Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

GIÁO DỤC TRẺ MẪU GIÁO KỂ LẠI TRUYỆN THẦN THOẠI 1 CÁCH SÁNG TẠO

3. Thực nghiệm : Làm sáng tỏ một số biện pháp mà tôi đã nêu ra.
V/ Khách thể và đối tợng nghiên cứu
1. khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy trẻ 5-6 tuổi kể lai chuyện thần thoại ở trờng
mầm non .
2. Đối t ợng nghiên cứu : Một số biện pháp của giáo viên để phát huy tính sáng tạo
của trẻ.
VI/ Giả thuyết khoa học:
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi có nhu cầu và năng lực hoạt động nghệ thuật sáng tạo. Nếu
giáo viên nắm đợc khả năng này của trẻ mà tìm ra những biện pháp thiết thực trong
quá trình dạy trẻ kể lại chuyện thần thoại thì sẽ kích thích trẻ kể lại chuyện một cách
sáng tạo, phát huy khả năng tự hoạt động văn học nghệ thuật và trí tởng tợng phong
phú ở trẻ.
VII/ Phơng pháp nghiên cứu :
1. Ph ơng pháp tổng hợp, phân tích các t liệu về lý thuyết có liên quan đến đề tài nh :
- Tâm lý học về vấn đề lĩnh hội và sáng tạo của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
- Giáo dục học mẫu giáo
- Truyện thần thoại với những đặc trng cơ bản về đặc điểm thi pháp của nó.
2. Ph ơng pháp thực nghiệm :
VIII/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu :
Về cách thức tổ chức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi hoạt động kể lại chuyện thần thoại
một cách sáng tạo.
Phần II : Nội dung nghiên cứu :
Chơng I : Cơ sở lý luận của đề tài
I/ Đặc điểm tâm lý trẻ mẫu giáo liên quan đến việc tiếp nhận chuyện
thần thoại và khả năng kể lại chuyện sáng tạo ở trẻ.
1. T duy : t duy của trẻ là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối quan hệ có tính qui luật của sự vật và hiện tợng trong hiện thực khách
quan mà ta cha biết.
- Đặc điểm t duy của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi chủ yếu là t duy trực quan hình tợng , đứa
trẻ phải dựa vào hình ảnh, biểu tợng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy
luận ra những vấn đề mới. Vì vậy việc đa ra một số biện pháp dạy trẻ kể lại chuyện
thần thoại có sáng tạo phải xuất phát t đặc điểm này của trẻ. Truyện thần thoại dân
gian nó kể lại sự tích các thần, những câu chuyện này vốn do ngời thời cổ tởng tợng
ra, để giaỉ thích nguồn gốc, ý nghĩa của hiện tợng tự nhiên xã hội đợc coi là có quan
hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể, thị tộc, bộ lạc nh: trời, đất, gió ma, sông núi,
5
hạn hán, lũ lụt các hiện tợng văn học đã góp phần kích thích sự phát triển t duy của
trẻ và nó phụ thuộc rất nhiều vào ngời đem văn học đến cho trẻ (đó là cô giáo ) ở đây
cô giáo phải làm sao cho trẻ hiểu đợc các hiện tợng thiên nhiên phản ánh trong cuộc
sống để trẻ hiểu đợc và luôn luôn có mơ ớc cuộc sống có nhiều thay đổi và con ngời
luôn thắng đợc mọi thiên tai. Từ đó bằng ngôn ngữ của mình trẻ kể chuyện có thể
thêm bớt một số tình tiết có thể thay đổi trong chuyện và trẻ có thể kể theo kiểu sáng
tạo riêng của mình.
Vậy để t duy của trẻ 5-6 tuổi phát triển mạnh trẻ có thể suy luận đợc nhiều vấn đề
mới hơn. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều quá trình s phạm thứ nhất (Quá trình tìm
ra cái mới của cô cụ thể: cô kể sáng tạo truyện thần thoại) quá trình này xuất phát từ
thực tế của cách thể hiện trong cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, cờng độ, nhịp điệu, giọng kể
của cô thì mới dễ dàng hình dung, thâm nhập vào tác phẩm một cách tốt nhất. Trong
quá trình kể chuyện thì cử chỉ điệu bộ, của cô phải rõ ràng để thể hiện và xác định rõ
nét tính cách của nhân vật.
Ví dụ: truyện Sơn Tinh Thủy Tinh bằng việc thể hiện sự tức giận của Thủy
Tinh và sự vui mừng của Sơn Tinh qua nét mặt và điệu bộ Từ đó trẻ biết thể hiện
thái độ đúng đắn với từng nhân vật khi trẻ kể lại câu chuyện này hay câu chuyện khác.
Từ cách thể hiện trên sẽ giúp trẻ lấy đó làm kinh nghiệm phán đoán, nhận xét, suy
diễn theo kinh nghiệm cuae mình làm cho t duy của trẻ có cơ sở thực tiễn.
Cùng với đặc điểm t duy dựa vào các hình ảnh, các biểu tợng giúp trẻ có khă năng
vận dụng kinh nghiệm đã học kết hợp với năng lực t duy hoạt động nghệ thuật của
mình mà trẻ kể lại chuyện một cách sáng tạo.
Ngoài đặc điểm t duy hình tợng là chủ yếu thì ở độ tuổi này (5-6t) còn xuất hiện đặc
điểm t duy mới đó là t duy trực quan sơ đồ. Tức là trẻ dựa vào sơ đồ để suy luận ra
những hình ảnh, biểu tợng , những cái mà trẻ cần tìm tòi, khám phá, t duy, trực quan
sơ đồ tạo ra cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan,
không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ. Sự
phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiện cần thiết để trẻ lĩnh hội những tri
thức vợt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc
tính sinh động của chúng để đạt tới tri thức khái quát. Dựa vào đặc điểm t duy này thì
việc tổ chức cho trẻ kể lại chuyện sáng tạo theo tranh với nội dung câu chuyện là rất
phù hợp. Hơn nữa việc đó còn kích thích tính tích cực t duy tính độc lập sáng tạo của
trẻ để giúp trẻ kể lại chuyện bằng ngôn ngữ , bằng t duy của trẻ chứ không phụ thuộc
vào ngôn ngữ của văn bản chuyện.
2. T ởng t ợng : là quá trình nhận thức, phản ánh những cái cha có trong kinh nghiệm
bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh đã có.
* Đặc điểm tởng tợng của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là: Tởng tợng tái hiện và tởng tợng
sáng tạo .
6
- Tởng tợng sáng tạo : là quá trình xây dựng nên những hình ảnh mới cha có trong
kinh nghiệm cá nhân cũng nh cha có trong xã hội và nó là thành phần không thể thiếu
đợc trong hoạt động sáng tạo nói chung và sáng tạo văn học nghệ thuật của con ngời.
Đối với đặc điểm sáng tạo của trẻ thì ta phải coi Sáng tạo là một sự biến đổi, tạo
ra một cái gì mới trên cơ sở những cái mà trẻ đã lĩnh hội đợc trong quá trình hoạt
động chứ không phải chỉ bó hẹp trong những phát minh sáng tạo ra những tác phẩm vĩ
đại cuả các vị đại nhân. Tức là thông qua việc kể chuyện sáng tạo của cô mà trẻ có thể
kể lại theo trí tởng tợng sáng tạo riêng của trẻ.
Có thể nói tởng tợng của trẻ đã phát triển mạnh mẽ, gặp sự tởng tợng trong các loại
hình nghệ thuật sẽ là sự gặp gỡ phù hợp và dễ dàng cho trẻ tiếp nhận văn học thần
thoại. Tởng tợng sáng tạo của trẻ cũng bắt đầu từ những câu chuyện thần thoại mà cô
đã kể cho trẻ nghe. Tuy nhiên việc cô kể cũng phải có sự sáng tạo, việc kể sáng tạo
của cô không phải là điều gì to lớn mà đó chỉ là cách kể kết hợp với việc sử dụng
những biện pháp thông thờng nhng biết cách cải biên, nhào nặn thay đổi hình thức
cho phù hợp, luôn luôn lôi cuốn sự chú ý của trẻ và kích thích khả năng tự hoạt động
nghệ thuật ở trẻ. Từ cách kể sáng tạo của cô cũng nh việc sáng tạo hoặc xây dựng đợc
một vài chi tiết mới theo mô típ thần thoại, để kích thích trí tởng tợng sáng tạo của trẻ.
Từ đó trẻ có thể kể lại chuyện theo khả năng tởng tợng sáng tạo của mình.
Tởng tợng của trẻ chủ yếu là tởng tợng tái hiện trẻ tởng tợng dựa trên những ấn tợng
đã có trớc. Tởng tợng của trẻ mẫu giáo cũng rất giàu và tởng tợng còn là nguyên nhân
và kết quả, phơng tiện của sự lao động sáng tạo của con ngời mà chỉ ở con ngời mới
có. Với trí tởng tợng đã đa trẻ bay cao, bay xa đa trẻ tới những ớc mơ, sự khát vọng và
là thứ rất quí nó thúc đẩy khả năng sáng tạo của trẻ. Ví dụ nh: Ước mơ làm giảm nhẹ
sức lao động nh mơ có hạt lúa to và tự nó lăn về nhà hay mơ con ngời trẻ mãi không
già. Truyện chú cuội cung trăng. Những hình ảnh mà trẻ hình dung, tởng tợng đều
đợc thể hiện trong các cử chỉ, điệu bộ của trẻ khi kể lại chuyện trẻ đã thể hiện lại đợc
cách kể sáng tạo qua lời kể của cô.
Sự tởng tợng đã giúp con ngời vợt lên trên thực tại và đạt tới những điều kỳ diệu. Nó
trở thành độnglực của sự phát triển văn hóa và khoa học. Vì vậy cô giáo cần nhận thấy
đợc vị trí, vai trò của tởng tợng và phải dựa vào thế mạnh của chuyện thần thoại cùng
với biện pháp kể sáng tạo của mình, để khi kể cô biết khơi gợi trong lòng trẻ những ớc
mơ tởng tợng và cô khéo léo lồng vào hoạt động kể sẽ làm tăng thêm việc hấp dẫn,
sinh động văn học nghệ thuật và tính độc lập sáng tạo của trẻ.
Căn cứ vào đặc điểm tởng tợng của trẻ mẫu giáo ( 5-6 tuổi) chủ yếu là tởng tợng tái
tạo. Vì vậy việc kể sáng tạo của cô cũng là yếu tố rất quan trọng để đa trẻ làm chất
liệu xây dựng những hình tợng mới, những chi tiết hấp dẫn muôn màu, muôn vẻ. Bởi
vì trẻ có kinh nghiệm về kể chuyện, có biểu tợng, hình ảnh về câu chuyện thì trẻ mới
kể lại bằng trí tởng tợng sáng tạo của mình đợc. Kinh nghiệm của trẻ càng nhiều, hình
7
ảnh biểu tợng của trẻ càng phong phú thì tởng tợng của trẻ càng đa dạng. Cô sẽ sử
dụng một số biện pháp để dạy trẻ kể lại chuyện sáng tạo nhằm bồi dỡng tính tích cực
t duy, tính độc lập sáng tạo của trẻ.
3. Ngôn ngữ :
Đặc điểm về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi: Đây là tuổi có khả
năng nắm vững và lĩnh hội đợc hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ đó là ngôn ngữ nói
và ngôn ngữ bên trong. Việc nắm ngôn ngữ trong thực hành và thông hiểu ngôn ngữ
đã giúp cho đứa trẻ có thể hiểu đợc nhiều điều ngời lớn nói. Đây là một đặc điểm vô
cùng thuận lợi để đứa trẻ nghe kể chuyện. Từ đó trẻ có thể kể lại chuyện bằng ngôn
ngữ của mình.
Những câu chuyện thần thoại dân gian đã có sự lôi cuốn sự yêu thích của trẻ. Vì nó
đem đến cho trẻ nhiều ớc mơ và sự chiến thắng, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của
trẻ và rất muốn nghe truyện. Nếu nh lời kể của cô hấp dẫn, sinh động và lôi cuốn đợc
trẻ. Bằng những biện pháp kể sáng tạo cô lựa chọn lời kể trong sáng, ngắn gọn xúc
tích, tác động đến tình cảm thẩm mỹ sẽ giúp cho quá trình tiếp nhận của trẻ đợc tốt
hơn. Trẻ có thể kể lại chuyện bằng ngôn ngữ của trẻ mà không phụ thuộc vào ngôn
ngữ của câu chuyện với lối kể diễn cảm và sinh động, làm sống lại những hình ảnh,
chi tiết cụ thể. Cô giáo đã làm câu chuyện nh có hồn hơn, nh đang diễn ra trớc mặt
trẻ. Cô kể sáng tạo trong ngôn với ngữ điệu dí dỏm thể hiện đúng tính cách nhân vật.
Trẻ cũng có thể bắt chớc và kể lại giống cô. Ví dụ: Sơn Tinh- Thủy tinh khi kể
giọng giận giữ của Thủy Tinh Nh vậy khả năng thông hiểu ngôn ngữ của trẻ đóng
một tầm quan trọng để hiểu ngôn ngữ của ngời khác mà cụ thể ở đây là ngôn ngữ thể
hiện giọng điệu của cô. Theo tâm lí học Một ngôn ngữ càng giàu hình tợng bao
nhiêu, càng gởi cảm trẻ bấy nhiêu và càng khơi mạnh sức tởng tợng, hình dung và xúc
cảm của ngời ta bấy nhiêu. Khô khan, những ngôn từ tạo nên gợn sóng suy tởng bằng
những ngôn từ lung linh màu sắc, hình ảnh thì chắc chắn ngời nghe có thể nhìn thấy
trớc mắt những gì ta muốn miêu tả.
Ví dụ: trong chuyện Sự tích Hồ Gơmcó đoạn nói không hiểu ai có thanh gơm quí
thế này mà lại để rơi xuống sông nhỉ và mặt nớc có tiếng nói: Thanh gơm đó là của
ta về cho Lê Lợi với cảnh kể đó sẽ làm trẻ khó hình dung và không biết tiếng nói
đó ở đâu và ai nói.
Vậy cần làm sao có thể để lại trong trí nhơ của trẻ nhng hình ảnh lung linh sắc màu
mà nó chỉ đủ khuấy động yếu ớt trong tâm hồn trẻ thơ và khi cho trẻ kể lại và trẻ cũng
kể giống nh cô. Ngôn ngữ của trẻ lặp lại giống nh ngôn ngữ mà cô truyền đạt. Nhng
nếu nh thay đổi ngôn ngữ kể thì nó sẽ sáng bừng trớc mắt trẻ một cảch của thần linh
của sự mơ ớc và đã thành sự thật, điều đó có tác động to lớn trong hoạt động kể lại
chuyện của trẻ.
8
Tuy nhiên quá trình s phạm thứ nhất ( cô kể sáng tạo ) cũng phải xuất phát từ đăc
điểm ngôn ngữ cũng nh liên quan trực tiếp đến đặc điểm t duy, tởng tợng, chú ý, trí
nhớ và tiếp nhận nghệ thuật của trẻ. Vì thế mà phải thông qua quá trình s phạm thứ
nhất để tiến hành quá trình s phạm thứ hai thì mới đạt kết quả tốt đợc.
Quá trình cô kể sáng tạo là quá trìnhcó liên quan trực tiếp đến biện pháp dạy trẻ kể
lại chuyện thần thoại một cách sáng tạo mà tôi sẽ trình bày ở chơng sau:
Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi không chỉ lĩnh hội đợc hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ mà
trẻ còn nắm đợc ngữ âm, ngữ điệu. Trẻ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phu hợp với
nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể. Do đó khi cô kể cho trẻ nghe
thì việc kể đúng giọng điệu của tác phẩm là rất quan trọng. Từ việc cô kể đúng sẽ
giúp trẻ kể lại đúng giọng điệu tác phẩm và sẽ giúp khả năng tởng tợng của trẻ thêm
phong phú, góp phần hình thành nên những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của trẻ, lòng
yêu thơng con ngời, lòng mơ ớc, đức tính dũng cảm, chiến đấu dũng cảm vì thiên tai
cô sáng tạo trong ngôn ngữ kể giúp trẻ phát triển trí tởng tợng. Một yếu tố quan trọng
đóng vai trò không nhỏ trong quá trình t duy sáng tạo ở nhiều lĩnh vực nh: âm nhạc,
hội họa, toán, vănGiúp trẻ có lòng say mê lý tởng, một ớc mơ tuổi thơ. Ngữ âm, ngữ
điệu trong truyện thần thoại cũng dễ hiểu, dễ bắt chớc do đó rất phù hợp với đặc điểm
ngôn ngữ của trẻ. Cùng với việc nắm giữ ngôn ngữ trong thực hành và khả năng thông
hiểu ngôn ngữ thì vốn từ của trẻ tâng lên một cách đáng kể ( khoảng 2000- >3000 từ).
Trẻ biết sắp xếp các từ thành một câu, biết dùng các câu nói để diễn đạt nguyện vọng,
bày tỏ mong muốn của mình. Hơn nữa trẻ không chỉ có khả năng nói đợc các câu đủ
thành phần, đúng ngữ pháp mà còn có khả năng nói đợc những câu giàu sắc thái biểu
cảm.
Tất cả những đặc điểm đó gợi cho ta những liên tởng tới khả năng kể chuyện sáng
tạo ở trẻ. đặc biệt là kể chuyện thần thoại dân gian.
4. Chú ý trí nhớ.
Đặc điểm chú ý- trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi chủ yếu là không chủ định. Trẻ mẫu giáo
chỉ chú ý, ghi nhớ những gì có thể liên quan đến nhu cầu chính của bản thân trẻ,
những gì gây ấn tợng xúc cảm đối với trẻ. Vì vậy để tổ chức cho trẻ kể lại chuyện thần
thoại có sáng tạo phải căn cứ vào đặc điểm này. Trớc hết cô phải có biện pháp , thủ
thuật thế nào để lôi cuốn sự chú ý của trẻ. Trẻ có chú ý, ghi nhớ đợc câu chuyện thì
trẻ mới có thể kể lại đợc truyện đó. Cô có sử dụng biện pháp kể tạo ra khả năng, sự
hứng thú, gây đợc sự chú ý làm cho trẻ nhớ lâu thì ở trẻ mới xuất hiện nhu cầu cần
thiết. Phải ghi nhớ nôi dung câu chuyện, nhu cần đợc tự mình kể lại chuyện bằng sự
ghi nhớ của mình.
Một trong những đặc điểm của chuyện thần thoại dân gian. Nó là sự tởng tợng là ớc
mơ của con gnời, lại đợc kể bằng một phong cách, một giọng điệu nh đã có thật. Điều
9
này góp phần nên không khí vui tơi hành phúcTrong truyện thần thoại nó giúp trẻ
ghi nhớ, chú ý của trẻ có chủ định hơn.
Bằng ngôn ngữ biểu cảm, trong sáng, ngắn gọn, cô đọng, xúc tích và giàu hình ảnh.
Trong quá trình kể cô giáo sẽ tác động đến nhu cầu, tình cảm của trẻ, gây hấp dẫn lôi
cuốn trẻ. Chính sự chú ý và ghi nhớ là điều kiện nhào nặn, cải biên sáng tạo chuyện
theo mô hình thần thoại.
ở trẻ mẫu giáo (5-6 t) đã bắt đầu xuất hiện đặc điểm chú ý ghi nhớ chủ định.
Chú ý có chủ định là loại chú ý có mục đích, tự giác có kế hoạch, có biện pháp để h-
ớng chú ý vào đối tợng, nó đòi hỏi một sự nỗ lực nhất định. Thần thoại là thế giới
truyện kể về sự tích các thần nó để giải thích nguồn gốc, ý nghĩa của hiện tợng tự
nhiên và xã hội đợc coi là có quan hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể thị tộc, bộ
lạc. Thần thoại là sự tự nhiên, có nhân cách hóa tự nhiên, nhiều truyện có tính chất
thần thoại suy nguyên có ý nghĩa là giải thích cắt nghĩa và vừa có tính chất sử thi kết
hợp với tính chất giải thích hiện tợng tự nhiên.
Ví dụ: truyện Cóc Kiện Trời Vậy khi kể cô phải thể hiện đợc giọng kể trữ tình và
giàu chất hùng ca, sôi nổi kết hợp với cách kể sáng tạo của cô, giúp trẻ nghe ra
nhìn thấy những tình tiết, tính cách các nhân vật trong truyện và nó còn khái quát đ-
ợc chiến thắng trong một ớc mơ của con ngời. Từ đó giúp trẻ kể lại đợc câu chuyện và
kể sáng tạo bằng ngôn ngữ của mình và sự tởng tợng của mình.
Thế giới thần thoại cũng rất hấp dẫn với trẻ và nó phù hợp với đặc điểm phát triển
tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Dựa vào những đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ cô giáo cần kể lại truyện thần thoại
và tổ chức cho trẻ kể lại bằng trí tởng tợng của mình. Từ đó giúp trẻ say mê tham gia
vào sự hoạt động văn học nghệ thuật.
II/ Cơ sở giáo dục học mẫu giáo :
1. Giáo dục thẩm mỹ là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục mẫu
giáo nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ:
Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có mục đích và có hệ thống vào nhân
cách của trẻ nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận thức cái đẹp trong nghệ thuật,
trong tự nhiên và trong đời sống xã hội. Giáo dục lòng yêu cái đẹp, đa cái đẹp vào
trong cuộc sống một cách sáng tạo. Giáo dục nghệ thuật là một bộ phận quan trọng
của giáo dục thẩm mỹ . Tuy nhiên việc nhận thức nghệ thuật rất đa dạng và độc đáo
đến mức nó đợc tách ra trong hệ thống giáo dục nh một bộ phận riêng của nó. Giáo
dục trẻ bằng các phơng tiện nghệ thuật là đối tợng của giáo dục thẩm mỹ. nghệ thuật
mang tính đa dạng và độc đáo, nó phản ánh tập trung, điển hình nhất cuộc sống bằng
các hình tợng nghệ thuật. Việc giáo dục nghệ thuật có những khó khăn phức tạp, nh-
ng rất phù hợp với trẻ em tiền học đờng. Bởi t duy của trẻ chủ yếu là t duy trực quan
hình tợng.
10
Nghệ thuật là phơng tiện để giáo dục thẩm mỹ, các tác phẩm nghệ thuật cổ điển,
dân gian, nghệ thuật hiện đại là nguồn vui, nguồn khoái cảm thẩm mỹ và nó là tinh
thần của trẻ. Nhiều loại hình nghệ thuật phù hợp với trẻ; âm nhạc, văn học, hội họa
mỗi loại hình nghệ thuật phản ánh một cách độc đáo cuộc sống và ảnh hởng đặc biệt
đến sự phát triển trí tuệ và tình cảm của trẻ. Văn học nghệ thuật giới thiệu với trẻ cuộc
sống những con ngời trung thực, hiền lành, dũng cảm, lòng yêu tổ quốc, lòng nhân
ái Thông qua những tác phẩm văn học nghệ thuật, phát triển năng lực sáng tạo nghệ
thuật ở trẻ. Từ sự phát triển này sẽ góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
2 Tiết học ở tr ờng mẫu giáo:
Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng năng lực tự hoạt động nghệ thuật của trẻ
chịu ảnh hởng của những tác động s phạm. Vì vậy để có thể thúc đẩy khả năng tự hoạt
động nghệ thuật cho trẻ thì họ coi tiết học đợc tổ chức thích hợp giữa đối tợng và chủ
thể là phơng tiện để làm giàu năng lực tự hoạt động cho trẻ.
Vì vậy yêu cầu của cô giáo : Cô không chỉ truyền đạt một cách đơn thuần mà cô phải
biết khêu gợi kích thích, thu hút, giải thích, hớng trẻ tới tự lực tìm tòi, phát hiện, sáng
tạo những tác phẩm. Thông qua tiết học kể chuyện, qua cách thể hiện nghệ thuật (tự
kể lại truyện) sẽ gây ra ở trẻ hứng thú và nguyện vọng độc lập sáng tạo.
3. Đảm bảo các nguyên tắc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học : Trong quá trình
dạy trẻ kể lại truyện chúng ta cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc gợi cảm thẩm mỹ: Tính gợi cảm thẩm mỹ thể hiện ngay trong từng lời
giảng dạy. Lời kể của cô giáo phải đảm bảo tính thẩm mỹ , hệ thống ngôn ngữ của cô
giáo phải đảm bảo tính thẩm mỹ, hệ thống ngôn ngữ của cô giáo phải chuẩn mực,
trong sáng, gợi cảm, chính xác ngắn gọn, giàu biểu tợng . Hình ảnh vừa mang tính
biểu cảm vừa mang tính hình tợng . Tránh d thừa ngôn ngữ , để tạo nên hứng thú ở trẻ,
thu hút sự chú ý của trẻ.
* Phát huy tính tích cực của trẻ: cô giáo cần chọn hình thức tổ chức học và vận dụng
phơng pháp, biện pháp sao cho phù hợp đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ để trẻ
không chỉ tham gia tiếp nhận toàn diện và thích hợp, biết nhận xét đánh giá những
điều mà trẻ đã lĩnh hội trong tác phẩm văn học. Cao hơn thế trẻ còn biết rung động,
biết đợc cái hay cái đẹp của tác phẩm, biết sáng tạo tác phẩm. Muốn vậy phải tổ chức
cho trẻ hoạt động chuyển vào bên trong để tác phẩm trực tiếp tác động đến nhân
cách trẻ, biến thành nội dung nhân cách bền vững.
* Đảm bảo nguyên tắc vừa sức: vừa sức không phải là phù hợp với khả năng hiện có
của trẻ mà hớng tới khả năng có thể đạt đợc bằng nỗ lực đánh thức tiềm năng của trẻ.
Nhờ các phơng pháp, biện pháp tích cực trong dạy văn học. Thực hiện nguyên tắc vừa
sức phải chú ý:
Đảm bảo tính s phạm trong kế hoạch đào tạo có hệ thống: từ đơn giẩn đến phức tạp
những gì cần thiết cho sự phát triển đúng đắn năng lực của trẻ. Giáo dục đúng đắn
11
chính là thức tỉnh trong trẻ những gì vốn có. Giúp trẻ phát triển theo định hớng s
phạm, phải chăng cần phải phát triển theo định hớng s phạm, phải chăng càng phát
triển ở trẻ trực cảm văn học thông qua việc hình thành ngày càng nhiều và có chất l-
ợng hơn những biểu tợng và mối liên hệ giữa các biểu tợng đó. Trẻ càng phát triển thì
càng có khả năng kết hợp có mạch lạc, hệ thống hơn những biểu tợng và ý niệm trong
một chỉnh thể tác phẩm .
4. Về vấn đề hoạt động nghệ thuật của trẻ:
Nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, dùng những hình tợng sinh động, cụ
thể gợi cảm để phản ánh hiện thực và truyền đạt t tởng tình cảm. Bởi vậy giáo dục
nghệ thuật cho trẻ là một quá trình khó khăn phức tạp . Tuy nhiên trẻ mẫu giáo đã có
thể tham gia vào một số hình thức nghệ thuật : đặt một câu chuyện, thích tự mình kể
lại chuyện, suy nghĩ một bài thơ, bài hát vẽ và nặn. Trẻ tham gia vào các hình thức
nghệ thuật này một cách hồn nhiên và chân thực. Trên cơ sở ấy đứa trẻ đã hình thành
năng lực sáng tạo nghệ thuật . Biểu hiện là trẻ biết phối hợp các tri thức, ấn tợng của
mình để tạo ra một sản phẩm mang tính chất nghệ thuật , những tri thức, những ấn t-
ợng ấy đã đợc tích lũy dần trong cuộc sống của trẻ trong câu chuyện, những cuộn
phim
Trên cơ sở phát triển năng lực sáng tạo nghệ thuật ở trẻ sẽ góp phần kích thích khả
năng trẻ tự tham gia vào hoạt động nghệ thuật. Sáng tạo của trẻ đợc thể hiện ở chỗ trẻ
thờng kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau. Trẻ lấy t liệu từ truyện thần thoại, trong
các chuyện kể, trong cuộc sống.
Về khả năng tự hoạt động của trẻ thì nhà văn M.Gooski nói: Bản thân con ngời đã
làm nghệ sỹ trẻ tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật và bộc lộ những xúc cảm đó là biểu
hiện của hoạt động nghệ thuật . Trong tiếp xúc với nghệ thuật , làm theo sáng kiến
chủ động, chủ quan của mình tức là trẻ đã tìm đợc ra phơng thức để thỏa mãn những
nhu cầu tự thể hiện mình trớc tác phẩm nghệ thuật và có thể nói là có thể nói là để có
đợc những tác phẩm đó trẻ phải trải qua một quá trình tích lũy nhiều vốn văn hóa
nghệ thuật nhất định: Trẻ đã nhiều lần đợc nghe kể chuyện, nghe đọc thơ, xem tranh,
hát, múa Trong khi chứng minh năng lực tự hoạt động nghệ thuật . Có thể nói trẻ
rất có khả năng trong lĩnh vực này. Nh vậy văn học là một loại hình nghệ thuật , tiếp
xúc với văn học trẻ nảy sinh hoạt động văn học nghệ thuật.
Tất cả các đặc điểm trên cho chúng ta thấy trẻ có khả năng kể sáng tạo truyện thần
thoại. Từ việc nghe cô kể chuyện thì chính bản thân trẻ nảy sinh ra chủ định mong
muốn thể hiện các hình tợng do mình nghĩ ra bằng cách xây dựng lắp ghép các ấn t-
ợng trí tuệ thành một câu chuyện và trẻ thể hiện nó (tự kể) song để phát triển trí sáng
tạo ấy cần phải có quá trình dạy của cô, thông qua đó trẻ biết diễn đạt các hình tợng
và mô tả sự vật khi kể. Bởi khả năng hoạt động sáng tạo nghệ thuật là kết quả của sự
tổ chức hoạt động sáng tạo cho trẻ. Ngoài ra còn đa trẻ vào tự hoạt động văn học nghệ
12
thuật chính là đa trẻ vào hoạt động, phát triển tính tích cực cá nhân, tính độc lập sáng
tạo hình thành nhân cách trẻ.
III/ Cơ sở ngữ văn ( truyện thần thoại)
1.Khái niệm truyện thần thoại dân gian:Là truyện kể về sự tích các thần, những câu
chuyện này vốn do ngời thời cổ tởng tợng ra, đẻ giải thích nguồn gốc ý nghĩa của hiện
tợng tự nhiên và xã hội đợc coi là có quan hệ mật thiết đến sự sống còn của tập thể thị
tộc, bộ lạc nh: trời đất, ma gió, sông núi, hạn hán, lũ lụt
2. Đặc tr ng cơ bản của thần thoại dân gian : ra đời từ sớm đó là từ thời Hùng Vơng
nhng lại làm mất mát đi rất nhiều và nó có kết cấu phần lớn đều ngắn, kết cục thì đơn
giản, ít chặt chẽ và ta có thể phân thành các nhóm:
Nhóm thần thoại về nguồn gốc các loại động thực vật nh Sự tích lúa thần
Loại thần thoại về nguồn gốc con ngời: là các dân tộc ở Việt Nam nh : truyện Ngọc
Hoàng nặn ngời Sự tích trăm trứng
Loại thần thoại về các anh hùng thời quyết sử, các anh hùng văn hóa, tổ s của các
nghề nh: Lữ thần ngời mộc Sự tích bánh chng, bánh dầy
Truyện thần thoại nó cũng đợc lan truyền từ ngời này sang ngời khác và từ đời này
qua đời khác bằng cách truyền miệng. Mỗi ngời đợc nghe nó, khi kể lại có thể thêm
bớt để kể lại cho ngời nghe khác. Qua nghe truyện thần thoại giúp cho con ngời ta có
những ớc mơ muốn vơn lên làm chủ thiên nhiên, cải tiến công cụ, kéo dài tuổi thọ và
tăng hạnh phúc cho con ngời và từ mơ ớc ngày xa dó nay đã trở thành hiện thực.
3. Đặc điểm thi pháp của truyện thần thoại dân gian: là truyện có mở đầu có kết thúc
nó giải thích ớc mơ ban đầu của tổ tiên chúng ta. Ngoài ra nó còn phản ánh ớc mơ tái
taọ của con ngời.
Trong từng thời thơ ấu cũng giống h thời cổ xa của loài ngời. đó là lúc con ngời còn
nhiều tính hồn nhiên, chất phát thơ ngây. Trong điều kiện hiểu biết rất ít ỏi nhng lai
cần tìm hiểu thiên nhiên, xã hội để lao động, đáu tranh cho sự tồn tại và phát triển của
mình, con ngời phải bổ xung vào chỗ cha hiểu biết bằng tởng tợng . Do đó mà truyện
thần thoại hấp dẫn đối với trẻ. Khi t duy của trẻ cha phát triển thì tởng tợng đợc coi là
phơng thức rất quan trọng để nhận thức thế giới qua các câu truyện thần thoại. Các
nhân vật trong chuyện đợc coi là thần thánh và bao giờ cũng giành đợc sự chiến thắng.
Vì vậy truyện thần thoại nó giúp trẻ thích thú và khi kể nó có thể kể bằng sự sáng tạo
của mình.
Truyện thần thoại là sự lãng mạn sự mơ ớc, sự khát vọng của con ngời đã đánh thức
con ngời có tinh thần cách mạng với thực tế và đấu tranh chinh phục để thắng thiện
tai. Khái quát hóa những thành công của con ngời.
Hành động trong thần thoại: Lấy nhân vật làm trung tâm, những hành động của sự
vật đợc miêu tả qua diến biến của thành công và chiến thắng.
13
Thời gian thần thoại nó đi từ đời này qua đời khác và có yếu tố hiện thực, là sự khái
quát hóa những thành công của con ngời. Vì vậy khi kể cô giáo phải đặc biệt chú ý
đến yếu tố này để sáng tạo trong khi kể gây sự chú ý cho trẻ. Cô có thể kéo dài hoặc
rút ngắn thời gian của truyện bằng sự sáng tạo riêng của mình, để trẻ hiểu và có thể
khi kể trẻ biết kể theo cách sáng tạo riêng của mình.
Không gian trong chuyện thần thoại có sự tự nhiên và có nhân cách háo tự nhiên,
nhiều truyện có tính chất thần thoại suy nguyên. Vì vậy khi kể phải thể hiện đợc
giọng điệu để kể một cách sáng tạo .
Đăc điểm tiêu biểu của truyện thần thoại rất nhiều những hiện tợng kỳ vĩ mỹ lệ và
những chi tiết sống động, hấp dẫn, những cảm nghĩ độc đáo và những phơng pháp ,
biện pháp , nghệ thuật có giá trị trong nghệ thuật . Qua những đặc điểm này giúp cho
trí tởng tợng của trẻ phong phú, đa dạng hơn và nó còn kích thích sự tích tham gia vào
các hoạt động văn học nghệ thuật , để rẻ biết kể lại truyện thần thoại có sự sáng tạo
Chơng II : Thực trạng dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi kể lại
truyện ở trờng mầm non Hạ Long
Để xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp dạy trẻ kể lại truyện
một cách sáng tạo ở lớp mẫu giáo lớn, tôi đẫ tiến hành điều tra khảo sát thực trạng
việc dạy trẻ kể lại truyện ở các lớp mẫu giáo tại trờng mầm non Hạ Long- thành phố
Hạ Long- tỉnh Quảng Ninh.
I/ Khái quát về quá trình điều tra thực trạng dạy trẻ kể:
1. Mục đích điều tra:
Khi tiến hành điều tra nhằm đánh giá thực trạng tình hình chung của việc dạy trẻ kể
lại truyện ở các lớp mẫu giáo lớn để làm cơ sở nghiên cứu các biện pháp tổ chức cho
trẻ kể lại truyện thần thoại một cách sáng tạo.
2. Các lớp đợc điều tra ở trờng mầm non Hạ Long- TP Hạ Long
- Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi A
- Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi B
- Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi C
- Lớp mẫu giáo 5-6 tuổi D; mẫu giáo 5-6 tuổi E,G.
3. Thời gian điều tra
Từ ngày 20/3/2005 đến 20/4/2005.
4. Nội dung điều tra : Gồm:
- Việc soạn giáo án của giáo viên
- Tiết kể lại chuyện của trẻ.
5. Phơng pháp điều tra ;
Tôi sử dụng phơng pháp quan sát để điều tra, đến từng lớp quan sát và dự giờ dạy trẻ
kể lại truyện để xem cách thức của giáo viên ra sao.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét