2. Phương hướng phát triển các khu cơng nghiệp trên địa bàn TPHồ Chí
Minh đến năm 2010
2.1. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của TP Hồ Chí Minh đến
năm 2010
2.2. Phương hướng phát triển các khu cơng nghiệp trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh đến năm 2010
III. Một số giải pháp phát triển các khu cơng nghiệp trên địa bàn TP Hồ
Chí Minh đến năm 2010
1. Nâng cao chất lượng và hiệu quả cơng tác quy hoạch và điều hành
thực hiện quy hoạch các KCN
1.1. Quy hoạch KCN phải mang tính tồn diện
1.2. Phối hợp, phân cơng với các địa phương khác trong xây dựng quy
hoạch và xây dựng phát triển KCN của vùng kinh tế trọng điểm
1.3. Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý nhà nước trong xây dựng và
triển khai quy hoạch
2. Tiếp tục hồn thiện chính sách và cơ chế nhằm tạo động lực cho KCN
2.1. Nhà nước cần sửa đổi và bổ sung một số chính sách
2.2. Điều chỉnh một số chính sách cụ thể ở địa phương
2.3. Tiếp tục hồn thiện cơ chế quản lý KCN
3. Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động ở các KCN
4. Một số kiến nghị
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Lời nói đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hành phố Hồ Chí Minh trước đây là vùng Sài Gòn - Gia Định bị Mỹ chiếm
đóng, đến năm 1975 được qn và dân ta giải phóng và trở thành một thành phố
của Nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 1976 được đổi tên thành
thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đến nay thành phố đã trải qua những bước thăng
trầm cùng cả nước, có giai đoạn gặp nhiều khó khăn khi các thế lực thù địch
mưu toan quay lại, khi cơ chế bao cấp làm hạn chế khả năng phát triển của
thành phố, nhưng vượt qua những khó khăn đó, nhân dân thành phố đã ra sức
xây dựng thành phố ngày một phồn vinh, giàu đẹp xứng đáng là “hòn ngọc viễn
đơng”. Năm 1986, Đảng ta đã quyết định đổi mới cơ chế kinh tế, chuyển từ cơ
chế tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, điều này đã
thúc đẩy kinh tế Việt Nam nói chung, kinh tế thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
có những bước phát triển nhảy vọt. Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay đã trở
thành trung tâm kinh tế, tài chính lớn nhất cả nước, vì vậy các vấn đề kinh tế
xã hội của thành phố ln là chủ đề được Đảng, Nhà nước và dư luận quan tâm.
Năm 1991, mơ hình tổ chức sản xuất mới đầu tiên của Việt Nam ra đời
đó là khu chế xuất Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh, ngay sau đó hoạt
động của khu chế xuất Tân Thuận đã đạt được những kết quả đáng mừng, sự
thành cơng của khu chế xuất Tân Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời
của hàng loạt khu chế xuất, khu cơng nghiệp về sau này. Trong những năm vừa
qua các khu cơng nghiệp đã đóng góp hết sức tích cực cho sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội của Việt Nam, góp phần đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hố,
hiện đại hố của đất nước, làm cho q trình đó có những bước phát triển nhảy
vọt. Trong giai đoạn mới, tại Đại hội lần thứ IX Đảng ta một lần nữa đã khẳng
định “Phát triển kinh tế, cơng nghiệp hố, hiện đại hố là nhiệm vụ trung tâm”
và phải “Xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế”, thì vai trò của các khu cơng nghiệp càng được củng cố như một dây
nối kinh tế Việt Nam với kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh đó, các khu cơng
nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có cơ hội để phát triển và có tác
động trở lại làm cho tình hình kinh tế xã hội của thành phố phát triển. Tuy
T
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nhiên, nói như vậy khơng phải là các khu cơng nghiệp trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh khơng còn tồn tại những vấn đề cần giải quyết. Do đó nghiên cứu
về các khu cơng nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá những
thành tựu cần phát huy, những khó khăn cần khắc phục trở thành một vấn đề có
tính thời sự. Vì vậy đây là lý do để tơi lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp phát
triển các khu cơng nghiệp nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh đến năm 2010” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận chung về khu cơng nghiệp
Chương II: Thực trạng phát triển và vai trò của các khu cơng nghiệp đối
với sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn TP Hồ Chí Minh giai đoạn 1996 -
2003
Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển các khu cơng nghiệp trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do những ngun nhân khách quan
cùng những ngun nhân chủ quan nên luận văn khơng tránh khỏi những sai
lầm, thiếu sót, vì vậy, tơi rất mong nhận được sự thơng cảm, cùng những ý kiến
đóng góp hết sức q báu của các thầy, các cơ để cho bản luận văn của tơi được
hồn thiện hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn cơ giáo đã tận tình hướng dẫn tơi hồn thành
bản luận văn này.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
C
C
h
h
ư
ư
ơ
ơ
n
n
g
g
I
I
:
:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHU CƠNG NGHIỆP
I. Khái qt chung về KCN
1.Khái niệm về KCN, KCX, KCNC
1.1. Khu cơng nghiệp
Hình thức đầu tư vào KCN còn gọi là KCN tập trung mới xuất hiện ở
Việt Nam sau khi Chính phủ cho phép thực hiện đầu tư theo hình thức khu chế
xuất. Khu cơng nghiệp là một lãnh địa được phân chia và phát triển có hệ thống
theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuật cần thiết, cơ sở
hạ tầng, phương tiện cơng cộng phù hợp với sự phát triển của một liên hiệp các
ngành cơng nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất cơng nghiệp và kinh
doanh.
Tại Việt Nam, theo Điều 2: “Quy chế khu cơng nghiệp, khu chế xuất, khu
cơng nghệ cao”, được Chính phủ ban hành năm 1997 có quy định:
Khu cơng nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp cơng nghiệp, chun
sản xuất hàng cơng nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất cơng nghiệp,
có ranh giới địa lý xác định, khơng có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ
tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu cơng nghiệp có thể có doanh
nghiệp chế xuất.
1.2. Khu chế xuất
Khu chế xuất là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Anh là “Export
Processing Zone”. Xung quanh khái niệm chung này cho đến nay có nhiều quan
niệm cụ thể khác nhau với nhiều định nghĩa tương ứng. Thơng thường nội hàm
của khái niệm này thường thay đổi tùy theo thời gian và khơng gian cụ thể. Cho
đến nay các nhà kinh tế học còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm khu chế
xuất.
Tại Việt Nam, khu chế xuất thường được hiểu theo nghĩa hẹp, theo đó,
khu chế xuất là một khu vực cơng nghiệp tập trung sản xuất hàng hố xuất khẩu
và thực hiện các dịch vụ liên quan đến sản xuất hàng xuất khẩu. Khu chế xuất là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
khu khép kín, có ranh giới địa lý được xác định trong quyết định thành lập khu
chế xuất, nhưng biệt lập với các vùng lãnh thổ ngồi khu chế xuất bằng một hệ
thống tường rào. Khu chế xuất được hưởng một quy chế quản lý riêng quy định
tại Quy chế khu chế xuất
Như vậy, về cơ bản khu chế xuất là khu kinh tế tự do. Ở đó, các xí nghiệp
cơng nghiệp được tổ chức ra để chun sản xuất hàng xuất khẩu. Thơng thường,
nước chủ nhà đứng ra xây dựng các cơ sở hạ tầng của khu chế xuất, xây dựng
cơng trình sản xuất và phục vụ đời sống ở đây, sau đó kêu gọi các nhà đầu tư
nước ngồi mang vốn, thiết bị, ngun vật liệu từ nước ngồi vào và th nhân
cơng của nước chủ nhà tổ chức thành lập khu chế xuất, tiến hành sản xuất hàng
hố để bán trên thị trường thế giới. Các mặt hàng dưới dạng máy móc, thiết bị,
ngun liệu nhập khẩu vào khu chế xuất và hàng hố xuất khẩu từ khu chế xuất
ra thị trường thế giới đều được miễn thuế. Tuy nhiên, ở một số KCX, cũng có
hoạt động kinh doanh mua bán lại cơng nghệ, máy móc, thiết bị, ngun vật liệu
trong nội bộ khu chế xuất hoặc giữa các khu chế xuất với nhau và việc bán hàng
hố do khu chế xuất sản xuất ra trên thị trường nước chủ nhà. Chính vì vậy, nó
được gọi là khu chế biến xuất khẩu (hay còn gọi là khu chế xuất). Tuy nhiên,
còn có một số tên gọi khác như: Khu mậu dịch tự do (Malaysia), đặc khu kinh
tế (Trung Quốc), khu chế xuất tự do (Hàn Quốc) Mặc dù cách gọi tên cụ thể là
rất khác nhau, nhưng nhìn chung ở các khu vực này chủ yếu là các hoạt động
sản xuất và chế biến còn hoạt động mua bán thì rất ít hoặc khơng thấy.
1.3. Khu cơng nghệ cao
Khu cơng nghệ cao ra đời với nhiều tên gọi khác nhau như: trung tâm
cơng nghệ, trung tâm khoa học, thành phố khoa học, khu phát triển cơng
nghiệp, cơng nghệ cao nhưng mục đích và ý nghĩa chung của nó là xung
quanh một cơ sở hạt nhân nào đó thành lập những khu vực, lĩnh vực nhất định
với một kết cấu hạ tầng riêng nhằm đảm bảo cho q trình chuyển giao cơng
nghệ mới vào sản xuất một cách nhanh chóng và có hiệu quả. Các khu cơng
nghệ cao đều có đặc điểm là sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học cơng
nghệ và sản xuất kinh doanh Việc thành lập khu cơng nghệ cao ở bất cứ nước
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nào cũng để nhằm phát triển cơng nghiệp kỹ thuật cao, thu hút chất xám để tạo
ra sản phẩm có hàm lượng khoa học cao hơn hẳn các khu cơng nghiệp, khu chế
xuất, nhằm tạo ra các bước đột phá quan trọng để phát triển cơng nghệ và cơng
nghiệp trong nước. Đây là nơi được Chính phủ nước sở tại dành rất nhiều điều
kiện ưu đãi để khuyến khích các nhà đầu tư, các nhà khoa học vào làm việc và
nghiên cứu, ứng dụng và cho ra đời các sản phẩm có hàm lượng khoa học cơng
nghệ cao.
Khu cơng nghệ cao là khu tập trung các doanh nghiệp cơng nghiệp kỹ
thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển cơng nghệ cao, gồm
nghiên cứu triển khai khoa học cơng nghệ, đào tạo và các dịch vụ có liên quan,
có ranh giới địa lý xác định, khơng có dân cư sinh sống, được hưởng một chế độ
ưu tiên nhất định, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập.
2. Đặc điểm cơ bản của KCN ở Việt Nam và phân biệt nó với khu chế xuất
2.1. Đặc điểm cơ bản của KCN ở Việt Nam
KCN là một tổ chức khơng gian lãnh thổ cơng nghiệp ln gắn liền phát
triển cơng nghiệp với xây dựng cơ sở hạ tầng và hình thành mạng lưới đơ thị,
phân bố dân cư hợp lý. KCN có những đặc điểm chính sau đây:
- KCN có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi, nhằm thu hút vốn đầu tư
nước ngồi, tạo mơi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư
nước ngồi sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu để thành lập các
nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin
phép và th đất (giảm hoặc miễn thuế).
- Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chủ yếu thu hút từ nước ngồi
hay các tổ chức, cá nhân trong nước. Ở các nước, Chính phủ thường bỏ vốn xây
dựng cơ sở hạ tầng như san lấp mặt bằng, làm đường giao thơng Tại Việt
Nam, Nhà nước khơng có đủ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Vì vậy, việc
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được hiểu là tiến hành kêu gọi vốn đầu tư
nước ngồi và trong nước kể cả xây dựng cơ sở hạ tầng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Sản phẩm của các nhà máy, xí nghiệp trong KCN dành chủ yếu cho thị
trường thế giới, đối tượng chủ yếu là phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên để tăng thu
ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu máy móc, thiết bị và hàng hố
tiêu dùng, các nhà sản xuất trong KCN rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hố
có chất lượng cao với mục đích thay thế hàng nhập khẩu.
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế
thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Bởi vậy, cơ chế quản lý kinh tế
trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chính.
- KCN có vị trí địa lý xác định nhưng khơng hồn tồn là một vương
quốc nhỏ trong một vương quốc như KCX. Các chế độ quản lý hành chính, các
quy định liên quan đến ra, vào KCN và quan hệ với doanh nghiệp bên ngồi sẽ
rộng rãi hơn. Hoạt động trong KCN sẽ là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân
trong và ngồi nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng.
- KCN là mơ hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và
nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại song song: doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngồi dưới các hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh, doanh
nghiệp 100% vốn nước ngồi, doanh nghiệp liên doanh và cả doanh nghiệp
100% vốn trong nước.
Ra đời cùng với loại hình KCX, KCN cũng sớm gặt hái được nhiều thành
cơng ở các quốc gia khác nhau, đặc biệt là các nước đang phát triển.
2.2. Phân biệt khu cơng nghiệp với khu chế xuất
Trong mục 1, luận văn đã trình bày khái niệm về KCN, KCX và KCNC.
Qua đó, ta thấy có thể dễ dàng phân biệt giữa KCNC với KCN và KCX, nhưng
giữa KCN và KCX thì sự khác biệt khơng rạch ròi như vậy. Do đó, cần phải đi
sâu nghiên cứu những điểm giống và khác nhau giữa KCN và KCX nhằm có sự
phân biệt rõ ràng giữa KCN và KCX. Điều này có ảnh hưởng quyết định đến
các phần tiếp theo của luận văn, đặc biệt là trong chương II và chương III. Vì
vậy nó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bản luận văn này.
* Điểm giống nhau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- KCN và KCX đều là những địa bàn sản xuất cơng nghiệp gồm nhiều xí
nghiệp vừa và nhỏ, khơng có dân cư sinh sống, có ranh giới pháp lý riêng, có
ban quản lý riêng do Chính phủ thành lập. Về cơ sở hạ tầng, KCN, KCX đều
được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại, đạt các tiêu chuẩn
quy định phục vụ trực tiếp cho hoạt động các doanh nghiệp cơng nghiệp.
- Về cơ cấu ngành, KCN, KCX đều gồm các ngành truyền thống mà
trong nước có lợi thế so sánh và các ngành cơng nghiệp mới như điện tử, lắp
ráp
* Điểm khác nhau:
- KCN có phạm vi hoạt động rộng hơn KCX, nó khơng chỉ bao gồm các
doanh nghiệp sản xuất hàng hố và dịch vụ cho xuất khẩu mà còn mở ra cho tất
cả các ngành cơng nghiệp bao gồm cả sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong
nước.
Các doanh nghiệp 100% vốn trong nước có thể được vào KCN, khác với
KCX chỉ liên kết với các cơng ty có vốn nước ngồi. Các ưu đãi từ phía Chính
phủ cũng được thực hiện đối với doanh nghiệp trong KCN chú trọng tới việc
sản xuất hàng xuất khẩu, do đó những doanh nghiệp này sẽ được hưởng chế độ
ưu đãi như trong KCX và cũng sẽ được hưởng ưu đãi như trong KCN.
- KCX là khu vực thu hút các dự án đầu tư nước ngồi để xuất khẩu.
Quan hệ giữa các doanh nghiệp chế xuất với thị trường nội địa là quan hệ ngoại
thương cũng giống như quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước
ngồi. KCX là khu thương mại tự do, bởi vì hàng hố từ KCX ra nước ngồi và
từ nước ngồi vào KCX khơng phải chịu thuế xuất nhập khẩu và ít bị ràng buộc
bởi hàng rào phi thuế quan. Còn quan hệ giữa các doanh nghiệp KCN với thị
trường nội địa là quan hệ nội thương (trừ doanh nghiệp chế xuất trong KCN
được hưởng ưu đãi như doanh nghiệp trong KCX). KCN khơng phải là khu
thương mại tự do mà là khu sản xuất tập trung.
- Về điều kiện ưu đãi, doanh nghiệp KCX được hưởng thuế thu nhập
10%, miễn thuế trong 4 năm đầu đối với doanh nghiệp sản xuất; nộp 15% và
miễn 2 năm đối với doanh nghiệp dịch vụ. Còn doanh nghiệp KCN nộp thuế thu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
nhập doanh nghiệp 15% đối với doanh nghiệp xuất khẩu dưới 50% sản phẩm
trong 2 năm; 10% đối với doanh nghiệp xuất khẩu trên 80% sản phẩm và trong
2 năm.
Đối với nước sở tại, thì KCX có nhiều mặt lợi hơn so với KCN. Điều này
có thể được lý giải bởi các lý do sau đây:
+ Doanh nghiệp chế xuất khơng được trực tiếp sử dụng thị trường nội địa
nên nhìn chung là khơng cạnh tranh với sản xuất trong nước.
+ Nhà nước khơng lo cân đối ngoại tệ cho doanh nghiệp mà ngược lại,
nguồn ngoại tệ của xã hội lại được tăng lên nhanh chóng nhờ hoạt động của
KCX.
+ Thúc đẩy việc mở cửa thị trường nội địa nhanh hơn, phù hợp với chủ
trương xây dựng nền kinh tế mở hướng mạnh về xuất khẩu.
Tuy nhiên, những gì được coi là có lợi cho nước sở tại thì ngược lại là
khó khăn đối với nhà đầu tư. Để có thể xuất khẩu được 100% sản phẩm, việc tổ
chức sản xuất phải đạt chất lượng cao, đồng đều, giá hợp lý, phù hợp với điều
kiện cạnh tranh của thị trường quốc tế. Do các khó khăn trên mà các nhà đầu tư
nước ngồi thường quan tâm đến hình thức KCN, nhằm tận dụng lợi thế về thị
trường nội địa. Do đó, việc xây dựng thành cơng các KCX thường gặp khó khăn
hơn là KCN. Việc các nhà đầu tư nước ngồi coi trọng mơ hình KCN là có căn
ngun riêng của nó, nhưng cần phải thấy được một vấn đề là nếu một quốc gia
có q nhiều KCN hoạt động sẽ có hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng chủ yếu do nước ngồi đầu tư. Điều này sẽ tạo ra hiện tượng cạnh tranh
gay gắt khơng cần thiết trên thị trường nội địa.
Để khuyến khích đầu tư vào KCX, cần rà sốt lại tồn bộ hệ thống chính
sách kinh tế vĩ mơ của nhà nước theo tinh thần khuyến khích mạnh hơn, ưu đãi
nhiều hơn cho KCX, làm cho nó có đủ sức hấp dẫn mạnh hơn đối với các nhà
đầu tư so với KCN. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng của các KCN và KCX là
khơng ít khó khăn nhưng việc kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn này
là khó khăn hơn nhiều. Chất lượng của một KCX hay KCN phụ thuộc nhiều vào
chất lượng của các dự án đã thu hút được.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Như vậy KCN và KCX có những đặc điểm khác nhau xuất phát từ sự
khác nhau về mục đích, đối tượng tham gia hay mối liên kết của chúng đối với
nền kinh tế. Đối với KCN thường được thành lập ở những vùng đình trệ về kinh
tế, nơi có nhiều người thất nghiệp, nhưng lại có một số ưu thế phát triển như:
nguồn tài ngun, vị trí địa lý thuận lợi. Được nhận một sự ưu tiên nhất định từ
phía chính quyền địa phương và Chính phủ với vai trò thúc đẩy phát triển kinh
tế vùng (địa phương), KCN bao gồm những doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp nước ngồi. Như vậy, so với KCN thì KCX cũng được xác định là KCN
nhưng tập trung những doanh nghiệp chun sản xuất chế biến các hàng xuất
khẩu, được sự ưu tiên đặc biệt của Chính phủ, có vai trò then chốt trong việc
chuyển từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở.
3. Phân loại các khu cơng nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù có những đặc điểm chung, những KCN còn có những nét đặc thù
thể hiện tính đa dạng của nó, một cách tổng qt có thể chia KCN thành 4 loại:
Một là: các KCN được thành lập trên khn viên đã có một số doanh
nghiệp cơng nghiệp đang hoạt động, KCN Khánh Hồ, KCN Liên Chiểu (Đà
Nẵng), KCN Bình Dương, KCN Tân Tạo, Bình Chiểu (TP Hồ Chí Minh), KCN
Sài Đồng B (Hà Nội) nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển KCN theo đúng quy
hoạch mới, đồng thời tạo hạ tầng kỹ thuật phục vụ tốt việc phát triển KCN, có
điều kiện xử lý chất thải cơng nghiệp. Đối với KCN thuộc loại này thì vấn đề
quan trọng nhất là nhanh chóng nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, nhất là các cơng
trình xử lý chất thải cơng nghiệp, đồng thời đảm bảo tính phù hợp trong quy
hoạch xây dựng các cơng trình kết cấu hạ tầng thuận tiện cho các doanh nghiệp
sử dụng.
Hai là: các KCN được hình thành nhằm đáp ứng u cầu cho việc di dời
các nhà máy, xí nghiệp đang ở trong nội thành các đơ thị lớn, do nhu cầu chỉnh
trang đơ thị và bảo vệ mơi trường, mơi sinh mà phải chuyển vào KCN. Hiện
nay, do các thành phố phát triển nhanh và quy mơ lớn hơn, dân cư tập trung
đơng hơn nên các cơ sở cơng nghiệp đã xây dựng trong nội thành chẳng những
gây mất mỹ quan cho cảnh quan thành phố mà còn gây ơ nhiễm mơi trường
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét