Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Lương tháng: thường áp dụng để trả lương cho nhân viên làm công
tác quản lý kinh tế, hành chính quản trị…
- Lương ngày: Thường áp dụng để trả lương cho người lao động trực
tiếp hưởng lương thời gian, tính trả lương cho người lao động trong những
ngày hội họp, học tập hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp
BHXH. Mức lương ngày tính bằng cách lấy mức lương tháng chia cho số
ngày làm việc trong tháng theo chế độ.
- Lương giờ: Thường áp dụng trả lương cho người lao động trực tiếp
trong thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm. Mức lương giờ
tính bằng cách lấy mức lương ngày chia cho số giờ làm việc trong ngày theo
chế độ.
Các doanh nghiệp chỉ áp dụng tiền lương thời gian cho những công
việc chưa xác định được định mức lao động, chưa có đơn giá tiền lương sản
phẩm. Thường áp dụng cho lao động làm công tác văn phàng như hành chính,
quản trị, thống kê, tổ chức lao động, kế toán, tài vụ …
Hình thức tiền lương theo thời gian có nhiều hạn chế chưa gắn chặt tiền
lương với kết quả lao động và chất lượng lao động
* Hình thức tiền lương theo sản phẩm: Là hình thức trả lương cho
người lao động căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm hoặc công việc đã
hoàn thành. Hình thức trả lương này quán triệt nguyên tắc " làm theo năng lực
hưởng theo lao động ", do đó mà nó có tác dụng khuyến khích người lao động
nâng cao năng suất lao động góp phần tăng thêm sản phẩm cho xã hội.
Khi áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm thì điều kiện quan trọng
nhất là doanh nghiệp phải xác định được các định mức kinh tế-kỹ thuật đẻ
làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản phẩm,
tưng f công việc một cách hợp lý.
Trả lương theo sản phẩm có nhiều hình thức khác nhau tuỳ thuộc vào
điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp mà vận dụng theo các hình thức dưới
đây:
- Hình thức lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế: Tiền lương
được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn thành đúng quy cách, phẩm
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
chất với đơn giá tiền lương quy định trước. Hình thức này được sử dụng phổ
biến trong các doanh nghiệp để tính lương cho lao động trực tiếp.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm gián tiếp: Áp dụng để trả lương
cho lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như vận chuyển vật liệu, thành
phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị …
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm có thưởng, phạt: Gồm tiền lương
theo sản phẩm trực tiếp cộng với thưởng nếu chất lượng sản phẩm làm ra tốt,
năng suất lao động tăng, tiết kiệm vật tư và ngược lại sẽ chịu phạt nếu nếu
làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư …
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm hỏng luỹ tiến: Gồm tiền lương
theo sản phẩm trực tiếp và một phần tiền thưởng được tính trên cơ sở tăng
đơn giá tiền lương ở các mức năng suất cao.
- Hình thức khoán khối lượng hoặc khoán từng công việc: Áp dụng cho
những công việc giản đơn, có tính chất đột xuất như bốc dỡ hàng …
- Hình thức khoán quỹ lương: Căn cứ vào khối lượng công việc của
từng phòng ban, vào mức độ công việc hoàn thành công việc được giao doanh
nghiệp tiến hành khoán quỹ lương.
3.2. Quỹ tiền lương
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh
nghiệp trẩ cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử
dụng.
Thành phần quỹ lương gồm các khoản chủ yếu là tiền lương trả trong
thời gian làm việc thực tế ( theo thời gian, theo sản phẩm …); trong thời gian
ngừng việc, nghỉ phép hoặc đi học; các loại tiền thưởng, phụ cấp thường
xuyên. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp được phân chia trong quan hệ với
quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm 2 loại như sau:
- Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời
gian làm nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các
khoản phụ cấp kèm theo.
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian
không làm nhiệm vụ chính nhưng vẫn hưởng lương theo chế độ như tiền
lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, nghỉ phép, đi
học, hội họp …
Việc phân chia quỹ lương thành 2 loại như trên có ý nghĩa quan trọng
trong công tác hạch toán, phân bổ tiền lương theo đúng đối tượng và trong
công tác phân tích tình hình sử dụng quỹ lương ở các doanh nghiệp.
Về nguyên tắc quản lý tài chính, các doanh nghiệp phải quản lý chặt
chẽ quuỹ tiền lương theo đúng quy định và đúng mục đích để phục vụ tốt cho
việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi tiêu tiết
kiệm và hợp lý nhằm đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch
sản xuất đã đưa ra.
4. Tổ chức hạch toán tiền lương
* Hệ thống chứng từ
Tại các doanh nghiệp, việc tính lương, tính thưởng và các khoản phải
trả cho người lao động được tập trung tại phòng kế toán. Căn cứ để tính lương
là các loại chứng từ phát sinh trong việc hạch toán tiền lương mà theo quy
định hiện hành hệ thống chứng từ này bao gồm:
- Chứng từ về lao động
+ Chứng từ về số lượng lao động: Chỉ tiêu số lượng lao động được
phản ánh trên "sổ danh sách lao động" do bộ phận lao động tiền lương lập.
Cơ sở để ghi sổ là các chứng từ ban đầu về tuyển dụng, thuyên chuyển
công tác, nâng bậc, thôi việc, khen thưởng …
"Sổ danh sách lao động" chính là căn cứ cho việc tính lương phải trả và
các chế độ khác cho người lao động.
+ Chứng từ về thời gian lao động: Là loại chứng từ sử dụng để ghi chép
thời gian thực tế làm việc, nghỉ việc, vắng mặt của người lao động theo từng
ngày.
Chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động
trong các doanh nghiệp là: Bảng chấm công
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra các chứng từ khác có liên quan như:
Biên bản ngừng việc
Giấy nghỉ phép …
Tất cả các chứng từ này cũng đều là căn cứ để tính lương, thưởng cho
người lao động.
+ Chứng từ về kết quả lao động: Tuỳ theo loại hình và đặc điểm sản
xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà sử dụng các loại chứng từ khác
nhau nhưng phổ biến là các chứng từ:
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
Hợp đồng giao khoán
Ngoài ra có:
Biên bản kiểm tra chất lượng
Phiếu báo hỏng…
- Chứng từ về tiền lương, thưởng và các khoản phải trả cho người lao
động: Là loại chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương và phụ cấp cho
người lao động. Các chứng từ như:
Bảng thanh toán tiền lương
Bảng thanh toán tiền thưởng
Bảng phân phối thu nhập theo lao động
Các chứng từ chi tiền, thanh toán cho người lao động …
Các chứng từ này phải được lập cho từng bộ phận tương ứng với "Bảng
chấm công".
* Hệ thống sổ sách kế toán
- Sổ nhân sự: Theo dõi các dữ kiện như ngày bắt đầu làm việc, hồ sơ cá
nhân, mức lương, các khoản khấu trừ được phê chuẩn và ngày kết thúc hợp
đồng.
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Sổ nhật ký tiền lương: Sổ này dùng để ghi sổ các phiếu chi tiền lương,
trong đó ghi rõ tổng số tiền lương, các khoản trích trên tiền lương và mức
lương thực lĩnh. Các số liệu trên làm căn cứ để ghi sổ cái TK334.
- Sổ cái, sổ chi tiết TK334: Sổ này theo dỗi các khoản trích trên tiền
lương.
* Hạch toán tổng hợp tiền lương
Tài khoản sử dụng để hạch toán tổng hợp các khoản phải trả và tình
hình thanh toán các khoản phải trả cho công nhân viên về tiền lương, thưởng,
BHXH, trợ cấp và các khoản khác mang tính chất thu nhập của công nhân
viên là tài TK334 - Phải trả CNV.
Nội dung của tài khoản này như sau:
Bên nợ:
Các khoản tiền lương, thưởng, BHXH và các khoản khác đã
trả, đã ứng trước cho CNV
Các khoản khấu trừ vào lương của CNV
Bên có:
Các khoản tiền lương, thưởng, BHXH và các khoản khác thực
tế phải trả cho CNV
Dư có:
Các khoản tiền lương, thưởng còn phải trả cho CNV
Dư nợ:
Số trả thừa cho CNV (Số đã trả >số phải trả)
Việc hạch toán tổng hợp tiền lương được thể hiện qua sơ đồ sau:
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 1: Hạch toán tổng hợp thanh toán với người lao động
TK111,112 TK334 TK622
Tiền lương
Thanh toán thu nhập cho NLĐ phải trả cho LĐTT
TK335
TLNP thực tế Trích trước
TK138 phải trả LĐTT TLNP của LĐTT
Khấu trừ khoản phải thu khác TK627
Tiền lương phải trả
TK141 cho nhân viên phân xưởng
Khấu trừ khoản tạm ứng thừa TK641
Tiền lương phải trả
TK338 trả cho nhân viên bán hàng
Thu hộ cho cơ quan khác TK642
hoặc giữ hộ NLĐ Tiền lương phải trả
cho nhân viên QLDN
TK431
Tiền thưởng từ quỹ khen
thưởng phải trả cho NLĐ
TK3383
BHXH phải trả cho NLĐ
Căn cứ vào Bảng thanh toán lương, thưởng và các chứng từ gốc kèm
theo, kế toán phân loại tiền lương, lập chứng từ phân bổ tiền lương, thưởng
vào chi phí sản xuất - kinh doanh và ghi nhận các bút toán chi phí thực tế phát
sinh trong kỳ. Sau đó thủ quỹ tiến hành thanh toán lương, thưởng cho từng bộ
phận, từng người đồng thời tiến hành ghi sổ kế toán.
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
5. Tổ chức hạch toán các khoản trích trên tiền lương
* Chế độ trích các khoản theo lương
Các khoản trích trên tiền lương (BHXH, BHYT, KPCĐ và thuế TNCN)
có mối quan hệ chặt chẽ với quỹ tiền lương vì đều là các khoản được trích
trên tiền lương theo một tỷ lệ nhất định do cơ quan chức năng quy định.
- Quỹ BHXH: Dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng
quỹ khi họ mất khả năng lao động như ốm đau, tai nạn lao động, hưu trí…
Theo chế độ hiện hành, quỹ này được hình thành bằng cách tính theo tỷ lệ
20%trên tổng quỹ tiền lương cơ bản. Trong đó 15% chủ sở hữu lao động nộp
cho người lao động và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn 5% người lao
động phải nộp và doanh nghiệp sẽ trừ vào lương của họ.
Những khoản trợ cấp thực tế cho người lao động trong trường hợp ốm
đau, hưu trí, nghỉ đẻ …được tính toán trên cơ sở mức lương ngày của họ, thời
gian nghỉ và tỷ lệ trợ cấp BHXH. Khi người lao động nghỉe hưởng BHXH, kế
toán phải lập phiếu nghỉ hưởng BHXH cho từng người và lập Bảng thanh
toán BHXH để làm cơ sở thanh toán với cơ quan quản lý quỹ.
- Quỹ BHYT: Sử dụng để trợ cấp cho những người có tham gia đóng
góp quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh. Theo chế độ hiện hành, quỹ
BHYT được trích bằng 3% trên quỹ lương cơ bản. Trong đó 2% chủ sở hữu
lao động nộp cho người lao động và tính vào chi phí sản xuất kinh doanh, còn
1% người lao động nộp và doanh nghiệp trừ vào lương của họ.
- KPCĐ: Là nguồn tài trợ cho các hoạt động công đoàn ở các cấp. Theo
chế độ hiện hành, KPCĐ được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương thực tế
phải trả cho người lao động và doanh nghiệp phải chịu toàn bộ (tính vào chi
phí SXKD). Trong đó 1% nộp cho công đoàn cấp trên, còn 1% chi tiêu KPCĐ
tại cơ sở.
- Thuế TNCN: Là khoản thuế đánh vào những người lao động có thu
nhập cao nhằm phân phối lại thu nhập cho xã hội. Cơ sở tính thuế là tổng thu
nhập của người lao động và tỷ lệ tính thuế. Theo quy định, mức khởi điểm
chịu thuế thu nhập đối với cá nhân trong nước là trên 5 triệu đồng/tháng.
* Hạch toán tổng hợp các khoản trích theo lương
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Để hạch toán tổng hợp các khoản này kế toán phải sử dụng các tài
khoản cấp 2 sau:
- TK3382: KPCĐ
Bên nợ: Chi tiêu KPCĐ tại đơn vị hoặc nộp KPCĐ cho công đoàn cấp
trên.
Bên có: Trích KPCĐ tính vào chi phí SXKD
Dư có: KPCĐ chưa nộp, chưa chi
Dư nợ: KPCĐ vượt chi
- TK3383: BHXH
Bên nợ: BHXH phải trả cho người lao động hoạc nộp cho cơ quan quản
lý quỹ.
Bên có: Trích BHXH vào chi phí kinh doang hoặc trừ vào lương của
người lao động.
Dư có: BHXH chưa nộp
Dư nợ; BHXH chưa được cấp bù
- TK3384: BHYT
Bên nợ: Nộp BHYT
Bên có: Trích BHYT tính vào chi phí SXKD hoặc trừ vào lương của
người lao động.
Dư có: BHYT chưa nộp.
Việc hạch toán các khoản trích theo lương được thể hiện qua sơ đồ sau:
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Sơ đồ 2: Hạch toán tổng hợp quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
TK111, 112 TK3382,3383,3384 TK622
Nộp cho cơ quan quản lý quỹ Trích theo TL của LĐTT
tính vào chi phí
TK334 TK627
BHXH phải trả cho người lao động Trích theo TL của nhân viên
trong doanh nghiệp phân xưởng tính vào chi phí
TK111, 112, 152… TK641
Chi tiêu KPCĐ Trích theoTL của nhân viên
tại doanh nghiệp bán hàng tính vào chi phí
TK642
Trích theo TL của nhân viên
QLDN tính vào chi phí
TK334
Trích theo TL của NLĐ
trừ vào thu nhập của họ
TK111, 112
Nhận tiền cấp bù
của quỹ BHXH
II. Quy trình kiểm toán về tiền lương và các khoản trích trên tiền lương
trong kiểm toán tài chính
1. Sự cần thiết của kiểm toán tiền lương và các khoản trích trên tiền
lương
Mỗi doanh nghiệp để hoạt động có hiệu quả cao thì cần bố trí một cơ
cấu nhân sự hợp lý và xây dựng một hệ thống tiền lương phù hợp. Thế nhưng
tiền lương và các khoản trích trên tiền lương là một khoản chi phí lớn trong
hầu hết các doanh nghiệp cũng như các tổ chức. Chi phí tiền lương được xem
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
là một khoản mục trọng yếu khi đánh giá giá trị hàng tồn kho của các công ty
sản xuất và xây dựng vì nếu phân loại và phân bổ chi phí tiền lương mà không
đúng đắn cho các đối tượng chịu chi phí thì sẽ dẫn đến sai sót trọng yếu về giá
trị sản phẩm dở dang và giá trị hàng tồn kho và tất nhiên ảnh hưởng tới lợi
tức. Tiền lương là một lĩnh vực có thể xảy ra các hình thức gian lận của nhân
viên làm cho một lượng tiền lớn của công ty bị sử dụng kém hiệu quả hoặc bị
thất thoát. Chính với những lý do này đã làm cho vấn đề tiền lương thường
liên quan đến nhiều chỉ tiêu trọng yếu trên BCTC nên kiểm toán tiền lương và
các khoản trích trên tiền lương không những không bị coi nhẹ mà còn thường
được kiểm toán viên chú trọng tới trong các cuộc kiểm toán tài chính.
2. Mục tiêu kiểm toán
Khi tiến hành kiểm toán BCTC, việc đề ra các mục tiêu kiểm toán có ý
nghĩa hết dức quan trọng giúp kiểm toán viên thu thập đầy đủ các Bằng
chứng cần thiết để đưa ra kết luận về BCTC của đơn vị khách hàng. Theo
Chuẩn mực kiểm toán số 200: "Mục tiêu kiểm toán BCTC là giúp kiểm toán
viên và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập
trên cơ sở Chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có
tuân thủ Luật pháp liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài
chính trên các khía cạnh trọng yếu hay không". Đó là mục tiêu trong cả cuộc
kiểm toán, còn riêng đối với kiểm toán tiền lương và các khoản trích trên tiền
lương có các mục tiêu sau:
Mục tiêu kiểm toán chung: Kiểm toán viên phải thu thập các bằng
chứng để khẳng định tính trung thực, hợp lý của các nghiệp vụ về tiền lương
và các khoản trích trên tiền lương.
Mục tiêu hiện hữu và có thực: Các nghiệp vụ về tiền lương đã được
ghi chép thì phải thực sự xảy ra, các khoản chi phí tiền lương và khoản tiền
lương chưa thanh toán phải thực sự tồn tại.
Mục tiêu đầy đủ: Tất cả các nghiệp vụ về tiền lương đã xảy ra thì đều
được ghi chép đầy đủ. Trong trường hợp ngược lại, chi phí tiền lương và các
khoản thanh toán cũng như các tài sản liên quan sẽ bị trình bày không đúng
với thực tế.
Nguyễn Thị Hồng Kiểm toán 44
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét