Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

SỰ THA HÓA CỦA CON NGƯỜI TRONG SÁNG TÁC CỦA NAM CAO TRƯỚC 1945


chuẩn mực để đối chiếu, so sánh và tự ngẫm lại mình. Ấy là phút giây tỉnh táo trở về của lương tri
và ý thức trách nhiệm…Tự phân tích, phê phán với nhiều sắc thái khác nhau là một đảm bảo để
nhân vật giữ lại được phẩm chất của mình chống lại mọi sự biến chất, tha hóa” {92; 75 – 76 – 77}.
Nguyên Hồng (1960), “Đọc những truyện ngắn của Nam Cao”, trích sách "Sức số
ng của ngòi
bút" Nxb Văn nghệ, H. 1963, ông điểm qua những sáng tác tiêu tiểu của Nam Cao, phát hiện thêm
những nét mới trong sáng tác của Nam Cao “Nam Cao để lại cho cuộc sống, chính là những hình
ảnh sinh động của một số nông dân ngoi ngóp trong cảnh nghèo đói. Họ đã bị áp bức và bóc lột đến
cùng kiệt, và cũng bị phá hoại đến cùng kiệt, thể chất cũng như tinh thần dưới cái chế độ thống trị
của b
ọn cường hào phong kiến” {77; 156}. Bên cạnh đó còn có các bài viết như: “Nam Cao - Con
người và xã hội cũ” (1964) của Lê Đình Kị, hay Nguyễn Văn Trung có bài “Con người bị từ chối
quyền làm người trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” (1965). Các bài viết trên tập trung nói
đến tư tưởng tiến bộ của nhà văn luôn đứng về phía những người nghèo khổ, đồng thời phản ánh
hiện thực xã hội, biểu hiện những b
ế tắc trong tư tưởng Nam Cao. Trong đó bài viết của Nguyễn
Văn Trung đã bàn đến tư tưởng nhân văn Nam Cao qua tấn bi kịch cự tuyệt quyền làm người của
nhân vật Chí Phèo, “Người ta từ chối cho những Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo quyền làm người,
quyền sống lương thiện như mọi người. Thái độ ngang tàng bạo ngược của chúng chẳng qua là biểu
lộ một tâm trạng tuyệt v
ọng. Lời chửi, tiếng kêu, cái chết vô lý của chúng là sự phản kháng và tố
cáo của những con người bị từ chối không được làm người” {137; 343}
Từ những năm tám mươi của thế kỉ XX, có nhiều công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự
nghiệp của Nam Cao, các nhà nghiên cứu đã khám phá nhiều lớp ý nghĩa trong tác phẩm ông. Và vị
trí văn học sử của Nam Cao ngày càng được khẳng định. Có thể kể ra m
ột số công trình tiêu biểu
như: “Nghĩ tiếp về Nam Cao”, Nxb Hội nhà văn Hà Nội 1992, “Nam Cao một đời người một đời
văn” của Nguyễn Văn Hạnh (1993).
Trong công trình nghiên cứu “Nam Cao một đời người một đời văn”, Nguyễn Văn Hạnh đã
phân tích những nét khái quát về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nam Cao. Ông đề cập đến
đặc điể
m tính cách của Nam Cao, những đóng góp của Nam Cao về tư tưởng nhân đạo, về nghệ
thuật xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật, về cấu trúc tác phẩm và về ngôn ngữ trong tác phẩm
Nam Cao… Sau cùng, ông nhận xét “Tầm vóc của Nam Cao chính là ở tấm lòng và tư tưởng của
ông . Tấm lòng lớn, tư tưởng lớn. Những vấn đề mà Nam Cao đặt ra cho đến bây giờ vẫn làm nhức
nhối chúng ta {29; 25}.
Nhiều người viết về Nam Cao, trong đ
ó người viết nhiều nhất là Phong Lê, hơn ba mươi năm
nghiên cứu về Nam Cao, nhưng ông vẫn khiêm tốn coi các công trình của mình chỉ là “Phắc thảo sự
nghiệp và chân dung” của Nam Cao. Ông tiếp cận tác phẩm Nam Cao từ nhiều góc độ như: “Nam
Cao kết thúc vẻ vang phong trào văn học hiện thực”, “Người trí thức kiểu Nam Cao chiến thắng của

chủ nghĩa hiện thực”, “Cấu trúc ngôn ngữ truyện ngắn Nam Cao”, “Tình cảnh người nông dân với
cái làng quê tiền Cách mạng trong sáng tác Nam Cao”, “Sự sống và sức sống trong Nam Cao hay
đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao”… “Toàn bộ thế giới truyện của Nam Cao là một nỗi đau
lớn vì một nỗi khổ – hiện ra trong rất nhiều con người, cũng đồng thời là niềm khắc khoải lớn, vì
nhu c
ầu phát triển con người.” {77; 115}, ông đặc biệt chú trọng đến “Sức chứa và sức mở” từ giá
trị của những điển hình sống động trong sự gắn bó với tư tưởng của Nam Cao. “Nam Cao không viết
gì khác ngoài cái làng Vũ Đại quê ông. Nhưng rồi tất cả cái làng quê tiền Cách mạng đều được thu
nhỏ đâu vào đấy, với sự lưu cữu, sự xếp lớp nhiều tầ
ng các mặt tốt – xấu, vừa trái ngược nhau, vừa
bổ sung cho nhau, Những chuyện no đói và sống chết. Ma chay và cưới xin…”{60; 14}
Nguyễn Đăng Mạnh có hai bài về Nam Cao viết trong cuốn “Nhà văn Việt Nam hiện đại –
chân dung và phong cách”, trong đó ông đề cập đến những nét lớn về phong cách của nhà văn. Đó
là những nỗi đau đớn trước tình trạng con người vì miếng cơm manh áo mà không đứng thẳng lên
được, không sao giữ
được nhân tính, nhân cách và nhân phẩm, Nam Cao là tấm gương của một cây
bút luôn luôn tìm tòi, khám phá, sáng tạo, là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lý và luôn có cách
kể chuyện biến hóa. Ở bài “Cái đói và miếng ăn trong truyện Nam Cao”, ông kêu gọi hãy cứu lấy
nhân phẩm, nhân tính và nhân cách con người trước cái đói và miếng ăn chứ không phải kêu gọi
cứu lấy cái đói cho con người như một số nhà văn khác cùng thời “Nhưng nếu như ở tác phẩ
m của
Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói, thì ở tác phẩm của Nam Cao lại là tiếng kêu cứu lấy nhân cách,
nhân phẩm, nhân tính con người đang bị cái đói, miếng ăn làm cho tiêu mòn đi” {70; 12} hay ở
một đoạn khác ông viết “Miếng ăn là một thử thách ghê gớm đã phân hóa tính cách theo hai thái
cực: hoặc mất cả nhân cách, nhân tính như những nhân vật trong Một bữa no, Trẻ con không biết
ăn thịt chó, Chí phèo, Quên đ
iều độ hoặc trở thành những bậc chí thiện như Lão Hạc…Cái đói và
miếng ăn là cái gông nặng nề đã đè dúi dụi anh tiểu tư sản trí thức xuống sát đất để biến tất cả
những ước mơ, những triết lý của anh thành hu huênh hoang, vớ vẩn, giả đối và khôi hài…” {70;
11}. Rõ ràng, ông đã cho thấy cái độc đáo, mới mẻ của nhà văn Nam Cao trong một đề tài không
mớ
i.
Trong các cuốn sách tập hợp nhiều bài viết về Nam Cao gồm “Nghĩ tiếp về Nam Cao” (NXB
Hội nhà văn Hà Nội 1992), “Nam cao về tác gia tác phẩm” ( NXB Giáo dục 1998), “Nam Cao nhà
văn hiện thực xuất sắc” ( NXB Thông tin văn hóa Hà Nội 2000), “Nam cao – con người và tác
phẩm” ( NXB Văn học Hà Nội 2000). Các nhà biên soạn đã xếp vào sáng tác của Nam Cao trước
1945 những bài viết khác nhau đề cập đến vấn đề về nội dung và nghệ thuậ
t qua các sáng tác của
Nam Cao. Có thể chia các bài viết đó thành các nhóm sau:
Nhóm bàn về nội dung sáng tác của Nam Cao:

Về giá trị hiện thực gồm: “Mối quan hệ xã hội trong làng Vũ Đại” của Đức Mậu, “Qua
truyện ngắn Chí Phèo bàn thêm về cái nhìn hiện thực của Nam Cao” của Trần Tuấn Lộ, “Có hay
không yếu tố tự nhiên chủ nghĩa trong tác phẩm Nam Cao” của Quỳnh Nga, “Nam Cao con người
và xã hội cũ “ của Lê Đình Kỵ…
Về giá trị nhân đạo gồm: “Bi kịch tự ý thức – nét
độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của Nam
Cao”, “Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lương thiện xứng đáng” của Nguyễn Văn Hạnh,
“Con người bị từ chối quyền làm người trong Chí Phèo của Nam Cao” của Nguyễn Văn Trung…
Nhóm bàn về nghệ thuật sáng tác của Nam Cao như:
Về nghệ thuật xây dựng nhân vật gồm: “Nam cao và nghệ thuật sáng tạo tâm lý” của Hà
Minh Đứ
c, “Nhân vật “hắn” với một nét đặc trưng trong ngôn ngữ nghệ thuật Nam Cao” của
Trương Thị Nhàn, “Về các nhân vật dị dạng trong sáng tác của Nam Cao” của Trần Thị Việt
Trung…
Về ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác Nam cao gồm: “Chất giọng Nam Cao trong Chí
Phèo” của Nguyễn Thái Hòa, “Lối văn kể chuyện của Nam Cao” của Phan Diễm Hương, “Bút pháp
tự sự đặc sắc trong Sống mòn
” của Nguyễn Ngọc Thiện, “Tìm hiểu chữ “ Nhưng” trong văn Nam
Cao” của Phan Trọng Thưởng….
Về thi pháp nói chung gồm: “Thời gian và không gian nghệ thuật Nam Cao” của Trần Đăng
Suyền, “Phong cách truyện ngắn Nam Cao” của Vũ Tuấn Anh, “Phong cách truyện ngắn Nam Cao
trước Cách mạng” của Bùi Công Thuấn, “Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao” của Phạm
Quang Long, “Đặc trưng bút pháp hiện th
ực” của Phong Lê, “Nam Cao cuộc cách tân văn học thế
kỉ XX” của Lại Nguyên Ân…
5. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu trong những sáng tác của Nam Cao trước 1945
(dựa theo Nam Cao toàn tập, 3 tập do Hà Minh Đức, Nxb Văn học, 2000). Và nghiên cứu vị trí của
Nam Cao trong trào lưu hiện thực phê phán gồm các nhà văn như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Công Hoan… và những công trình nghiên cứu trước có liên quan đến
đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Đề cương đưa ra một số phương pháp nghiên cứu để làm luận văn như:
Phương pháp hệ thống: xem xét tác phẩm như một chỉnh thể, toàn bộ tác phẩm của Nam Cao
như một hệ thống và là một yếu tố xuyên suốt trong tất cả hệ thống sáng tác của nam Cao.
Phương pháp so sánh: ở hai cấp độ
So sánh các tác phẩm của Nam cao để thấy sự ổ
n định, bền vững và sự phát triển phong cách
nghệ thuật nhà văn theo hướng vừa thống nhất, vừa đa dạng.

So sánh với các tác phẩm của các tác giả khác để thấy được sự độc đáo, mới mẽ của phong
cách nghệ thuật Nam cao.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: đưa ra những dữ kiện để phân tích và tổng hợp.
Phương pháp thống kê: để tìm tần số lặp đi đi lặp lại của các yếu tố tạo nên chủ đề và phong
cách sáng tác.
7. Ý nghĩa khoa học:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về
Nam Cao, luận văn này có sự kế thừa và phát huy
những thành tựu rất đáng trân trọng của những người đi trước khi nghiên cứu về Nam Cao. Luận
văn nêu lên và đi sâu vào một phương diện trong tư tưởng nhân văn và phong cách sáng tạo của
Nam Cao.
8. Ý nghĩa thực tiễn:
Người viết mong muốn đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần làm tài liệu tham khảo về những
đóng góp của nhà văn trong giai đoạn
đầu hình thành chủ nghĩa hiện thực phê phán của nền văn học
hiện đại Việt Nam.
Nghiên cứu về Nam Cao để tự trang bị cho bản thân trong công tác giảng dạy văn học.


Chương 1:
NAM CAO VỚI CHỦ ĐỀ THA HÓA TRONG SÁNG TÁC TRƯỚC 1945

1.1. Khái niệm tha hóa:
1.1.1. Một số định nghĩa:
Tha hóa là một từ được dùng theo những ý nghĩa khác nhau, nói cách khác là một từ có nhiều
khái niệm:
Trong đời sống cộng đồng, tha hóa là một khái niệm có ý nghĩa đạo đức, nói về những
trường hợp người bị biến chất, bị mất đi những phẩm chất tốt đẹp vốn có củ
a mình trước đây.
Trong nghiên cứu khoa học - xã hội, tha hóa là một khái niệm có ý nghĩa triết học, nói về
một hiện tượng, một quy luật diễn ra trong đời sống xã hội.
Từ điển Tiếng Việt – (Viện ngôn ngữ học), NXB Khoa học xã hội, 1988, định nghĩa tha hóa
(Động từ) có hai nghĩa.
Con người bị biến chất thành xấu đi. Thí dụ: “Bị tha hóa trong môi trường tiêu cực”. “Một
cán bộ đã tha hóa”.
Biến thành cái khác đối nghịch lại (Thí dụ như: kết quả hoạt động của con người biến thành
cái thống trị lại và thù địch với bản thân con người, trong xã hội có giai cấp đối kháng). Thí dụ:
“Trong xã hội tư bản, lao động bị tha hóa”.
Theo từ điển Triết học – NXB Đại học và THCN, 1987: “Tha hóa (Tiếng Anh: Alienation,
Tiếng Pháp: Alie’nation): Tình trạng xã hội trong đó những sả
n phẩm, quan hệ và thể chế là kết
quả hoạt động của con người biến thành những lực lượng độc lập và xa lạ với họ, thống trị họ và thù
địch với họ.
Trong lịch sử triết học, khái niệm tha hóa xuất phát từ triết học Hê - ghen (“Ý niệm tuyệt đối”
tự tha hóa) và Phơ - bách (Con người tự tha hóa với bản chất của mình), C. Mác và Anghen cho
khái niệm tha hóa những c
ơ sở và nguyên nhân xã hội, đặc biệt qua sự phân tích quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa: “Người công nhân không được làm chủ cái mình sản xuất ra, họ bị coi như một thứ
đồ vật, một công cụ lao động, bản thân họ cảm thấy xa lạ với một công việc đưa lại sản phẩm và lợi
nhuận ngoài tầm của họ”.
Như vậy, theo từ đ
iển Tiếng Việt, tha hóa mang hai ý nghĩa đạo đức và ý nghĩa triết học.
(Nhưng từ điển Tiếng Việt chỉ ghi tha hóa là “Động từ”. Thực ra tha hóa có khi là động từ, có khi là
danh từ, tính từ, vì người ta vẫn gọi là “Sự tha hóa”.)
1.1.2. Quan niệm về tha hóa trong lịch sử tư tưởng triết học:

Nguồn gốc tư tưởng về tha hóa có thể tìm thấy ở những đại diện của phong trào Khai sáng
Pháp thế kỷ XVIII gồm Rút - xô và các nhà hoạt động xã hội hiểu tha hóa như tình huống xã hội đặc
thù: “Kết quả hoạt động của con người trở thành sức mạnh thống trị lại anh ta”.
Khái niệm “Tha hóa” bắt đầu được hình thành trong chủ nghĩa duy tâm cổ điển Đức như mộ
t
phạm trù triết học, khi họ phê phán các quan hệ phong kiến. Trong số các nhà triết học Đức, Phích -
tơ là người đầu trên dùng khái niệm “Tha hóa”. Ông cố gắng dựa vào khái niệm đó để diễn đạt sự
kiện sinh ra “Không phải Tôi”, xa lạ và đối lập với “Tôi” bởi chính “Tôi”.
Về sau, Hê- ghen là người tiếp tục phát triển kết cấu tha hóa đó của Phích - tơ. Ông đã trình
bày một cách đầy đủ
nhất việc lý giải theo kiểu duy tâm sự tha hóa, khi cho rằng toàn bộ thế giới
khách quan thể hiện ra như là “Tinh thần đã tha hóa”. Theo Hê – ghen nhiệm vụ của sự phát triển là
ở chỗ lột bỏ sự tha hóa trong quá trình nhận thức. Đồng thời, trong quan niệm về tha hóa ở Hê-ghen
có chứa đựng những dự đoán hợp lý về một số đặc điểm của lao động trong điều kiện xã h
ội đối
kháng. Trong “Hiện tượng học tinh thần”, Hê - ghen cũng khảo sát lao động như quá trình tinh thần
con người bị trói buộc trong lao động, diễn ra sự tha hóa nó thành lao động và thành kết quả của lao
động. Và như vậy, không phải tha hóa lao động, mà đúng ra, tất cả chỉ có tha hóa tinh thần thành lao
động. Hê - ghen biết rõ mặt tiêu cực của lao động trong xã hội tư sản, trong đó “Rất nhiều người
buộc phải lao độ
ng mang tính ngu xuẩn, không lành mạnh và không được đảm bảo - lao động trong
các nhà máy, công trường thủ công, hầm mỏ ”.
Phơ - bách đã coi tôn giáo là sự tha hóa của bản chất con người, chủ nghĩa duy tâm là sự tha
hóa của lý tính. Nhưng ông không tìm ra được những con đường hiện thực để thủ tiêu nó. Nên chỉ
thấy chúng trong sự phê phán lý luận mà thôi.
C. Mác người đã chú ý rất nhiều đến việc phân tích sự tha hóa, xuất phát từ chỗ cho rằng tha
hóa biểu hiện nhữ
ng mâu thuẩn của một giai cấp phát triển nhất định của xã hội. Nó do sự phân
công lao động có tính đối kháng đẻ ra và gắn liền với chế độ tư hữu. Trong điều kiện đó, các quan
hệ xã hội được hình thành một cách tự phát và vượt khỏi sự kiểm soát của con người, còn những kết
quả và sản phẩm hoạt động thì bị tha hóa khỏi các cá nhân và các tập đoàn xã hội và thể hiệ
n ra như
là do những người khác hoặc do những lực lượng siêu nhiên áp đặt. Ông thừa nhận sự tha hóa của
lao động với tư cách là cơ sở của tất cả mọi hình thức tha hóa khác. Trong đó có cả những hình thái
tha hóa về tư tưởng đã cho phép hiểu được ý thức bị bóp méo, sai lầm là kết quả của những mâu
thuẩn đời sống xã hội hiện tại. Ông kết luận nhiệm vụ th
ủ tiêu tha hóa bằng việc cải tạo lại xã hội
theo chủ nghĩa Cộng sản.
Theo V. I. Lê - nin, trong “Bút kí triết học”, đã thừa nhận ở Hê- ghen có những mầm mống
của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Không chỉ gắn sự tha hóa cho hết thảy lịch sử nhân loại, Hê- ghen
còn áp dụng nó cho cả toàn bộ các lĩnh vực hoạt động con người.

Ngày nay, khái niệm tha hóa được sử dụng khá phổ biến để biểu thị cho những thay đổi, biến
chất, những quan điểm sai lệch như lối sống tha hóa trong giới trẻ, tha hóa trên các lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, đạo dức, lối sống…
1.1.3. Vấn đề tha hóa trong sáng tác văn học Việt Nam trước 1945.
Theo “Thời báo kinh tế Sài Gòn, ngày 02/3/1999” qua mạng Internet, Vương Trí Nhàn cho
rằng: “Sự tha hóa tiếng nói ở nướ
c ta bắt đầu từ lâu lắm rồi và tục ngữ có câu “Lưỡi không xương
nhiều đường lắc léo…”. Ông lí giải bắt đầu từ truyện ngắn “Tôi xin hết lòng” của Nguyễn Công
Hoan kể về một người đàn bà, thức nhiều đêm ròng để trông một cô gái ốm và lúc nào cũng xoen
xoét cái miệng: “Tôi xin hết lòng vì cô”. Có gì đâu bởi vì bà ta quá mê bộ tóc của cô bé, sự việc lộ ra
khi lấy cớ giúp cho cái đầu cô gái khỏ
i vướng víu, trong lúc trông nom cô, bà ta đã dang tay cắt
trộm mái tóc ấy. Ngoài ra, ông thống kê trong từ điển Tiếng Việt nhiều từ ghép đi liền với chữ nói,
tạm ghi như: nói bóng nói gió, nói càng, nói cạnh nói khóe, nói dóc, nói dối, nói điêu, nói gạt, nói
gần nói xa, nói khoác, nói lảng, nói náo, nó phét, nói nhăng nói cuội, nói quá, nói ra nói vào, nói
trạng… Đa phần là những từ mô tả sự nói dối với nghĩa xấu. Và ông kết luận: “Hóa ra sự tha hóa
tiếng nói ở nước ta bắt đầu t
ừ lâu lắm”. Cùng với những thực trạng nói dối thường xuyên trong
kinh doanh và quản lý xã hội ông khẳng định: “Từ góc độ xã hội học, đây là biểu hiện của sự tha
hóa ngôn từ, khi con người không còn làm chủ được công cụ giao tiếp này nữa và bản thân công cụ
có một sự phát triển tự thân vô tổ chức (tương tự như tình trạng tế bào ung thư ). Bắt đầu từ sự phát
triển vô tộ
i vạ về số lượng, tiếp đó là những biến dạng kì dị. Sự không phù hợp giữa nội dung và
phương thức biểu hiện ngày càng trở thành thiên hướng không thể cứu vãn”. Có thể đồng cảm với
những trăn trở của tác giả trước thực trạng xã hội, mà ngưới ta đã dùng ngôn ngữ để hứa hẹn, quảng
bá, làm giàu bất chính… Mà Vương Trí Nhàn xem đó là biểu hiện của s
ự tha hóa ngôn từ. Phải
chăng những lời nói dối đem lại lời lãi mà chưa có thứ thuế nào dành cho nó. Nhưng bản thân ngôn
ngữ không lừa dối, tức ngôn ngữ không tha hóa, mà chính con người dùng ngôn ngữ gây hậu quả
xấu. Ngôn ngữ không là nguyên nhân mà lòng gian manh của con người mới là nguyên nhân. Vì
một phát ngôn như một tảng băng có phần nổi để thấy được, nghe được. Nhưng còn phần chìm –
phần ẩn ý chủ đích của ngườ
i nói, không ai biết được, nên không bao giờ có thể đặt trọn niềm tin
theo. Cũng như Chí Phèo từng mềm lòng trước cách cư xử của Bá Kiến “Anh Chí ơi! Sao anh lại
làm ra thế? Chí Phèo lim dim mắt, rên lên: - Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi. Nhưng
tao mà chết thì có thằng sạt nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng…Cái anh này nói mới hay! Ai
làm gì anh mà anh phải chết? Đời người có phải con ngóe đâu? Lại say rồi phải không…” {18;
35}. Rõ ràng, người gian manh dùng ngôn từ
reo rắc ảo tưởng qua sự dối trá. Bản thân ngôn ngữ là
phương tiện giao tiếp, nó hoàn toàn vô can, giống như con dao, người ta làm ra nó để cắt rau quả,

nhưng có kẻ dùng nó làm điều ác thì con dao không có tội. Nên không có sự tha hóa của ngôn ngữ
mà chỉ có sự tha hóa của đạo đức nhân cách con người.
Cái xã hội đen tối, bất công trước cách mạng tháng Tám, 1945 đã dồn ép các tầng lớp nhân
dân lao động vào tình trạng dở sống, dở chết, cùng quẫn, bế tắc. Khác với các nhà văn hiện thực
khác như Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan… Tập trung bút lực vào việc miêu tả tình
trạng đ
ói cơm, rách áo, bần cùng, lầm than của người dân lao động. Nam Cao băn khoăn, đau đớn
không chỉ ở cái đói rét, bần cùng ấy mà là giá trị đạo đức của con người đang bị chà đạp, mai mọt,
con người không chỉ ngụp lặn trong cảnh sống mòn, chết mòn mà có nguy cơ trượt dài xuống đời
sống bản năng của loài vật – tha hóa đi.
Nhà văn Vũ Trọng Phụng – một cây bút miêu tả về s
ự tha hóa của con người trong môi trường
tiền bạc và tham nhũng. Với tiểu thuyết “Giông tố” là một thảm kịch về sự thấp hèn bất tín của con
người trên mọi lĩnh vực, không ai có thể tin ai được và không ai có thể nhờ cậy ai được. Văn
chương của Vũ Trọng Phụng khác với văn chương Tự Lực văn đoàn và cũng khác hẳn với lối hiện
thực phê phán c
ủa những người đương thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng…
Vũ Trọng Phụng không dùng ngòi bút để chống lại một thành phần, một giai cấp nào đó, cũng
không trực tiếp phản ánh sự mục nát, thối rữa của xã hội Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân.
Nhìn chung, ông mô tả sự tha hóa của con người trên toàn diện xã hội, dưới chiều sâu, qua nhiều
tầng lớp, nhiề
u hạng người, mỗi người có cách tha hóa khác nhau trước thế lực của đồng tiền và sự
tham nhũng. Ông là một nhà văn, một nhà văn đích thực, viết về sự tha hóa của con người. Tác
phẩm của ông là nguồn cảm hứng về xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, những năm 1930 –
1940, với tất cả những tệ đoan của xã hội đương thời, nhưng tác giả không quy k
ết hoàn toàn cho
chính phủ bảo hộ hay vua An nam, mà ông đào sâu hơn vào các hành động của cá nhân con người,
để xác định rõ trách nhiệm mỗi cá nhân trước bổn phận và đạo đức sống của chính mình. Trong
những truyện đầu tay như Một cái chết (1931), Bà lão lòa (1931), ông đã nêu đích danh thủ phạm
của những cái chết bi thương, đói khát. Đó là sự độc ác không cưu mang nhau giữa người với
người.
Vũ Trọng Phụng khác nh
ững nhà văn cùng thời, tác phẩm của ông không bị giới hạn trong
luận đề chôn xã hội cũ như phần lớn các nhà văn nhóm Tự Lực văn đoàn và ông cũng không trực
tiếp tố cáo xã hội thực dân như các ngòi bút hiện thực phê phán. Vì thế, ta có thể nói Vũ Trọng
Phụng là nhà văn tả chân nhất của hai chữ tả chân. Tức là ông chỉ tìm kiếm sự thật, sự thật về con
ngườ
i mà thôi, nên tác phẩm của ông luôn đạt đến sự phổ quát cao, trong đó những nhân vật của Vũ
Trọng Phụng, ta có thể tìm thấy trong bất cứ xã hội nào mà tham nhũng và tiền bạc luôn làm chủ,
xưa cũng như nay, Đông cũng như Tây. Vũ Trọng Phụng miêu tả con người của mọi thời đại dưới

khía cạnh thực nhất. Đó là sự đánh mất, sự thay lòng đổi dạ của con người trong một môi trường xã
hội mà đồng tiền có thể chi phối tất cả.
Văn của Vũ Trọng Phụng viết về sự tha hóa của con người, trong khi các nhà văn khác lại đề
cập đến con người là nạn nhân của xã hội, của chế độ, như chị Dậu trong “Tắt đèn
- Ngô Tất Tố” là
nạn nhân của sưu cao thuế nặng, của quan lại dâm ô, Loan trong “Đoạn tuyệt- Nhất Linh” là nạn
nhân của chế độ mẹ chồng nàng dâu, và Bính trong “Bỉ vỏ – Nguyên Hồng” là nạn nhân của sự phản
bội của người tình, sự tàn ác của cha mẹ, sự đọa đày của xã hội đương thời…
Tính người trong tiểu thuyết “Giông tố” đượ
c phơi bày một cách phủ phàng, không thương
tiếc: Từ cô Mịch con gái ông đồ, hiền lành, ngây thơ, quê mùa, đã hứa hôn với Long – một thanh
niên đứng đắn. Mịch ban đầu là nạn nhân, bị hãm hiếp, được dân làng thương xót, rồi Mịch có
mang, bị mọi người đàm tiếu, khinh bỉ. Nhưng khi trở thành vợ bé của Nghị Hách, một bước lên
“bà lớn”, Mịch cảnh vẻ, quát tháo con ở, ngoại tình với Long, dâm đãng như b
ất cứ người đàn bà có
tiền, có thế lực nào. Ông bà đồ Uẩn- cha Mịch, ngày trước thanh bần trong sạch, tôn trọng đạo đức
thánh hiền, nay vểnh vao trong chiếc xe hơi của Nghị Hách, dạo phố Hà Nội như những kẻ giàu mới
phất, mặt mũi phởn phơ, không kém gì hạng người mà ngày trước ông bà từng khinh bỉ. Chính bản
thân Mịch cũng thù ghét cha mẹ ở thái độ đổi trắng thay đen, đ
ã bán khoáng mình với giá rẻ cho
Nghị Hách để hưởng giàu sang.
Trong khi đó, Tú Anh - con trưởng của Nghị Hách, tưởng là một nhân vật tốt, muốn cứu vớt
thanh danh gia đình Mịch, đã bắt buộc bố phải cưới Mịch làm vợ lẽ. Nhưng để thực hiện chương
trình phúc thiện, Tú Anh đã dùng thủ đoạn đen tối, lừa dối hai người tình Mịch và Long để họ hiểu
lầm nhau.
Trong “
Giông tố”, đầu óc rửa thù trùm lên toàn thể các nhân vật. Gia đình Nghị Hách là cuộc
ân oán trên hai thế lực với những oan nghiệt do chính Nghị Hách gây ra. Dùng tất cả những thủ
đoạn đê hèn để làm giàu và tiến thân, Nghị Hách là một trường hợp đặc biệt của tội ác như hiếp
dâm, giết người, không hề ngần ngại, miễn sao đạt được hai mục đích: thỏa mãn tính dâm dục,
thành công trong địa hạt tiến thân, chính đứ
a con trai của Nghị Hách đã xét đoán về cha như “Cái
thằng cha ấy đẻ ra moa, chính là vì một phút điên rồ của xác thịt”.
Sự tha hóa bao trùm lên các nhân vật trong “Giông tố”, từ trong gia đình ra đến xã hội, nó
không chỉ có trong gia đình thối nát của Nghị Hách, mà trong cả gia đình Mị – đối cảnh của Nghị
Hách cũng không thoát khỏi. Bà đồ Uẩn trong sự giàu sang, hãnh diện vì trả thù được bọn dân làng
từng khinh bỉ, riếc móc con gái bà. Mị
ch sau khi bị nhục, nghĩ mình không còn xứng đáng với
người tình, đã từng chọn cái chết để giữ thanh danh và trong sạch đối với người yêu. Giờ thành
người bất cần, trong Mịch chỉ còn lại sự căm hờn cho nhân tình thế thái.

Từ đó cho thấy “Giông tố” là thảm kịch về sự thấp hèn, bất tín của con người trên mọi lĩnh
vực, không ai có thể tin được ai, không ai có thể nhờ cậy được ai. Từ trong ra ngoài, từ anh em đến
cha mẹ, từ vợ đến chồng, từ cha đến con, tất cả đều sống trong lừa dối, một vòng loạn luân khép
kín: Tội ác và lừa bịp gieo rắc khắp nơi. Sự tha hóa đó đã
được Vũ Trọng Phụng phanh phui qua
những “Thú tính” nơi con người, kể cả những người được coi là hiền lành, chân thật. Ngoài ra, Vũ
Trọng Phụng đã tả chân cái xã hội hai mặt với những con người hai mặt, với lối văn đối thoại và độc
thoại nội tâm của nhân vật như một phương pháp thám hiểm tiềm thức của họ. Trong khi những tác
giả hiện thực cùng thờ
i chỉ mới phân chia xã hội thành những lớp tốt xấu, đề cao cái tốt, hạ bệ cái
xấu.
Quá trình tha hóa - quá trình đánh mất mình ở mỗi người có sự khác nhau. Nghiêm khắc mà
nói, mọi người đang sống không được như họ mong muốn. Ở đây không đề cập đến những tội lỗi đã
thành danh mục quản lý của pháp luật, mà chỉ nói tới những thói xấu nho nhỏ, những thói xấu vẫn
bị coi bỏ qua như xoay xoay vụ lợi, làm dỡ báo hay, qua loa vô trách nhiệm, khéo léo tô vẽ mình
trước cấp trên, hùa theo số đông, nói cho đám đông vừa lòng chứ không dám nói sự thật… Có thể
nói không nhiều thì ít, hằng ngày những thói xấu đó không ngừng phát triển. Nếu so với con người
lí tưởng mà ta mong muốn noi theo, khi trưởng thành thì thật ra ta đã xa dần, thẩm chí có những
phẩm chất tốt mà ta vốn có từ nhỏ và cứ tưởng đã giữ được mãi, bây gi
ờ cũng đã đánh mất. Trong
đoạn văn miêu tả tâm trạng của Chí Phèo sau khi tỉnh, Nam Cao viết “Buồn thay cho đời! Có lý nào
như thế được? Hắn đã già rồi hay sao… Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa
soạn. Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời…” {18; 55}, tác giả trăn trở, xót xa cho nhân vật đã đánh
mất cả tuổi trẻ, rồi b
ất chợt nhận ra khi đã quá trễ. Con người cũng thường tìm cách ngụy biện cho
sự tha hóa của bản thân mình. Quá trình tha hóa có thể xảy ra ở tất cả mọi người, mọi lúc. Vấn đề là
nếu quá trình này không được kiểm soát, xảy ra quá nhiều và lâu dài, con người không có ý thức
hay mất ý thức kiểm soát với nó thì sẽ dẫn tới những hậu quả nặng nề, đó là khi đánh mất mình lúc
nào không biết. Vì thế mà cổ nhân đ
ã dạy “Chiến thắng vĩ đại nhất là chiến thắng bản thân mình”.
Nên kiểm soát cuộc sống và hành động của bản thân là cảnh giác với sự tha hóa. Cũng như hiểu
người, hiểu chính mình để có những biện pháp hoặc suy nghĩ tích cực nhất để mức độ tha hóa của
mình thấp nhất. Mặt khác, ta nghĩ rằng nếu đã có khái niệm tha hóa và con người dễ hình thành thói
quen tha hóa thì chắc chắn sẽ có khái ni
ệm ngược lại và cũng có thể trở thành những thói quen giúp
cho lối sống mình tốt hơn, mọi vấn đề đều có hai mặt của nó.
1.2. Vấn đề tha hóa trong sáng tác của Nam Cao:
1.2.1. Quan niệm của Nam Cao về tha hóa:
Vấn đề con người là trọng tâm sáng tác của các nhà văn, cũng là vấn đề nghiên cứu của các nhà
khoa học nhất là các nhà triết học. Họ trăn trở trong những câu hỏi: “Con người từ đ
âu ra? Ý nghĩa

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét