Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác dự toán ngân sách tại công ty 32

5
ngân sách dự kiến tương ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác
nhau. Thơng thường dự tốn linh hoạt được lập ở 3 mức độ hoạt động cơ bản
là: Mức độ hoạt động bình thường, trung bình; mức độ hoạt động khả quan
nhất; mức độ bất lợi nhất. Ưu điểm của dự tốn linh hoạt là có thể thích ứng
với sự thay đổi của hoạt động kinh doanh, mở rộng phạm vi dự tốn, tránh
được việc sửa đổi dự tốn một cách phiền phức khi mức độ hoạt động thay
đổi. Mặt khác, có thể dùng dự tốn để xem xét tình hình thực hiện trong thực
tế .
• Dự tốn ngân sách cố định: Là dự tốn tại các số liệu tương ứng với một
mức độ hoạt động ấn định trước. Dự tốn ngân sách cố định phù hợp với
doanh nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định. Dự tốn cố định chỉ dựa vào một
mức độ hoạt động mà khơng xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ
dự tốn. Nếu dùng dự tốn này để đánh giá thành quả kinh doanh của một
doanh nghiệp mà các nghiệp vụ ln biến động thì khó đánh giá được tình
hình thực hiện dự tốn của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Phân loại theo mức độ phân tích
• Dự tốn từ gốc: Là khi lập dự tốn gạt bỏ hết những số liệu dự tốn đã tồn
tại trong q khứ và xem các nghiệp vụ kinh doanh như mới bắt đầu. Tiến
hành xem xét khả năng thu nhập, những khoản chi phí phát sinh và khả năng
thực hiện lợi nhuận của doanh nghiệp để lập các báo cáo dự tốn. Các báo
cáo dự tốn mới sẽ khơng lệ thuộc vào số liệu của báo cáo dự tốn cũ. Dự
tốn từ gốc khơng chịu hạn chế các mức chi tiêu đã qua, khơng có khn
mẫu vì thế nó đòi hỏi nhà quản lý các cấp phải phát huy tính năng động chủ
quan và tính sáng tạo và căn cứ vào tình hình cụ thể để lập dự tốn ngân
sách. Phương pháp dự tốn từ gốc có nhiều ưu điểm. Thứ nhất, nó khơng lệ
thuộc vào các số liệu của kỳ q khứ. Thơng thường thì các doanh nghiệp
thường hay dựa vào số liệu của các báo cáo dự tốn cũ kết hợp với mục tiêu
mới để lập dự tốn ngân sách cho năm sau. Nhưng cách lập dự tốn ngân
sách như vậy sẽ che lấp và lệ thuộc vào các khuyết điểm ở kỳ q khứ và cứ
để các thiếu sót, các khuyết điểm của kỳ q khứ tồn tại mãi trong doanh
nghiệp. Dự tốn từ gốc sẽ khắc phục nhược điểm này trong q trình lập dự
6
tốn. Thứ 2, phương pháp dự tốn từ gốc là phát huy mạnh mẽ tính chủ động
và sáng tạo của bộ phận lập dự tốn. Quan điểm của các bộ phận lập dự tốn
khơng bị ảnh hưởng, chi phối bởi những quan điểm sai lầm của những người
đi trước. Thơng thường thì các bộ phận lập dự tốn có khuynh hướng dựa
vào ý định của người quản lý cùng với các quy định có sẵng để lập dự tốn,
thiếu chủ động suy nghĩ về tình hình tương lai, khơng mạnh dạn khai thác cơ
hội phát triển cơng việc. Vì vậy, làm cho cơng tác dự tốn chỉ mang tính hình
thức, mất đi tính hiệu quả thực sự.
Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là tất cả mọi hoạt động
phân tích, nghiên cứu đều bắt đầu từ con số khơng, khối lượng cơng việc
nhiều, thời gian dùng lập dự tốn dài, kinh phí cho việc lập dự tốn cao và
cũng khơng thể chắc chắn rằng số liệu dự tốn từ gốc chính xác hồn tồn,
khơng có sai sót.
Dự tốn cuốn chiếu: Dự tốn cuốn chiếu còn gọi là dự tốn nối mạch. Dự
tốn theo phương pháp này là các bộ phận lập dự tốn sẽ dựa vào các báo cáo
dự tốn cũ của doanh nghiệp và điều chỉnh với những thay đổi trong thực tế
để lập các báo cáo dự tốn mới. Ví dụ chu kỳ lập dự tốn ngân sách năm (12
tháng) cứ 1 tháng đi qua thì chỉ còn 11 tháng thì doanh nghiệp lại sử dụng
báo cáo dự tốn cũ (báo cáo dự tốn tháng 1) để lập thêm báo cáo dự tốn
cho tháng tiếp theo (tháng 2). Trong trường hợp có sự thay đổi mức độ hoạt
động hoặc có sự chênh lệch giữa báo cáo dự tốn ngân sách cũ (tháng 1) và
số liệu thực tế tháng 1 thì sẽ tiến hành điều chỉnh hoặc sửa đổi dự tốn cũ (dự
tốn tháng 1) cho phù hợp với tình hình mới, rồi từ đó làm cơ sở cho việc lập
dự tốn tháng tiếp theo sau.
Ưu điểm của phương pháp này là các báo cáo dự tốn được soạn thảo, theo
dõi và cập nhật một cách liên tục, khơng ngừng. Dự tốn cuốn chiếu giúp cho
các nhà quản lý doanh nghiệp có thể kế hoạch hóa liên tục các hoạt động
kinh doanh của các năm một cách liên tục mà khơng phải đợi đến kết thúc
việc thực hiện dự tốn năm cũ mới có thể lập dự tốn ngân sách cho năm
mới.
7
Khuyết điểm của phương pháp này là q trình lập dự tốn ngân sách lệ
thuộc rất nhiều vào các báo cáo dự tốn cũ, khơng phát huy tính chủ động
sáng tạo của các bộ phận lập dự tốn ngân sách.
1.1.3 Mục đích, chức năng của dự tốn ngân sách:
1.1.3.1 Mục đích của dự tốn ngân sách
• Dự tốn ngân sách giúp các nhà quản trị cụ thể hóa các mục tiêu của doanh
nghiệp bằng các số liệu.
• Dự tốn ngân sách liên kết các đơn vị trong tổ chức để cùng thực hiện các
mục tiêu của nhà quản trị.
• Dự tốn ngân sách cung cấp cho nhà quản trị doanh nghiệp tồn bộ thơng tin
về kế hoạch ngân sách sản xuất, kinh doanh trong từng thời gian cụ thể và cả
q trình sản xuất kinh doanh.
• Dự tốn ngân sách là căn cứ đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã dự
kiến. Từ đó thấy được những mặt mạnh cần phát huy và những tồn tại cần có
giải pháp hữu hiệu để khắc phục; làm cơ sở cho các quyết định kinh doanh
tồi ưu.
• Dự tốn ngân sách giúp nhà quản trị kiểm sốt q trình hoạt động của doanh
nghiệp và đánh giá trách nhiệm quản lý cuả từng bộ phận trong doanh
nghiệp.
• Là căn cứ để khai thác các khả năng tiềm tàng về nguồn lực tài chính nhằm
phát huy nội lực và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.3.2 Chức năng của dự tốn ngân sách
Chức năng hoạch định: Chức năng hoạch định của dự tốn ngân sách
thể hiện ở việc hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể như hoạch định về sản
lượng tiêu thụ, sản xuất, chi phí ngun vật liệu trực tiếp, chi phí nhân cơng trực
tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng v.v…
dự tốn ngân sách được xem là cơng cụ để lượng hố các kế hoạch của nhà quản trị.
Chức năng điều phối: Chức năng điều phối của dự tốn ngân sách thể
hiện ở việc huy động và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nhà
quản trị. Nhà quản trị kết hợp giữa hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và
việc đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh thực tế của từng bộ phận để điều phối
8
các nguồn lực của doanh nghiệp tới các bộ phận sao cho việc sử dụng đạt hiệu quả
cao nhất.
Chức năng thơng tin: Chức năng thơng tin của dự tốn ngân sách thể
hiện ở chỗ dự tốn ngân sách là văn bản cụ thể, súc tích truyền đạt các mục tiêu,
chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đến các nhà quản lý các bộ phận, phòng
ban. Thơng qua các con số trong báo cáo dự tốn nhà quản trị đã truyền thơng điệp
hoạt động cho các bộ phận và các bộ phận dựa vào cơ sở số liệu đó làm kim chỉ
nam cho mọi hoạt động hàng ngày.
Chức năng kiểm sốt: Chức năng kiểm sốt của dự tốn ngân sách thể
hiện ở việc dự tốn ngân sách được xem là cơ sở, là thước đo chuẩn để so sánh, đối
chiếu với số liệu thực tế đạt được của cơng ty thơng qua các báo cáo kế tốn quản
trị. Lúc này thì dự tốn ngân sách đóng vai trò kiểm tra, kiểm sốt. Khi đóng vai trò
kiểm sốt, dự tốn ngân sách quan sát việc thực hiện các kế hoạch chiến lược, đánh
giá mức độ thành cơng và trong trường hợp cần thiết có thể có phương án sữa chữa,
khắc phục yếu điểm.
Chức năng đo lường, đánh giá: Chức năng đo lường, đánh giá của dự
tốn ngân sách thể hiện ở việc dự tốn ngân sách cung cấp một thước đo chuẩn,
một khn khổ chuẩn để đánh giá hiệu quả của nhà quản lý trong việc đạt được các
mục tiêu đã đề ra.
Dự tốn ngân sách là cơng cụ quản lý đa chức năng. Tuy nhiên chức năng nổi
bật nhất của dự tốn ngân sách vẫn là hoạch định và kiểm sốt.
1.2 Các mơ hình lập dự tốn ngân sách, quy trình lập dự tốn ngân sách và
mối quan hệ giữa các bộ phận dự tốn trong doanh nghiệp
1.2.1 Các mơ hình lập dự tốn ngân sách của doanh nghiệp
Xét về cơ chế dự tốn ngân sách có thể được lập theo 3 mơ hình sau:
1.2.1.1 Mơ hình 1: Mơ hình ấn định thơng tin từ trên xuống
Theo mơ hình này các chỉ tiêu dự tốn được định ra từ ban quản lý cấp cao
của tổ chức, sau đó truyền xuống cho quản lý cấp trung gian, sau khi quản lý cấp
trung gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở ?? làm mục tiêu, kế
hoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong doanh nghiệp.

9
Nhận xét mơ hình 1:
Lập dự tốn theo mơ hình này mang nặng tính áp đặt từ quản lý cấp cao
xuống nên rất dễ tạo ra sự gây ra sự bất bình của các bộ phận riêng lẻ trong doanh
nghiệp. Đơi khi dự tốn do nhà quản lý cấp cao tự ấn định sẽ q cao hoặc q thấp
so với mức độ hoạt động và năng lực thực tế của bộ phận, điều này khơng khuyến
khích sự cộng tác chung sức và tăng năng suất của các bộ phận trong tổ chức. Tâm
lý của nhiều người thì họ thích làm những gì mà mình hoạch định hơn là những gì
áp đặt từ bên ngồi vì thế dự tốn ngân sách khó có thể thành cơng.
Khi lập dự tốn ngân sách theo mơ hình này đòi hỏi nhà quản lý cấp cao phải
có tầm nhìn tổng qt, tồn diện về mọi mặt của doanh nghiệp và nhà quản lý cấp
cao phải nắm vững chặt chẽ chi tiết hoạt động của từng bộ phận trong doanh
nghiệp cả về mặt định tính và định lượng, điều này chỉ phù hợp với doanh nghiệp
có qui mơ nhỏ, có ít sự phân cấp về quản lý hoặc được sử dụng trong những trường
hợp hoặc tình thế đặc biệt mà buộc doanh nghiệp phải tn theo sự chỉ đạo của quản
lý cấp cao hơn.
1.2.1.2 Mơ hình 2: Mơ hình thơng tin phản hồi.
Theo mơ hình này thì việc lập dự tốn được thực hiện theo qui trình sau:
Các chỉ tiêu dự tốn đầu tiên được ước tính từ ban quản lý cấp cao nhất trong
doanh nghiệp, dự tốn lúc này mang tính dự thảo và được truyền xuống cho các cấp
quản lý trung gian. Trên cơ sở đó các đơn vị quản lý trung gian sẽ phân bổ xuống
các đơn vị cấp cơ sở. Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào các chỉ tiêu dự
thảo, căn cứ vào khả năng và điều kiện của mình để xác định các chỉ tiêu dự tốn có
thể thực hiện được và những chỉ tiêu dự tốn cần giảm bớt hoặc tăng lên. Sau đó bộ
phận quản lý cấp cơ sở bảo vệ dự tốn của mình trước bộ phận quản lý cấp trung
gian.
Bộ phận quản lý cấp trung gian, trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu dự tốn từ
các bộ phận cấp cơ sở, kết hợp với kinh nghiệm và tầm nhìn tổng qt tồn diện
hơn về hoạt động của các bộ phận cấp cơ sở, để xác định các chỉ tiêu dự tốn có thể
thực hiện được của bộ phận mình và tiến hành trình bày và bảo vệ trước bộ phận
quản lý cấp cao hơn.
10
Bộ phận quản lý cấp cao trên cơ sở tổng hợp số liệu dự tốn từ các bộ phận
cấp trung gian, kết hợp với tầm nhìn tổng qt, tồn diện về tồn bộ hoạt động của
tổ chức, hướng các bộ phận khác nhau đến mục tiêu chung. Bộ phận quản lý cấp
cao sẽ xét duyệt thơng qua các chỉ tiêu dự tốn của bộ phận quản lý trung gian và
bộ phận quản lý trung gian xét duyệt thơng qua cho bộ phận quản lý cơ sở. Và khi
dự tốn đã được xét duyệt sẽ trở thành dự tốn chính thức được sử dụng như định
hướng hoạt động của kỳ kế hoạch.
Nhận xét mơ hình 2:
Lập dự tốn theo mơ hình này sẽ thu hút được trí tuệ và kinh nghiệm của các
cấp quản lý khác nhau vào q trình lập dự tốn. Mơ hình này thể hiện được sự
chung sức trong việc xây dựng dự tốn ngân sách trong doanh nghiệp từ quản lý
cấp cơ sở đến nhà quản lý cấp cao, vì vậy dự tốn sẽ có tính chính xác và độ tin cậy
cao. Dự tốn được lập trên sự tổng hợp về khả năng và điều kiện cụ thể của các cấp
quản lý nên chắc chắn tính khả thi sẽ cao. Tuy nhiên nếu lập dự tốn theo mơ hình
này sẽ phải tốn nhiều thời gian và chi phí cho việc thơng tin dự thảo, phản hồi, xét
duyệt và chấp thuận. Hơn nữa, việc lập dự tốn theo mơ hình này đòi hỏi có sự liên
kết chặt chẽ giữa các bộ phận và sự liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong mỗi
bộ phận để có thể đưa ra những số liệu dự tốn phù hợp với bộ phận của mình, vì
vậy nhân tố con người đóng vai trò quan trọng, các thành viên và các bộ phận trong
doanh nghiệp phảûi đồn kết và đồng lòng thực hiện mục tiêu chung của doanh
nghiệp.
1.2.1.3 Mơ hình 3: Mơ hình thơng tin từ dưới lên
Theo mơ hình này, dự tốn được lập từ cấp quản lý cấp thấp nhất đến cấp
quản lý cấp cao nhất. Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào khả năngvà điều
kiện của cấp mình để lập dự tốn, sau đó trình lên quản lý cấp cao hơn (quản lý cấp
trung gian). Quản lý cấp trung gian tổng hợp số liệu của cấp cơ sở và trình lên quản
lý cấp cao. Quản lý cấp cao sẽ tổng hợp số liệu của quản lý cấp trung gian và kết
hợp với tầm nhìn tổng qt tồn diện về tồn bộ hoạt động doanh nghiệp của quản
lý cấp cao, mục tiêu ngắn hạn, chiến lược dài hạn của doanh nghiệp để xét duyệt
thơng qua dự án. Khi dự án được xét duyệt thơng qua sẽ chính thức đi vào sử dụng.

11
Nhận xét mơ hình 3:
Lập dự tốn ngân sách theo mơ hình này rất thống, hầu như mọi việc đều để
cho các bộ phận tự quyết định. Người trực tiếp tham gia trong các hoạt động hàng
ngày của doanh nghiệp lập dự tốn thì số liệu sẽ chính xác hơn và thực tế hơn. Tâm
lý chung thì mọi người sẽ thích làm những gì do mình đặt ra, vì vậy dự tốn mang
tính khả thi cao và kéo mọi người trong tổ chức cùng hướng đến mục tiêu chung
của tổ chức.
Việc để cho các bộ phận tự lập dự tốn của bộ phận mình sẽ phát huy rất tích
cực vai trò kiểm tra của dự tốn ngân sách, buộc mọi người trong tổ chức phấn đấu
đạt được kế hoạch do chính mình lập ra. Nếu các bộ phận khơng đạt được các chỉ
tiêu như trong dự tốn thì họ chỉ có thể trách mình chứ khơng thể đổ lỗi cho bất kỳ
ai được. Dự tốn theo mơ hình này rất phù hợp với cơng ty lớn, hoặc các tập đồn
vì thể hiện sự phân quyền trong quản lý.
Lập dự tốn theo mơ hình này khơng tốn nhi ều thời gian và chi phí nhưng
vẫn hiệu quả
Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của mơ hình chính là việc để cho các cơ sở
tự định dự tốn của mình nên có thể xảy ra tình trạng lập dự tốn thấp hơn năng lực
thật sự mà họ có thể thực hiện được. Lúc này dự tốn ngân sách khơng phát huy
được tính tính cực của nó mà còn làm trì trệ các hoạt động sản xuất, lãng phí tài
ngun và năng lực của doanh nghiệp, khơng khai thác hết khả năng tiềm tàng của
doanh nghiệp. Vì vậy nhà quản lý cấp cao cần kiểm tra, cân nhắc kỹ lưỡng trước
khi chấp nhận ngân sách tự định của cấp dưới. Nếu có những khoản mục nào đáng
nghi ngờ thì phải thảo luận với quản lý các cấp dưới cho đến khi đạt được sự chấp
nhận.
Nhận xét chung
Trong 3 mơ hình trên thì mỗi mơ hình có ưu điểm và nhược điểm nhất định.
Tùy theo đặc điểm của từng tổ chức sẽ chọn mơ hình phù hợp cho việc lập dự tốn
ngân sách tại đơn vị mình. Tuy nhiên mơ hình lập dự tốn ngân sách từ dưới lên
chịu nhiều ảnh hưởng của lý luận quản lý hiện đại, nhấn mạnh cơ chế khuyến khích
cổ vũ nhân viên bằng sự cùng tham gia nhiều hơn là ép buộc. Hiện nay theo xu thế
chung, thì quản lý hiện đại đang được phát triển và sử dụng ở nhiều cơng ty, nhiều
12
tập đồn thay cho quản lý kiểu truyền thống, tập quyền trước đây, nên dự tốn theo
mơ hình từ dưới lên được các doanh nghiệp ưa chuộng.
Thực chất, trong q trình lập dự tốn ngân sách tất cả các cấp quản lý trong
tổ chức cần kết hợp với nhau, cùng làm việc chung với nhau để lập dự tốn ngân
sách hồn chỉnh. Nhà quản lý cấp cao thì khơng quen với chi tiết, cần dựa vào nhà
quản lý cấp dưới để cung cấp chi tiết thơng tin ngân sách, nhưng họ có tầm nhìn
rộng và nắm vững các mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp. Vì vậy vấn đề con
người trong dự tốn ngân sách rất quan trọng đòi hỏi mọi người trong tổ chức
hướng đến mục tiêu chung của tổ chức, cùng bắt tay tham gia vào việc dự tốn ngân
sách và cùng thực hiện dự tốn ngân sách để dự tốn ngân sách trở nên thực tế và
khả thi hơn.
1.2.2 Qui trình quản lý ngân sách
Dự tốn ngân sách là cơng việc rất quan trọng nên khơng thể chấp nhận một
dự tốn ngân sách có nhiều sai sót. Việc lập dự tốn ngân sách một cách chính xác
ngay từ lần đầu tiên là rất khó. Lập dự tốn ngân sách cũng tương tự như cố gắng
dự đốn chính xác tương lai, trong khi đó tương lai thì khơng chắc chắn. Hơn nữa,
trong kinh doanh có nhiều vấn đề khơng thể lường trước nên khiến cho việc lập dự
tốn ngân sách càng trở nên khó khăn và thiếu thực tế. Vì vậy trước khi lập dự tốn
ngân sách cần phải hoạch định một qui trình dự tốn ngân sách để chuẩn bị tất cả
các cơng việc mà ủy ban dự tốn ngân sách cần phải làm.
Tùy theo từng cơng ty, tùy theo phong cách quản lý mà quy trình cơng việc
lập dự tốn ngân sách sẽ khác nhau. Sau đây là quy trình quản lý ngân sách cơ bản
được trình bày trong sách Managing budgets của nhà xuất bản Dorling Kindersley
Limited
13


CHUẨN BỊ
SOẠN THẢO
THEO DÕI



















S1.1 Sơ đồ quy trình quản lý ngân sách
Xác đònh rõ mục tiêu
chung của công ty
Chuẩn hóa ngân
sách
Đánh giá hệ thống
Phân tích sự khác
nhau giữa kết quả thực
tế và dự toán
Theo dõi các khác
biệt và phân tích các
sai số, kiểm tra những
điều không ngờ đến
Dự báo lại và điều
chỉnh, xem xét sử
dụng những dạng
ngân sách khác, rút
kinh nghiệm
Thu thập thông tin
sốâ liệu, chuẩn bò dự
thảo ngân sách đầu
tiên
Kiểm tra các con số
dự toán bằng cách
chất vấn và phân tích
Lập dự toán tiền mặt
để theo dõi dòng tiền
từ bảng CĐKT và báo
cáo KQHĐKD
Xem lại qui trình
hoạch đònh ngân sách
và chuẩn bò ngân sách
tổng thể
Trong quy trình tác giả cho rằng việc quản lý ngân sách chia làm 3 giai đo
ạn. Đầu tiên là giai đoạn chuẩn bị dự tốn ngân sách, sau đó là soạn thảo dự tốn
ngân sách và cuối cùng là theo dõi, kiểm tra thực hiện ngân sách.
Giai đoạn chuẩn bị
Việc đầu tiên phải làm trong q trình dự tốn ngân sách là làm sáng rõ mục
tiêu của doanh nghiệp. Dự tốn ngân sách phải lấy chiến lược và mục tiêu kinh
doanh của cơng ty làm nền tảng. Sau khi xác định rõ ràng mục tiêu của doanh
nghiệp sẽ xây dựng một mẫu dự tốn ngân sách chuẩn. Điều này giúp cho nhà quản
lý cấp cao dễ phối hợp với các dự tốn ngân sách của các bộ phận trong doanh
14
nghiệp, cho phép so sánh, kết nối giữa các nội dung một cách dễ dàng. Khi mọi thứ
đã được chuẩn bị đầy đủ cho việc lập dự tốn ngân sách thì trước khi vào soạn thảo
hãy xem xét lại hệ thống để đảm bảo rằng ngân sách sẽ cung cấp thơng tin chính
xác và phù hợp.
Giai đoạn soạn thảo
Tiếp theo sau giai đoạn chuẩn bị là giai đoạn soạn thảo dự tốn ngân sách.
Trước hết, những cá nhân có liên quan trong việc lập dự tốn ngân sách phải tập
hợp tồn bộ thơng tin về các nguồn lực sẳn có trong doanh nghiệp và các yếu tố bên
trong và bên ngồi doanh nghiệp tác động đến cơng tác dự tốn ngân sách đồng thời
ước tính thu, chi,… trên cơ sở đó soạn thảo các báo cáo dự tốn tiêu thụ, dự tốn
sản xuất, dự tốn ngun vật liệu, dự tốn tiền mặt, dự tốn bảng cân đối kế tốn,
dự tốn báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh v.v…
Giai đoạn theo dõi
Việc lập dự tốn ngân sách tại doanh nghiệp phải được lập liên tục từ năm
này sang năm khác, từ tháng này sang tháng khác. Vì vậy, sau mỗi kỳ dự tốn ngân
sách cần phải thường xun theo dõi, đánh giá tình hình dự tốn, từ đó xem xét lại
các số liệu, cơ sở lập dự tốn ngân sách và điều chỉnh khi cần thiết và để rút kinh
nghiệm cho lần lâp dự tốn ngân sách kế tiếp.
1.2.3 Trình tự lập dự tốn
Dự tốn tiêu thụ ln là dự tốn chủ đạo, dự tốn tiêu thụ phải được lập đầu
tiên. Hầu hết tất cả các báo cáo dự tốn ngân sách trong doanh nghiệp đều phụ
thuộc vào dự tốn tiêu thụ. Căn cứ vào dự báo tiêu thụ và k?t hợp với dự tốn tồn
kho sẽ tiến hành lập dự tốn sản xuất, từ dự tốn sản xuất sẽ lập dự tốn chi phí
ngun vật liệu trực tiếp, dự tốn chi phí nhân cơng trực tiếp, dự tốn chi phí sản
xuất chung. Từ dự tốn tiêu thụ sẽ lập dự tốn chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp và cuối cùng là dự tốn tài chính bao gồm dự tốn báo cáo
KQHĐKD, dự tốn báo cáo cân đơí kế tốn, dự tốn báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.3 Lợi ích của việc lập dự tốn đối với các doanh nghiệp
Việc lập dự tốn ngân sách một cách cẩn thận, phù hợp sẽ làm lợi cho doanh
nghiệp trên những mặt sau đây:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét