến
hành theo những chiến lược khác nhau để giành được thế cạnh tranh trên thị trường.Do đó đầu tư tạo điều
kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ hai: Đầu tư tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm
Như chúng ta đã biết , đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm: đầu tư vào lao động , đầu tư vào tài sản
cố định , đầu tư vào hàng dự trữ …Tất cả việc đầu tư này nhằm mục đích là tạo ra một sản phẩm với chất
lượng cao , mẫu mã đẹp để đáp ứng nhu cầu của con người trong xã hội hiện đại. Điều này đã được chứng
minh , trong nhưng năm qua các doanh nghiệp muốn tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì căn bản nhất
là phải nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành
Thứ ba là: Đâu tư tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất , tăng lợi nhuận
Không có doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh lại không đặt mục tiêu về lợi nhuận. Không
chỉ là mong muốn có lợi nhuận mà họ còn mong muốn tiền của họ không ngừng tăng lên tức là quy mô lợi
nhuận ngày càng được mở rộng.
Hoạt động đầu tư của mỗi doanh nghiệp chính là hoạt động nhằm thực hiện chiến lược sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đó với mục tiêu đạt được lợi nhuận mà doanh nghiệp đề ra.Khi lợi nhuận càng
cao thì lợi ích càng lớn và ngược lại .Lợi nhuận được quy mô bởi doanh thu và chi phí theo công thức:
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Doanh thu có lớn hay không lại phụ thuộc vào quá trình đầu tư của doanh nghiệp.Nếu đầu tư
mang lại hiệu quả cao thì doanh thu sẽ nhiều .Như vậy đầu tư đã tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất, tăng
lợi nhuận.
Thứ tư là: Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ , trình độ khoa học kĩ thuật trong sản xuất sản phẩm
của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường , các doanh nghiệp luôn luôn chú trọng đến việc đổi mới nhằm nâng cao
sức cạnh tranh của mình.Và một trong các công việc đầu tư của doanh nghiệp là đầu tư vào tài sản cố
định. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị , đổi mới công nghệ nhằm
nâng cao năng suất , đổi mới sản phẩm cả về chủng loại mẫu mã và chất lượng…
Như vậy có thể thấy dưới sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ , mỗi doanh
nghiệp đều nhận thấy vai trò to lớn của đầu tư cho công nghệ cũng như hiện đại hoá máy móc thiết bị
trong quá trình sản xuất.Hay nói cách khác đầu tư góp phần đổi mới công nghệ trình độ khoa học kĩ thuật.
Thứ năm: Đầu tư góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Để hoạt động được và hoạt động hiệu quả , bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần có đội ngũ lao
động có trình độ , kĩ năng.Trình độ kĩ năng của người lao động ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh
doanh và chất lượng sản phẩm.Cùng với điều kiện sản xuất như nhau nhưng lao động có trình độ sẽ tạo ra
sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Đầu tư vào lao động bao gồm những hoạt động như đầu tư vào đào tạo
cán bộ quản lí , tay nghề công nhân các chi phí để tái sản xuất sức lao động
2.3) Những nội dung cơ bản
2.3.1) Đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới máy móc thiết bị công nghệ ở doanh nghiệp
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng đòi hỏi ngày càng cao cũng như đối phó với các đối thủ cạnh
tranh tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì doanh nghiệp không còn con đường nào khác là phải
nâng cao chất lượng sản phẩm của mình hạ giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh đồng thời tăng
năng suất lao động , cải tiến công nghệ và phát triển các loại hàng hoá dịch vụ mới để thoả mãn những đòi
hỏi của thị trường, vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư vào đổi mới máy móc thiết bị và công
nghệ.
Việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ ở các doanh nghiệp xem xét các vấn đề sau:
Thứ nhất là :vòng đời của máy móc thiết bị và công nghệ.
Chu kì phát triển của máy móc thiết bị và công nghệ như sau: xuất hiện , tăng trưởng , trưởng thành ,
bão hoà , chu kì ddos gọi là vòng đời của máy móc thiết bị. Đổi mới máy móc thiết bị , công nghệ cũng
phải căn cứ vào vòng đời này để quyết định thời điểm đầu tư thích hợp nhằm đảm bảo hiệu quả của đồng
vốn.
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ hai là: phân tích môi trường kinh doanh.
-Phần lớn máy móc thiết bị công nghệ chủ yếu phải nhập từ nước ngoài hoặc qua chuyển công nghệ
nên cần phải phân tích môi trường quốc tế như các vấn đề pháp luật , quyền sở hữu bằng phát minh sáng
chế , chuyên gia công nghệ …Bên cạnh đó cần phải xem xét phân tích môi trường văn hoá như phong tục
tập quán , định chế xã hội của nước có công nghệ xuất khẩu.Các vấn đề hệ thống chính trị , các chính sách
như chính sách thương mại , quan hệ kinh tế đối ngoại cũng cần xem xét một cách kĩ lưỡng.
-Phân tích môi trường kinh tế quốc dân cần chủ động đối với các yếu tố kinh tế , chính trị xã hội ,
điều kiện tự nhiên , nắm bắt được thực trạng nền kinh tế đang ở giai đoạn nào , tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu

-Phân tích môi trường ngành và nội bộ ngành
Tập trung và tìm hiểu xem có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh tiềm lực và khả năng của họ như thế nào , sản
phẩm của họ đóng vai trò như thế nào đối với người tiêu dùng, họ đang sử dụng máy móc thiết bị công
nghệ nào .
Thứ ba là: phân tích thực trạng nội bộ doanh nghiệp
-Phân tích nhóm nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực bao gồm :
+ Trình độ nghề nghiệp của công nhân sản xuất trực tiếp .
+Trình độ của cán bộ lãnh dạo , nhất là năng lực lãnh đạo kĩ thuật.
-Phân tích vị thế của doanh nghiệp trên thị trường:
+Nguồn tài chính là vấn đề cần chú ý lựa chọn mục tiêu vừa phải và c ó hướng đi phù hợp.
+Cần xem xét quy mô vốn có thể huy động và đặc điểm kinh tế-kĩ thuật của mỗi ngành .
-Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng hiện có hoặc có các biện pháp bổ xung thích hợp với máy móc
thiếp bị và công nghệ dự kiến sẽ lựa chọn.
Thứ tư là: phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết bị và công nghệ
-Xem xét xu hướng lâu dài của máy móc thiết bị và công nghệ để đảm bảo ttránh sự lạc hậu hoặc khó
khăn gây trở ngại cho việc sử dụng máy móc thiết bị trong khi chưa thu hồi đủ vốn.
-Lựa chọn máy móc thiết bị mà các dụng cụ thay thế sẵn có trong nước hoặc là được đảm bảo chắc chắn
có phụ tàng thay thế.
-Máy móc công nghệ phải lựa chọn loại có nhiều nguồn vốn cung cấp để tạo ra sự cạnh tranh giữa các
nhà cung cấp để mua được công nghệ với giá phải chăng , tạo thế chủ động cho hoạt động sau này.
-Xem xét toàn diện khía cạnh kinh tế kĩ thuật của máy móc thiết bị và công nghệ để lựa chọn công nghệ
thích hợp , tối ưu với điều kiện của doanh nghiệp.
Thứ năm là : phân tích các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
-Giảm bớt cường độ lao động , các công việc nặng nhọc , thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp
theo hướng tăng tỷ trọng lao động có chuyên môn kỹ thuật , giảm tỷ trọng lao động tay nghề thấp , không
có trình độ nghiệp vụ.
-Tác động đến cơ cấu tổ chức cũng như tổ chức sản xuất của doanh nghiệp theo hướng tinh gọn , năng
động và hiệu quả.
-Cải thiện môi trường lao động theo hướng giảm dần các yếu tố và khu vực độc hại , phát triển công nghệ
sạch.
2.3.2) Đầu tư bổ xung hàng dự trự
Hàng dự trữ là hàng hoá mà doanh nghiệp giữ lại trong kho bao gồm cả vật tư nguyên liệu , bán
thanh phẩm và thanh phẩm.
*Đặc điểm của đầu tư hàng dự trữ
-Dự trữ chuyển hoá thành các dạng khác nhau trong quá trình sản xuất
-Quy mô đầu tư vào dự trữ phụ thuộc vào nhiều nhân tố như dự đoán cầu trong tương lai , phụ thuộc vào
quy luật tiêu dùng nhu cầu riêng biệt của mỗi mặt hàng và quy luật tiêu dùng ở thời kì quá khứ sẽ được
phản ánh tương tự ở kì dự báo.
-Phụ thuộc vào khách hàng , sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có tham vọng chiếm
lĩnh thị trường .
-Phụ thuộc vào mức độ chậm trễ của khâu phân phối lưư thông thể hiện ở một bộ phận dự trữ .
-Chi phí dự trữ
*Vai trò của dự trữ
Dụ trữ luôn là vấn đề sống còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan , nó đảm bảo tính liên tục và hiệu quả
của sản xuất và tiêu dùng .
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Trong mô hình dự trữ JIT ( Just in time ) chỉ ra:
Nếu dự trữ thật nhiều dẫn đến ứng đọng vốn , hàng hoá hỏng , tăng chi phí bảo quản không hiệu quả.
Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất , không đủ hàng hoá để bán và dẫn đến gián đoạn
sản xuất kinh doanh .
Cần phải phân biệt giữa dự trữ và tinh trạng dư thừa ứng đọng sản phẩm trong các doanh nghiệp.
2.3.3) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Bất cứ một loại hình doanh nghiệp nào đều phải quan tâm đến lao động trong quá trình đầu tư của
mình.Việc quan tâm đến lao động trong doanh nghiệp không chỉ về mặt số lượng mà cần quan tâm cả mặt
chất lượng.Số lượng lao động ảnh hưởng đến quy mô sản xuất của doanh nghiệp, còn chất lượng lao động
ảnh hưởng đến cường độ lao động , năng suất lao động.Việc tăng chất lượng lao động chỉ băng cách đầu
tư cho y tế , giáo dục đào tạo , dạy nghề Từ đó nâng cao thể lực , trình độ ,tay nghề của người lao động .
Trong điều kiện hiện nay nhiều doanh nghiệp coi việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là chiến lược
canh tranh.Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm :Cán bộ quản lí , công nhân sản xuất và cán bộ
nghiên cứu khoa học. Đối với từng loại phải có chính sách đào tạo riêng nhưng đều phải liên tục được tu
dưỡng rèn luyện nghiên cứu học tập để nâng cao kinh nghiệm , trình độ tay nghề.
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bắt đầu từ khâu tuyển người lao động. Đây là cơ sở
để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận
nhất.Tuyển người hiện nay đòi hỏi phải đạt được các yêu cầu như : Trình độ văn hoá , ngoại ngữ, trình độ
vi tính …Tiếp đến là quá trình nâng cao khả năng lao động của người lao động thường xuyên.Trong điều
kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại đã và đang được ứng dụng trong các loại hình doanh
nghiệp nước ta.Vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan trọng .Cuối cùng là việc khen
thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao
năng suất lao động. Các hinh thức khen thưởng đang được thực hiện ở các doanh nghiệp các cá nhân
thành viên có thanh tích tốt đều được thưởng xứng đáng góp phần nâng cao trong xí nghiệp , công ty , các
cuộc thi các cá nhân …Nhờ có chính sách đào tạo lao động nhiều doanh nghiệp đã đạt được những thanh
công to lớn , góp phần không nhỏ trong chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như chiến lược cạnh tranh
của mình.
2.3.4) Đầu tư vào nghiên cứu và triển khai
Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ là lĩnh vực đầu tư không thể thiếu được của các doanh nghiệp
kinh doanh nói chung.Nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, đẩm bảo sức mạnh và vị trí canh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường hiện tại cũng như tương lai.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Mục đích của các chương trình và dự án R&D không chỉ dừng lại ở dạng nghiên cứu ứng dụng,
nghiên cứu nhằm tăng chất lượng sản phẩm , tạo nên sản phẩm có đặc điểm nổi bật hơn mà còn tập trung
nghiên cứu tìm kiếm , phát triển kỹ thuật và công nghệ mới nhất cho doanh nghiệp .Có thể nói R&D là
phần không thể thiếu được trong các hoạt động của doanh nghiệp. Đầu tư vào R&D là một trong những
yếu tố giúp các công ty giảm được các chi phí liên quan đến sản xuất kinh doanh.
*Các yếu tố ảnh hưởng đến nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp
-Khả năng tài chính của doanh nghiệp: khả năng tài chính của doanh nghiệp sx cho phép xác định được
khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp.
-Quy mô sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp: quy mô sản xuất kinh doanh cang lớn thì khả năng quy
mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn .
-Cơ hội về đổi mới kĩ thuật và các cơ hội trong ngành : những ngành có nhiều cơ hội đổi mới công nghệ
và kĩ thuật đòi hỏi các doanh nghiệp trong ngành đó phải tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời
các cơ hội về kĩ thuật và công nghệ của ngành.
Khi đánh giá hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai các doanh nghiệp thường dựa trên một số quan
điểm sau :
Thứ nhất là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu triển khai phải được xem xét đánh giá toàn diện về các mặt
tài chính kinh tế xã hội , môi trường .
Thứ hai là ,hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai vừa có thể lượng hoá được vừa có thể không
lượng hoá được.Do đó kết quả của đầu tư cho nghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng
hiện hoặc dưới dạng ẩn tuỳ theo dự án , chương trình nghiên cứu.
Tóm lại có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp. Các chương trình và dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp
các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như các ảnh hưởng
khác.
2.3.5) Đầu tư vào hoạt động nghiên cứu thị trường
Thứ nhất là : đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp trước hết là nghiên cứu khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Có thể nói cạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường của doanh nghiệp , sẽ không có thị
trường nếu không có cạnh tranh , trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp ,
người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận và sự tiện ích của chính mình , khả năng cạnh tranh là nguồn năng
lượng thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội nhập kinh tế.
Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kĩ năng cạnh tranh rất thuần
thục , nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặc trưng doanh nghiệp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét