• Tỉ lệ cán bộ trên đại học
Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ lại
như Đại học bao gồm: kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ, thậm chí trong từng chuyên
môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ nữa.
` Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng đó chỉ trình độ của
người được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định,
những kỹ năng thực hành về công việc nhất định. Trình độ kỹ thuật thường được
biểu hiện qua các chỉ tiêu:
• Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông
• Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng
• Trình độ tay nghề theo bậc thợ
Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường kết hợp chặt chẽ với nhau,
thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không được đào tạo trong từng
tập thể nguồn nhân lực.
3.4_ Chỉ số phát triển con người HDI
Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện thông qua chỉ số phát triển
con người (HDI)
Chỉ số này được tính bởi 3 chỉ tiêu chủ yếu:
• Tuổi thọ trung bình
• Thu nhập trung bình đầu người (GDP/1 người)
• Trình độ học vấn ( tỉ lệ biết chữ và số còn đi học trung bình của dân
cư)
5
Như vậy chỉ số HDI không chỉ đánh giá sự phát triển con người về mặt
kinh tế mà còn nhấn mạnh đến chất lượng cuộc sống và sự công bằng tiến bộ xã
hội
3.5_ Chỉ tiêu khác
Ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hóa được như trên người ta còn xem xét
chỉ tiêu năng lực phẩm chất của người lao động. Chỉ tiêu phản ánh mặt định tính
mà khó có thể định lượng được. Nội dung của chỉ tiêu này được xem xét thông
qua các mặt:
• Truyền thống dân tộc bảo vệ tổ quốc
• Truyền thống về văn hóa văn minh dân tộc
• Phong tục tập quán, lối sống
Nhìn chung chỉ tiêu này nhấn mạnh đến ý chí, năng lực tinh thần của người
lao động.
II_ Vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực
1 Quan điểm về đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư,là việc chi dùng vốn trong
hiện tại để tiến hành các hoạt động nhăm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài
sản vật chất(nhà xưởng,thiết bị…)và tài sản trí tuệ(tri thức,trí năng…),gia tăng
năng lực sản xuất,tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sản vật chất(tài sản thực) và
đầu tư phát triển nhũng tài sản vô hình.Và đầu tư phát triển nguồn nhân lực là
một trong nhưng nội dung của đầu tư phát triển những tài sản vô hình. Đầu tư
phát triển nguồn nhân lực bao gồm những nội dung cơ bản sau: đầu tư cho hoạt
động đào tạo(chính quy,không chính quy,dài hạn ,ngắn hạn,bồi dưỡng nghiệp
vụ…)đội ngũ lao động; đầu tư cho công tác chăm sóc sức lẽ đó trong suốt mấy
6
chục năm qua Đảng và nhà nước ta luôn coi sự khoẻ,y tế; đầu tư cải thiện môi
trường, điều kiện làm việc của người lao động;trả lương đúng và đủ cho người
lao động
2_ Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Bước sang thế kỷ 21, giáo dục VN đứng trước những thử thách và nhiệm vụ
: Sự thay đổi công nghệ diễn ra nhanh chóng; toàn cầu hóa và yêu cầu phát triển
kinh tế - xă hội, đất nước đ̣i hỏi giáo dục phải cung cấp cho xă hội một đội ngũ
lao động có chất lượng cao, thái độ làm việc tốt, có sức khỏe, đủ khả năng đáp
ứng yêu cầu của kinh tế cũng như quá tŕnh tự do hóa, di chuyển lao động. Là
một nước mới chuyển đổi đang phát triển ở tŕnh độ thấp nên có nhiều hạn chế về
nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của bất kì
một quốc gia nào trên thế giới.Riêng với Việt Nam với những lợi thế của mình
về nguồn nhân lực,hiện nay vấn đề đầu tư phát triển nguồn nhân lực đang là một
trong những mục tiêu hàng đầu của Việt Nam. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
bao gồm nhưng nội dung chủ yếu sau:
2.1_ Đầu tư giáo dục đào tạo nguồn nhân lực
Từ những năm còn trong chiến tranh,Bác và Đảng ta đã luôn xác định rằng
chúng ta phải chiến đấu với ba loại giặc: giặc đói ,giặc dốt và giặc ngoại xâm.Từ
đó có thể thấy rằng Người đã coi trọng sự nghiệp giáo dục đến mức nào,Người
còn giao nhiệm vụ cho các thế hệ trẻ nước nhà mai sau:”Non sông Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng với các cường quốc năm châu được
hay không.Chính là nhờ một phần ở công học tập ở các cháu”.
Vì nghiệp giáo dục là quốc sách hàng đầu.Hiểu rõ vai trò quan trọng của
giáo dục con người nên ngân sách đầu tư cho giáo dục không nhỏ.Hàng năm con
số đầu tư đó lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng,trường lơp có mặt ở khắp xã
7
thôn,cơ sơ hạ tầng hàng năm đều được quan tâm.Vì lẽ đó hiện nay tỉ lệ người
bíêt chữ đã lớn hơn 95%.Đây cũng chính là con số mà những năm trước đây là tỉ
lệ dân mù chữ của nước ta.Những năm gần đây tỉ lệ học sinh các cấp đều tăng,cả
về số lượng và chất lượng giáo dục đều được nâng cao qua các năm.Nền kinh tế
tri thức đã được nhân dân ta quan tâm đúng mức. Đào tạo nguồn nhân lực là quá
trình trang thiết bị nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động,để họ
có thể đảm nhận được một công việc nhất định.Phát triển nguồn nhân lực bao
gồm các hoạt động học tập trang thiết bị kiến thức kĩ năng để cho người lao
động làm công việc khó khăn phức tạp hơn và để phát triển sự nghiệp của
mình.Để hoàn thành tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực cần phải có sự đầu tư
kĩ lưỡng về mọi mặt.Việc đầu tư cho giáo dục được thể hiện qua các mặt chính
sau:
2.1.1_ Về chương trình giảng dạy :
Chương trình giảng dạy thể hiện những nội dung sẽ được đưa vào nhà
trường nhằm nâng cao tri thức của mỗi người tham gia khóa học.Vì vậy chương
trình giảng dạy cần được coi trọng.Hiện nay ở Việt Nam thì chương trình học
được thể hiện rõ nét trong sách giáo khoa.
Sách giáo khoa là loại sách cung cấp kiến thức, được biên soạn với mục
đích dạy và học.Thuật ngữ sách giáo khoa còn được hiểu là một loại sách chuẩn
cho ngành học.Sách giáo khoa được phân loại theo đối tượng sử dụng hoặc chủ
đề của sách.Việc xuất bản sách giáo khoa thường dành cho các nhà xuất bản
chuyên ngành.Biên soạn một sách giáo khoa có giá trị cả một kì công.Ngày nay
bên cạnh dạng sách in ,nhiều sách giáo khoa có thể được tham khảo trực tuyến.
Ở cấp phổ thông,sách giáo khoa là sự thể hiện những nội dung cụ thể của
chương trình phổ thông.Trên thé giới có nhiều bộ sách giáo khoa khác nhau
cùng biên soạn cho cùng một môn học.Tại Việt Nam,hiện tại chỉ tồn tại một bộ
sách duy nhất cho một môn học.
8
Kiến thức trong sách giáo khoa là một hệ thống kiến thức khoa học, chính
xác,theo một trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mătj sư phạm cho phù
hợp với trình độ học sinh và thời gian học tập.Ngoài phần kiến thức,sách giáo
khoa còn có một phần về rèn luyện các kĩ năng và các phương pháp giảng dạy
môn học.
Hầu như có sự đồng tình rộng rãi phải cải tiến mạnh mẽ chương trình giảng
dạy của các loại trường ở tất cả các cấp, nhưng cải tiến như thế nào để không đi
vào vết xe của những đợt cải cách, cải tiến đã thực hiện trong 20 năm qua, thì
chưa được bàn tới một cách triệt để, thực tế là đang còn có nhiều ý kiến khác
nhau. Trên báo chí, nhiều học giả Việt Nam sống trong nước và ở ngoài nước đã
giới thiệu nhiều mô hình khác nhau của các nước có nền giáo dục tiên tiến (Phần
Lan, Anh, Đan Mạch, Bỉ, New Zealand, Úc…).
Như vậy cải cách giáo dục đang trở thành vấn đề thời sự ở nhiều nước, chứ
không riêng gì nước ta, đương nhiên mỗi nước có những vấn đề riêng của mình.
Điểm giống nhau là không nước nào dám khoanh tay ngồi yên.Vì lí do đó và sự
cần thiết của giáo dục đào tạo nên nhà nước ta đang có những chính sách đầu tư
phát triển nguồn nhân lực.
2.1.2 _ Về đội ngũ giáo viên và phương pháp dạy,học
Đào tạo giáo dục đang trở thành vấn đề hết sức quan trọng và được đặt lên
hàng đầu ở hầu hết các nước và Việt Nam cũng không ngoại lệ.Vậy để làm thế
nào để có hiệu quả,chất lượng tốt đảm bảo đáp ứng yêu cầu đặt ra.Trước hết cần
có đôị ngũ gião viên nhiệt tình, giàu kinh nghiêm và có trình độ chuyên môn
cao.
Phương pháp giáo dục (hay còn gọi là phương pháp dạy học, phương pháp
giảng dạy, giáo dục học, sư phạm) là cách thức sử dụng các nguồn lực trong
giáo dục như giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để
giáo dục người học.
9
Hiện nay đã hình thành và phát triển nhiều phương pháp giảng dạy khác
nhau như:
• Phương pháp giáo dục truyền thống: Giáo viên độc thoại, chủ động
truyền đạt kỹ năng còn người học tiếp thu một cách thụ động. Giáo viên làm
mẫu còn học viên làm theo.
• Phương pháp giáo dục hiện đại: Giáo viên là người thiết kế tổ chức
còn bản thân học viên tự tìm kiếm tri thức, tự hoạt động theo cách riêng độc lập
và sáng tạo.
• Phương pháp giáo dục thụ động: Giáo viên truyền đạt kiến thức, độc
thoại, phát vấn hay đặt câu hỏi, giáo viên áp đặt kiến thức có sẵn, còn học viên
thì học thuộc lòng và nhớ máy móc. Giáo viên độc quyền đánh giá cho điểm.
• Phương pháp giáo dục tích cực: Học viên tự tìm ra kiến thức bằng
hành động thao tác giáo viên đối thoại với học viên, giáo viên hợp tác và trao
đổi với học viên và giáo viên khảng định kiến thức do hoc viên tìm ra. Học sinh
học cách học, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng thành.
Học sinh tự đánh giá và điều chỉnh làm cơ sở cho giáo viên cho điểm cơ động.
Đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những điều kiện quyết định
đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước
hiện nay. Ý thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà nước ta rất quan tâm
tới việc bồi dưỡng, cập nhật, vận dụng các phương pháp giảng dạy mới trong
nhà trường.
2.1.3_ Chất lượng nhà trường nước ta:
Việt Nam đang trên con đường phát triển với nhiều biến đổi cả về chất và
lượng.Một trong những những nguyên nhân đó là do đặc điểm nguồn nhân lực
Việt Nam.Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều ngân sách cho công tác giáo dục.Một
trong những nội dung đầu tư đó là đầu tư cho cơ sở hạ tầng giáo dục.Mà ở đây
10
chúng ta sẽ xét đến cơ sở nhà trường_nơi diễn ra quá trình đào tạo nguồn nhân
lực.
Trong hệ thống quốc dân thì nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế
hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và được tổ chức theo
các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục.Hiện nay thì nước ta đã có các
cấp bậc như:mầm non,tiểu học,trung học cơ sở.trung học phổ thômg,phổ thong
cơ sở,cao đẳng, đại học,trên đại học Ngoài ra còn có cả viện và viện nghiên cứu
cũng đã được triển khai rộng rãi Các hình thức triển khai cũng rất phong
phú.Việt Nam có các loai nhà trường thuộc loại hình công lập, bán công, dân
lập, tư thục đều chịu sự quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý giáo dục theo
sự phân công, phân cấp của Chính phủ.
Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ
thống giáo dục quốc dân; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân mở
trường dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội
Ngoài ra còn có nhà trường của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức. Nhà trường của lực lượng vũ trang nhân dân có nhiệm vụ đào tạo, bồi
dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng;
bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước về nhiệm vụ và kiến thức
quốc phòng, an ninh.
Nhà nước ta còn xây dựng cả các loại trường chuyên biệt như trường phổ
thông dân tộc nội trú; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường dự bị đại
học;trường chuyên, trường năng khiếu;trường, lớp dành cho người tàn tật;trường
giáo dưỡng.
Nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:
- Tổ chức giảng dạy ,học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục
tiêu,chương trình giáo dục;
- Quản lý nhà giáo , cán bộ ,nhân viên;
11
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Quản lý ,sử dụng đất đai ,trường sở ,trang thiet bị và tài chính theo quy
định của pháp luật;
- Phối hợp với gia đình người học , tổ chức , cá nhân trong hoạt động giáo
dục;
- Tổ chức cho nhà giáo ,cán bộ ,nhân viên và người học tham gia các hoạt
động xã hội;
- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật;
Đặc điểm chung nhất cho các loại trường từ tiểu học cho đến đại học , các
học , viện nghiên cứu ở nước ta là: nhiều trường , nhiều trường lớn và đông, chất
lượng nhìn chung thấp.
Có thể thấy nhà nước ta rất quan tâm đến việc đầu tư naxây dựng cơ sở
giảng dạy .
2.2 _ Đầu tư y tế chăm sóc sức khỏe
Chăm sóc sức khỏe là một ngành dịch vụ trong đó người cung ứng và
người sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ. Tuy nhiên, không giống
các loại dịch vụ khác, chăm sóc sức khỏe có một số đặc điểm riêng
1
, đó là:
Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các
mức độ khác nhau. Chính vì không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên
thường người ta gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước
được.
Dịch vụ y tế là loại hàng hoá mà người sử dụng (người bệnh) thường không
tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định. Nói
một cách khác, ngược lại với thông lệ “Cầu quyết định cung” trong dịch vụ y tế
“Cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng
điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định. Như
vậy, người bệnh, chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, bác
sĩ điều trị chứ không được chủ động lựa phương pháp điều trị.
12
Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người
nên không giống các nhu cầu khác, khi bị ốm, mặc dù không có tiền nhưng
người ta vẫn phải mua (khám chữa bệnh) đây là đặc điểm đặc biệt không giống
các loại hàng hóa khác.
Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y tế công cộng (public good), dịch vụ y tế
cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên (merit good) và dịch vụ y tế cá nhân
(private good):
• Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này
không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho
người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòng
bệnh, giáo dục y tế.
• Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên sẽ được dành cho
một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công với
cách mạng
• Dịch vụ y tế cá nhân là các dịch vụ y tế chỉ cung ứng trực tiếp cho người
sử dụng dịch vụ.
Trong lĩnh vực y tế, có năm loại thị trường bao gồm: thị trường bảo hiểm y
tế tư nhân, thị trường dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, thị trường dịch vụ
bệnh viện, thị trường thuốc-vật tư y tế và thị trường nhân lực y tế
Trong cơ chế thị trường, nhà đầu tư để có lợi nhuận tối đa, sẽ căn cứ vào
nhu cầu và giá cả trê thi trường để quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế
nào và sản xuất cho ai. Thông qua cơ chế thị trường, các nguồn lực của nền
kinh tế tự phân bổ một cách tối ưu. Tuy nhiên, để cơ chế thị trường thực hiện tốt
được chức năng của mình, thì thị trường phải có môi trường cạnh tranh hoàn
hảo, thông tin đẩy đủ và không bị ảnh hưởng bởi các thông tin ngoại lai….
Trong lĩnh vực y tế, cơ chế thị trường. Thị trường y tế không phải là thị trường
tự do. Trong thị trường tự do, giá của một mặt hàng được xác định dựa trên sự
thỏa thuận tự nguyện giữa người mua và người bán. Trong thị
13
trường dịch vụ y tế không có sự thỏa thuận này, giá dịch vụ do người bán quyết
định. Không thể vận dụng một cách hiệu quả.
Các nhà phân tích y tế đã thừa nhận trong thị trường y tế luôn tồn tại các
yếu tố: “thất bại thị trường” cụ thể là:
• Dịch vụ y tế là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất
định đối với sự gia nhập thị trường của các nhà cung ứng dịch vụ y tế. Cụ thể,
muốn cung ứng dịch vụ y tế cần được cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo
những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác, trong thị trường
y tế không có sự cạnh tranh hoàn hảo.
• Bất đối xứng thông tin giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ.
Như trên đã trình bày, trên thực tế, bệnh nhân hiểu biết rất ít về bệnh tật và các
chỉ định điều trị, do vậy hầu như người bệnh hoàn toàn phải dựa vào các quyết
định của thầy thuốc trong việc lựa chọn các dịch vụ y tế (cầu do cung quyết
định). Nếu vấn đề này không được kiểm soát tốt sẽ dẫn tới tình trạng lạm dụng
dịch vụ từ phía cung ứng, đẩy cao chi phí y tế.
• Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng ” và mang
tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích không
chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người
không trả tiền (Ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe). Chính điều
này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng
các dịch vụ đó thấp. Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho cầu cần có sự
can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính công
cộng.
• Đối với thị trường bảo hiểm y tế tư nhân, các yếu tố thất bại thị trường là
“lựa chọn ngược” có nghĩa là chỉ những người có bệnh mới tham gia mua bảo
hiểm y tế và tâm lí “phó mặc”- tức là một khi đã có bảo hiểm y tế, người dân sẽ
không có ý thức tự bảo vệ sức khỏe hoặc công ty bảo hiểm tư nhân chỉ lựa chọn
những người khỏe mạnh ít nguy cơ để bán bảo hiểm y tế ( hành vi “hớt váng”).
Vì thế, ngay tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nguồn tài
chính từ các công ty bảo hiểm y tế tư nhân vẫn không phải là nguồn tài chính
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét