Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM


2
trở xuống và đa ngành; có chức năng GD nghề nghiệp, GD thường xuyên, và
đào tạo liên thông.

ĐTLT của trường CĐCĐ có hai mô thức: (1) ĐTLT trong
phạm vi trường CĐCĐ (hay còn gọi là nội bộ); và (2) ĐT chuyển tiếp. Cả hai
mô thức trên đây đều có yêu cầu là CTĐT phải đạt chuẩn (về tính khoa học,
tính sư phạm, tính vừa sức, gắn với mục tiêu cấp học) được kiểm định.
Luận điểm 2: ĐTLT theo hai mô thức trong luận điểm 1 sẽ hoàn thiện mô
hình trường CĐCĐ Việt Nam hiện nay. Cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ ra rằng
trong quản lý ĐTLT, ngoài việc quản lý xây dựng CTĐT và CTĐTLT, thì
quản lý công tác tuyển sinh, liên kết ĐT và đặc biệt là tính chuyên nghiệp của
cán bộ phụ trách ĐTLT là những vấn đề chính. Các giải pháp đề xuất sẽ quản
lý tốt việc ĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam.
Luận điểm 3: Luận án khuyến nghị Chính phủ rằng song song với việc
xây dựng ĐH có đẳng cấp quốc tế, hãy tập trung xây dựng trường CĐCĐ,
hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ hiện nay với 2 mô thức ĐTLT trên; không
nên vội vã xây dựng trường ĐH ở những nơi chưa đủ điều kiện, vì đã có
trường CĐCĐ, trường đó không những tạo điều kiện cho SV học hai năm đầu
ĐH gần nhà mà còn là mô hình trung gian thích hợp nhất để chuyển thành ĐH
4-năm định hướng ứng dụng- nghề nghiệp khi có điều kiện trong tương lai.
6. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
6.1. Cở sở phương pháp luận
- Xây dựng GDĐH đại chúng tiến lên GDĐH phổ cập là mong muốn
củ
a các quốc gia. Việt Nam không là ngoại lệ, nhất là đang giải quyết bài toán quy
mô và chất lượng ĐT nguồn nhân lực trong hội nhập.
- ĐTLT là xu thế của nền GD hướng đến sự dân chủ trong đào tạo.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp sau: Nghiên cứu tài
liệu; Tổng kết kinh nghiệm; Chuyên gia; Thống kê toán học; Điều tra xã hội
học và Thực nghiệ
m.
7. Những đóng góp mới của luận án
7.1. Về mặt lý luận: Góp phần phát triển cơ sở lý luận của ĐTLT;
Khẳng định rằng trường CĐCĐ là một cơ sở ĐT có thể triển khai tốt chủ
trương ĐTLT và chính ĐTLT sẽ tăng sự hấp dẫn và hiệu quả của trường

3
CĐCĐ; Hai mô thức ĐTLT của trường CĐCĐ là ĐTLT trong nội bộ và ĐT
chuyển tiếp; Cách thức thực hiện CTĐT liên thông và tuyển sinh, liên kết ĐT
hai gai đoạn; ĐT theo hình thức tích luỹ tín chỉ tạo thuận lợi cho ĐTLT;
7.2. Về mặt thực tiễn: Giải pháp quản lý ĐTLT của trường CĐCĐ ở Việt
Nam có thể áp dụng cho mọi hình thức quản lý ĐTLT sau bậc trung học nói chung.
CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN
THÔNG CỦA TRƯỜNG CĐCĐ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
1.1. Tổng quan về ĐTLT và tình hình nghiên cứu đề tài

1.1.1. Ngoài nước: Trên thế giới, việc LT giữa các cơ sở đào tạo bậc ĐH
được ghi nhận ở nhiều quốc gia phát triển.Lịch sử của ĐTLT ở ĐH thường
được gắn liền William R. Harper (Viện trưởng ĐH Chicago). Ngay từ năm
1896, ông đưa ra ý tưởng ĐTLT để hình thành cơ sở ĐT mà về sau gọi là
trường CĐCĐ (Community College).
Trường CĐCĐ đã phát triển ở nhiều nước. Hiện nay ở Mỹ và các nước
đó, quản lý ĐTLT của trường CĐCĐ đã trở thành vần đề ràng buộc khách
quan qua những quy định hay thể chế từ hệ thống.
1.1.2. Trong nước: Trước năm 1975 hầu hết các trường ĐH ở miền Bắc theo
mô hình trường ĐH chuyên ngành, ĐT theo yêu cầu của ngành.Việc LT diễn ra
thường dưới hình thức tổ chức các lớp chuyên tu, hoàn chỉnh. Ở miền Nam, ngoài
các viện ĐH đa ngành, còn có một hệ thống Viện ĐHCĐ được thành lập trước
1975. Sự hình thành các Viện ĐHCĐ ở miền Nam được xem là bước đầu xây dựng
việc LT giữa một cơ sở đào tạo ĐH 2- năm với một cơ sở ĐH lớn.
Thực hiện đường lối đổi mới, nhất là khi thực thi CTGD hai giai đoạn với
việc thành lập hai ĐH quốc gia, trong đó có trường ĐH Đại cương, SV hoàn tất
chương trình GD đại cương sẽ được chuyển tiếp lên ĐH chuyên ngành.

N
N
ă
ă
m
m


2
2
0
0
0
0
0
0
,
,


s
s
á
á
u
u


t
t
r
r
ư
ư


n
n
g
g


C
C
Đ
Đ
C
C
Đ
Đ


đ
đ


u
u


t
t
i
i
ê
ê
n
n


r
r
a
a


đ
đ


i
i
.
.


Đ
Đ
ế
ế
n
n


c
c
u
u


i
i


n
n
ă
ă
m
m


2
2
0
0
0
0
7
7
,
,


đ
đ
ã
ã


c
c
ó
ó


1
1
5
5


t
t
r
r
ư
ư


n
n
g
g


C
C
Đ
Đ
C
C
Đ
Đ


đ
đ
ư
ư


c
c


t
t
h
h
à
à
n
n
h
h


l
l


p
p
.
.

Tuy nhiên mãi cho đến nay, ĐTLT là hoạt
động đặc thù và phổ biến nhất của trường CĐCĐ trên thế giới thì lại chưa
được áp dụng hiệu quả ở Việt Nam.
1.2. Một số khái niệm và quan điểm cơ bản về đề tài
1.2.1. Quản lý và quản lý đào tạo
1.2.1.1. Quản lý: Trong tiếng Anh “Management- Quản lý”, có
nguồn gốc Latin là manum agere = “điều khiển bằng tay”. Bốn chức năng cơ
bản của quản lý là: Hoạch định, Tổ chức, Lãnh đạo, Kiểm tra.

4
1.2.1.2. Đào tạo: “ĐT là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức
nhằm hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ,…để
hình thành và hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể
vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”.
1.2.1.3. Quản lý đào tạo: có thể được hiểu là “sự tác động có ý thức
nhằm điều khiển, hướng dẫn quá trình giáo dục, những họat động của cán bộ,
giáo viên và học sinh, sinh viên, huy động tối đa các nguồn lực khác nhau để
đạt tới mục đích của cơ sở đào tạo và phù hợp với quy luật khách quan”. Đó
còn là sự tác động có hướng đích của 4 chức năng quản lý vào các đối tượng,
công tác quản lý cụ thể của hoạt động ĐT.
1.2.2. Trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam
1.2.2.1. Giáo dục ĐH và cơ sở giáo dục ĐH: Ở Việt Nam, theo Luật
GD, GDĐH bao gồm: (a) ĐT trình độ CĐ (2-3 năm); và (b) ĐT trình độ ĐH.
1.2.2.2. GD nghề nghiệp và cơ sở GD nghề nghiệp: Luật GD cũng quy định
GD nghề nghiệp bao gồm (a) TC chuyên nghiệp; và (b) Dạy nghề từ sơ cấp đến CĐ.
1.2.2.3. Cộng đồng và trường CĐCĐ
a) Cộng đồng: “là một tổ hợp xã hội mà các phần tử sinh sống trong
một địa phương riêng biệt, có chung một tài sản văn hóa và lịch sử, cùng
những quyền lợi giống nhau”.
b)

Nhà trường cộng đồng: một thiết chế GD, gắn với cộng đồng, của cộng
đồng, vì cộng đồng. Chúng được thực hiện mạnh mẽ hơn một thế kỷ trước. Ở các
nước Đông Nam Á, trường cộng đồng được đề cập từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX
c) Trường CĐCĐ: Trường CĐCĐ là một hiện tượng xã hội đặc thù,
phát minh độc nhất và thành công khá vẻ vang của nền GDĐH ở Hoa Kỳ.
Chúng đã có lịch sử trên 100 năm.
- Trường CĐCĐ của Hoa Kỳ:Xuất phát từ ý tưởng dân chủ và tạo điều
kiện cho mọi người được đi học ĐH, học gần nhà, gần nơi lao động của di dân, của
cộng đồng đa sắc tộc. Chúng có CTGD từ dưới 1 năm cho đến tối đa 2 năm. ĐT LT,
đặc biệt ĐT chuyển tiếp là hoạt động đặc thù.
- Trường CĐCĐ ở các nước: Sự thành công của trường CĐCĐ ở Hoa
Kỳ khiến nhiều quốc gia học tập.
- Trường CĐCĐ ở Việt Nam: Mô hình trường CĐCĐ được du nhập
vào Việt Nam từ năm 1971 với 4 Viện ĐHCĐ ở miền Nam. Sau khi đất nước
thống nhất các trường này giải thể và đến năm 2000 các trường CĐCĐ bắt
đầu hình thành lại theo mô hình mới theo điều kiện Việt Nam: “là một cơ sở

5
giáo dục công lập, đa cấp, đa ngành thuộc hệ thống giáo dục quốc dân do địa
phương đầu tư xây dựng, chịu trách nhiệm tổ chức và điều hành các hoạt
động đào tạo và nghiên cứu khoa học,…., nhằm phục vụ nhu cầu về nhân lực
của địa phương ở trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn”.
1.2.3. Vấn đề liên thông và đào tạo liên thông: Trong hệ thống GD,
xét tương quan của trường CĐCĐ với các cơ sở ĐT khác thì ĐTLT của
trường CĐCĐ có đầu vào và đầu ra như sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Mô hình ĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam



Nghĩa là trường CĐCĐ có ĐTLT trong nội bộ và ĐT chuyển tiếp: nhận
từ trình độ TC và chuyển đi từ trình độ CĐ, Trong ĐT chuyển tiếp có ĐT
chuyển tiếp 2 giai đoạn. Xuyên suốt các mô thức này là liên thông CTGD.
1.2.3.3. Chương trình giáo dục- Đối tượng đặc biệt trong QLĐTLT
- Chương trình khung ĐT: Nhờ có chương trình khung một ngành
học mà phần chung của CTGD của chúng giữa các trường khá lớn. Do đó
ĐTLT thuận lợi.
- Học phần: Một CTGD gồm nhiều học phần: tự chọn và bắt buộc.
Trong CTGD bậc ĐH có các khối kiến thức và kỹ năng sau: (1) khối
kiến thức GDĐC; và (2) khối kiến thức GDCN. Có 3 mô hình cấu trúc CTGD
trình độ ĐH theo hai khối kiến thức này dưới đây:
Hình 1.1. Mô hình tổ chức giảng dạy GDĐC trong CTGDĐH
Mô hình 1:
GDĐC GDCN
Mô hình 2:
GDĐC
GDCN
Mô hình 3:
GDĐC
GDCN
Trường
TRUNG
CẤP
Trường CĐCĐ
Trường
ĐẠI HỌC

6
Mô hình 1 cho phép chương trình GDĐC của một trường ĐH có thể
mang đi dạy ở một cơ sở ĐT ở xa trường ĐH.
- Đào tạo theo hình thức tích luỹ tín chỉ và liên thông: QLĐT theo
hình thức tích luỹ tín chỉ đem các khối kiến thức GDĐC, thậm chí kiến thức
cơ sở ngành của những ngành gần nhau gộp chung nhau, chia chúng thành
các học phần GDĐC, chỉ đến khi không thể đưa vào chung được mới tách ra
riêng thành các học phần chuyên nghiệp.Việc làm như vậy, về kỹ thuật giúp
dễ dàng hình thành các lớp học phần (để đủ sĩ số người ghi danh học, cho lớp
học phần tồn tại). Mặt khác, nhờ đó SV cùng khối ngành có thể nhận bằng
ĐH thứ hai mà không cần học lại khối kiến thức GDĐC.
Đặc trưng của học chế tín chỉ là có nhiều học phần tự chọn. Học phần
tự chọn của văn bằng này, nhiều khi là học phần bắt buộc của văn bằng kia.
Kết quả là SV có thể học thêm một thời gian ngắn nữa để được bằng cấp kia.
Rõ ràng ĐT theo hình thức tín chỉ chính là ĐTLT trong nội bộ một nhà
trường (điều ngược lại không đúng). Nói cách khác, trong nền GD không hạn
chế quyền ghi danh học thì ĐT theo hình thức tích luỹ tín chỉ là điều kiện cần
của ĐTLT. Điều này cũng đúng cho việc ĐT tự chuyển tiếp nếu hai trường
thực hiện được sự liên kết cùng thực hiện.
Trong điều kiện Việt Nam do còn tuyển sinh theo trình độ đầu ra, nên
sự LT tự nhiên như trên đây chưa thực hiện được.Tuy vậy ĐT theo hình thức
tích luỹ tín chỉ rất thuận lợi cho ĐTLT.
1.2.3.4. Tiếp cận toán học của ĐTLT
CTGD một ngành nghề nào đó là tập hợp các học phần của nó. ĐTLT
của CTGD X sang CTGD Y là bảo lưu các học phần đạt yêu cầu (là X∩Y) và
tổ chức học tiếp các học phần còn lại (là Y\X).
Hình 1.2. Liên thông hai CTGD







X∩Y là tập hợp các học phần được bảo lưu. Khi liên thông từ X sang Y thì
học thêm các học phần của Y\X; khi liên thông từ Y sang X thì học thêm các
h
ọc phần của X\Y.
X∩Y

X
Y
Y \X
X\Y
X
Y
Y\X

7
Có thể mô tả cụ thể hơn sơ đồ 1.1. như dưới đây:
Sơ đồ 1.2. Không gian ĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam
GD
ĐC
(hai
giai
đoạn)
CĐ1 CĐ2
Trường

khác
TRƯỜNG
TC
KHÁC
TC1 TC2
Bồidưỡng
ngắn han
TRƯỜNG
ĐẠI HỌC
TRƯỜNG CĐCĐ
(*)
(*)
(*)
Ghichú: các mũitêncódấu(*) khôngthuộcluậnánnày

1.3. QLĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện VN- Nội dung, mục tiêu
và ý nghĩa
1.3.1. Nội dung QLĐTLT của trường CĐCĐ trong điều kiện VN
Chủ yếu là quản lý việc xây dựng CTĐT và CTĐTLT; Quản lý việc
tuyển sinh và liên kết ĐT; Quản lý hoạt động dạy- học trong ĐTLT; Quản lý
việc kiểm tra, đánh giá và cấp bằng.
1.3.2. Mục tiêu và ý nghĩa
1.3.2.1. Phân luồng sau THCS và phát triển nguồn nhân lực của
địa phương: Nếu có ĐTLT, việc phân luồng sau THCS và THPT sẽ thu hút
đầu vào các bậc học TC và CĐ. Nhờ có ĐTLT, nhất là ĐT chuyển tiếp và do
đặt tại địa phương, trường CĐCĐ dễ dàng trở thành điểm đến của nhiều HS
có học lực trung bình nhưng có óc cầu tiến.
Mặt khác, trường CĐCĐ cũng dễ dàng nhận người lao động vào học
với hình thức VLVH, góp phân nâng cao tỷ lệ lao động qua ĐT và cải thiện
thu nhập cho họ. Đó chính là quá trình “từng bước trí thức hóa giai cấp công
nhân” của Đảng.
1.3.2.2. Xây dựng xã hội học tập ở cộng đồng: Là cơ sở ĐT đa cấp, đa
ngành, đa lĩnh vực, có các chương trình ngắn hạn và dài hạn, linh động, mềm
dẻo, trường CĐCĐ rất thuận tiện cho việc tổ chức ĐTLT. Mặt khác, là cơ sở

8
ĐT mở gắn với địa phương nên ĐTLT làm cho trường CĐCĐ trở thành một
địa chỉ hấp dẫn người học.
1.3.2.3. Đào tạo có chất lượng với chi phí thấp:Trường CĐCĐ có thể
có mặt mọi nơi. Do đó người nghèo học được. Mặt khác 2 năm đầu học ở
trường CĐCĐ, 2 năm sau LT lên ĐH 4- năm nên SV ít tốn kém. Đó là chưa
kể, hình thức VLVH, người lao động vừa học, vừa còn thu nhập.
Mặt khác, trong một địa phương mà các cơ sở GD nghề nghiệp phân tán,
trang bị yếu kém, ĐT chồng chéo và thiếu hợp tác. Nếu sắp xếp lại thành
trường CĐCĐ và ĐTLT, nhất định sẽ tăng hiệu quả sử dụng thiết bị và tiết
kiệm biên chế. Liên kết ĐT chuyển tiếp tạo ra cơ chế giám sát.
1.3.2.4. Hoàn thiện mô hình trường CĐCĐ
Mô hình trường CĐCĐ ở Việt Nam hoàn thiện cần có ba chức năng
chính: (1) GD thường xuyên, mở; (2) GD nghề nghiệp và; (3) liên thông. Có
hai mô thức ĐTLT của trường CĐCĐ: (1) ĐTLT trong nội bộ, và; (2) ĐT
chuyển tiếp (từ trường CĐCĐ đến trường ĐH và từ trường TC đến trường
CĐCĐ), trong đó có ĐT chuyển tiếp hai giai đoạn.

CHƯƠNG 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ ĐTLT CỦA TRƯỜNG CĐCĐ TRONG
ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM - KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
2.1. Khái quát về cơ sở thực tiễn QLĐTLT của trường CĐCĐ
Trong các năm 2004-2007, Bộ GD&ĐT cho thí điểm ĐTLT theo “Quy
định tạm thời về đào tạo liên thông Dạy nghề, Trung học Chuyên nghiệp, Cao
đẳng và Đại học” (gọi tắt là Quy định 49). Theo đó có 3 trường CĐCĐ được
thực hiện thí điểm liên thông từ trình độ TC lên CĐ.
Mặt khác, trước 1975 ở miền Nam có 4 trường CĐCĐ vừa có chức năng
ĐT nghề (ngắn hạn 2 năm) vừa ĐT chuyển tiếp (tuy chưa kịp thực hiện), đấy
là mô hình ĐTLT cần tham khảo.
Đặc biệt, khi Trường ĐH Đại cương còn là thành viên ĐH quốc gia,
trong các năm 1996,1997 trường ĐH Đại cương của ĐH quốc gia Tp. HCM
có tổ chức tại Trung tâm ĐT tại chức Tiền Giang, Đồng Tháp và Bình Thuận
hai khóa (1996-1997) và (1997-1998) các lớp “ĐHCĐ”, thí sinh trúng tuyển

9
các lớp này sau hai năm học chương trình GD đại cương (giai đoạn I) sẽ thi
chuyển tiếp giai đoạn II về các trường ĐH thành viên của ĐH quốc gia Tp.
HCM. Đó là những cơ sở thực tiễn ban đầu của ĐT chuyển tiếp 2 giai đoạn ở
Việt Nam.
Như vậy, có 3 mô hình ĐTLT cần quan tâm khảo sát thực trạng theo
chiều tăng của thời gian: (1) ĐTLT của các trường CĐCĐ trước năm 1975
(gọi đúng tên lúc đó là Viện ĐHCĐ); (2) ĐT hai giai đoạn với vai trò của
trường ĐH Đại cương; và (3) ĐTLT thí điểm của 3 trường CĐCĐ theo Quy
định 49.
2.2. Phân tích cơ sở thực tiễn QLĐTLT của trường CĐCĐ
2.2.1. ĐTLT của trường CĐCĐ trước năm 1975: Về phương diện QL
ĐTLT, nghiên cứu cho thấy:
a) Cơ cấu bộ máy Hội đồng Quản trị của Viện ĐHCĐ đã “mốc xích” hai
Viện liên kết với nhau, trong đó Viện Trưởng ĐH Quốc gia là chủ tịch, nên lãnh
đạo hoạt động của Hội đồng Quản trị của Viện ĐHCĐ. Điều này cho thấy cơ cấu
tổ chức đã “ đủ mạnh”, bảo đảm việc ĐT chuyển tiếp thuận lợi;
b) Văn bằng ĐH 4- năm chia làm hai cấp: Hai năm đầu- chương trình ĐH
Căn bản; và hai năm cuối – chương trình sơ cấp ĐH Chuyên khoa. Viện ĐHCĐ
“mang” chương trình ĐH Căn bản từ Viện ĐH Quốc gia về dạy tại Viện ĐHCĐ.
Mặt khác có sự “giám sát” của Viện ĐH Quốc gia (thông qua Viện trưởng ĐH
Quốc gia). Do đó khi tốt nghiệp chương trình ĐH Căn bản:
- SV được cấp bằng ĐH Căn bản có giá trị học lực “ngang bằng” với SV
của Viện ĐH Quốc gia;
- Việc CT lên Viện ĐH Quốc gia liên kết học tiếp chương trình ĐH
Chuyên khoa không có gì trục trặc về phương diện CTGD;
c) Viện ĐHCĐ ĐT theo hệ thống tín chỉ, chứng tỏ nếu mở rộng ĐT các
ngành nghề với các CTGD khác nhau và nếu không có ràng buộc về quy chế ĐT,
thì có sự LT trong nội bộ trường. Còn chuyển tiếp các CTĐT chuyên nghiệp với
các ĐH thành viên của Viện ĐH quốc gia thì chưa thấy đề cập (do quá mới), mặc
dù cơ cấu bộ máy vẫn cho phép thực hiện điều đó.
2.2.2. ĐTLT trong ĐT hai giai đoạn với vai trò của trường ĐH Đại
cương: Về phương diện QL ĐTLT, nghiên cứu cho thấy:
a) Bảy CTGD đại cương được thu xếp dạy trong giai đoạn đầu (của
Trường ĐHĐC của ĐH Quốc gia hoặc tại khoa Khoa học Cơ bản các trường)

10
đã đạo điều kiện thuận lợi cho việc ĐT theo hình thức tích luỹ tín chỉ và đặc
biệt chuyển tiếp lên CTGD chuyên nghiệp, chuyển tiếp SV CTGD đại cương
ở các cơ sở ĐT khác (đặc biệt là trường CĐCĐ trong tương lai) về các ĐH
lớn ở đô thị lớn. Nói cách khác, rất thuận lợi cho việc ĐTLT;
b) “ Sáng kiến" của ĐH Quốc gia Tp.HCM mở các lớp “ĐHCĐ” tại các
tỉnh đã “hiện thực hóa” cơ cở lý thuyết mà các Viện ĐHCĐ trước 1975 không
thực hiện được. Có điều nội dung bằng ĐH Căn bản 2 năm có khác với
CTGD Đại cương. Từ “sáng kiến” đó có thể rút ra một kết luận: Trong điều
kiện Việt Nam, các ĐH lớn hoàn toàn có thể đưa CTGD giai đoạn 1 về đặt ở
địa phương, đặc biệt là ở trường CĐCĐ, xong CT SV hoàn tất CTGD giai
đoạn 1 về ĐH lớn học giai đoạn 2 hoàn tất bằng đại học.
2.2.3. ĐTLT thí điểm của 3 trường CĐCĐ
2.2.3.1. Tình hình triển khai
Tính đến tháng 3 năm 2007, sau ba năm kể từ khi bắt đầu (2004), đã có 61
trường CĐ- ĐH, với gần 22.000 chỉ tiêu được Bộ GD&ĐT cho thí điểm ĐTLT,
trong đó có 3 trường CĐCĐ: Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long.
2.2.3.2. ĐTLT do trường CĐCĐ cấp bằng tốt nghiệp : Về phương
diện QL ĐTLT, nghiên cứu cho thấy:
a) ĐTLT trong nội bộ gần như bế tắc với quy chế ĐT theo niên chế và với
quy chế tuyển sinh hiện nay. Chưa thực hiện ĐT chuyển tiếp hai giai đoạn.
b) Trường CĐCĐ chỉ mới nhận ĐT chuyển tiếp người học tốt nghiệp TC
lên CĐ. Công việc QLĐTLT chủ yếu là QL việc xây dựng CTĐTLT và QL công
tác tuyển sinh. Đào tạo theo niên chế nên thời gian ôn tập là cần thiết để giúp tất
cả ứng viên có mặt bằng kiến thức tương đối trước khi thi tuyển đầu vào.
c) Nguồn ứng viên ĐT chuyển tiếp từ trình độ TC lên CĐ không nhiều
(khoảng 10% trong số có trình độ TC). Người học tự lực kinh phí là chủ yếu và
do đó tổ chức học ngoài giờ là phù hợp.
d) Về độ tuổi: Chênh lệch khá lớn giữa SV trong một lớp.
e) So với SV chính quy thông thường, SV học liên thông có thế mạnh
sau: (1) động cơ học tập khá rõ (học để mở rộng kiến thức, cải thiện tay nghề
và tăng thu nhập); (2) SV hầu hết đã đi làm việc, có nhiều kinh nghiệm, khâu
thực hành tại trường tỏ ra khá thành thạo.Tuy vậy, học lý thuyết có hệ thống
thường gặp khó khăn.
2.2.3.3. ĐT chuyển tiếp từ trường CĐCĐ đến trường ĐH: Về
phương diện QL ĐTLT, nghiên cứu cho thấy:

11
a) ĐT chuyển tiếp hai giai đoạn chưa thực hiện. Trường CĐCĐ chỉ có
ĐT chuyển tiếp đi đối với người đã tốt nghiệp trình độ TC, CĐ và người học tự
lực là chính; trường CĐCĐ và trường ĐH chưa liên kết ĐT.
b) Thị trường lao động đang khan hiếm lao động qua ĐT, nên hầu hết
SV TC, CĐ ra trường đã có việc làm. ĐTLT do trường CĐCĐ cấp bằng hay CT
đến cơ sở khác cấp bằng thì hình thức học VLVH vẫn là chủ yếu, số lượng ít.
c) Chuyển tiếp SV từ trường CĐCĐ đến trường ĐH thì khó khăn đầu
tiên là CTGD, phần chung của nó giữa các trường CĐCĐ và trường ĐH rất bé.
2.2.4. Nhận xét chung về hình thức ĐTLT thí điểm của 3 trường CĐCĐ
- Trường CĐCĐ chỉ mới nhận ĐT chuyển tiếp người đã có bằng TC
chuyển đến học tiếp bằng CĐ; và cũng chỉ chuyến tiếp đi SV đã tốt nghiệp
TC, CĐ của trường CĐCĐ đến học tại các trường ĐH.
- Đào tạo liên thông trong nội bộ để có thêm bằng thứ hai trong thời
gian học ở trường CĐCĐ coi như bế tắc. Tương tự như vậy với ĐT chuyển
tiếp hai giai đoạn.
2.2.5. Nhận định khó khăn và thuận lợi về ĐTLT của trường CĐCĐ
hiện nay
2.2.5.1. Khó khăn và nguyên nhân
Khó khăn của trường CĐCĐ về ĐTLT rất lớn: LT trong nội bộ gần
như bế tắc, ĐT chuyển tiếp hai giai đoạn chưa thực hiện, chuyển tiếp SV đã
tốt nghiệp một bằng cấp trước đó thì những khó khăn chủ yếu là CTĐT và
tuyển sinh.
a) Nguyên nhân khách quan
- Trường CĐCĐ là một cơ sở ĐT còn trong thời gian thí điểm;
- Trong hệ thống GD, một thời gian dài tư tưởng xuyên suốt là LT các
CTĐT chưa được đề cao;
- Tính cạnh tranh để được chọn vào học ĐH ở Việt Nam còn rất cao,
công tác tuyển sinh còn nặng nề làm trường ĐH ít có nhu cầu nhận SV vào
học LT vào học;
- Học chế ĐT niên chế, phải điểm danh hàng tiết học; nhiều ràng buộc
khi SV muốn học song song hai CTGD;
- Kinh tế chậm phát triển, người lao động ít thấy áp lực phải nâng cao
tay nghề. Doanh nghiệp địa phương chưa có nhiêu nhu cầu cử công nhân đi học.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét