Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Việt Nam

5
+ Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trớc đặc biệt đợc
thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng đợc phép sử dụng
d nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.
+ Chiết khấu thơng phiếu: khách hàng chuyển nhợng quyền sở hữu thơng
phiếu cha đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của
thơng phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.
+ Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đó
để rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.
+ Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn đợc thực hiện thông
qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khi hết hạn
thuê bên thuê đợc chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó.
+ Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụng
bảo lãnh.
+ Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng
của dân c, có 2 loại: một là, tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng cho
vay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng. Hai là, tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc
ngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những ngời bán lẻ hàng hoá, tức là
hình thức tài trợ bán trả góp của NHTM.
- Nghiệp vụ đầu t: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liên
doanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu t vào chứng khoán là một hình
thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năng
thanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoản
cao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thu
nhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thờng xuyên.
NHTM còn đợc phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham gia
vào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ đợc đầu
t chứng khoán có giới hạn không đợc để hoạt động này lấn át hoạt động cho
vay.
Nghiệp vụ đầu t đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động
kinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đã
huy động.

THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
6
2.3/ Nghiệp vụ trung gian.
ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện các
nhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm:
- Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán không
bằng tiền mặt, nó thanh toán dới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm
chi, th tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán.
- Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo các
chứng khoán khác nhau nh séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứng
khoán có giá.
- Nghiệp vụ thơng mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng, hàng
hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán.
- Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng và
ngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hành
chứng khoán có giá trị nh cổ phiếu, kỳ phiếu đầu t có mục đích nhằm thu hút
vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nớc phát hành công trái thì thờng nhờ các
ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó và
đợc nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ ngời phát hành.
- Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng nh bảo quản
tài sản( đá quý, chứng khoán ), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản;
thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngân
hàng thực hiện các di chúc sau khi họ qua đời.
2.4/ Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ.
Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tơng hỗ lẫn nhau,
thúc đẩy nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác động
qua lại, cùng giúp cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phải
có vốn, vậy trớc tiên ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ là tiền
đề để phát triển nghiệp vụ có, nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điều kiện
cho nghiệp vụ có đợc mở rộng. Ngợc lại, nếu ngân hàng cho vay, kinh doanh
càng nhiều, càng thu đợc nhiều lãi thì càng bổ sung thêm cho nguồn vốn, tạo
điều kiện cho nghiệp vụ có đợc phát triển.
Giữa nghiệp vụ nợ - có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lại
lẫn nhau. Khách hàng vừa là ngời gửi tiền vừa là ngời vay đối với ngân hàng,
họ có quan hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và có
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
7
phát triển sẽ tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trung
gian cũng có tác dụng tích cực đối với nghiệp vụ nợ - có, khi thực hiện các
nghiệp vụ trung gian nh thu hộ, uỷ thác, thơng mại sẽ tạo điều kiện cho
ngân hàng tập trung đợc những khoản tiền mà nhờ đó bổ sung cho nghiệp vụ nợ
và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời vào nguồn vốn để
tiến hành cho vay.
Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng.
Nếu cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những ngời
gửi tiền ở ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốn
khả năng thanh toán làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngân hàng
sẽ giảm xuống. Ngợc lại nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơn nhng
thu lãi ít không bổ sung phát triển đợc nghiệp vụ nợ.
Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hàng là
hết sức quan trọng, do đó ngời làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoa
học và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả.
II/ Hoạt động tín dụng của NHTM.
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng,
nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sản
có của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngân
hàng. Chính vì vậy vấn đề về tín dụng rất đợc các ngân hàng quan tâm, trong
khuôn khổ đề tài này em xin đợc đi sâu vào hoạt động tín dụng của NHTM.
1/ Khái niệm tín dụng ngân hàng.
1.1/ Định nghĩa tín dụng.
Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một số
ngời tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bên
cạnh đó luôn có một số ngời tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tợng
này làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn đợc dịch
chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền
vay là lợi nhuận thu đợc do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng.
Nh vậy tín dụng là quan hệ vay mợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm
theo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bình
đẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
8
Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệ
tín dụng thô sơ nhất đợc phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ
tan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trờng, qua từng
thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tín dụng
mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặng lãi, tín
dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nớc và tín dụng tiêu dùng.
Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuy nhiên
trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trớc không hề mất
đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín
dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung
lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.
1.2/ Tín dụng ngân hàng.
Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng
vô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhu
cầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Với
công nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thức
tín dụng không thể thiếu ở cả trong nớc và quốc tế.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng còn
bên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mợn giữa ngân hàng với tất cả
các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là
quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà
là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là
ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng,
đó là quan hệ vay mợn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là
quan hệ chuyển nhợng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả 2
bên cùng có lợi.
1.3/ Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.
- Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiền
tệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tợng trong nền
kinh tế quốc dân.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
9
- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trong
xã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình nh tín
dụng nặng lãi hay tín dụng thơng mại.
- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tơng đối với
sự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trờng hợp
mà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhng sản xuất và lu thông hàng hoá
không tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lu thông
hàng hoá bị co hẹp nhng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phá
sản. Ngợc lại trong thời kỳ kinh tế hng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sản
xuất, hàng hoá lu chuyển tăng mạnh nhng tín dụng ngân hàng lại không đáp
ứng kịp. Đây là một hiện tợng rất bình thờng của nền kinh tế.
- Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số u điểm nổi bật so với các hình thức
khác là:
Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của
các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn
bằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dới nhiều hình thức và khối lợng lớn.
Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với
nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.
Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp
với mọi đối tợng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tợng vay.
2/ Phân loại tín dụng ngân hàng.
Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khác
nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên ngời ta thờng phân loại theo
một số tiêu thức sau:
- Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng đợc phân thành 3 loại sau:
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dới một năm, thờng
đợc sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về
vốn lu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu
dùng của cá nhân.
+ Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, đợc dùng để cho vay
vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng
và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
10
+ Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đợc sử dụng
để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô
lớn.
Thờng thì tín dụng trung và dài hạn đợc đầu t để hình thành vốn cố
định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.
- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại:
+ Tín dụng sản xuất và lu thông hàng hoá: là loại tín dụng đợc cung cấp
cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh.
+ Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng đợc cấp phát cho cá nhân để đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thờng đợc dùng để mua sắm nhà cửa,
xe cộ, các thiết bị gia đình Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hớng tăng lên.
- Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau:
+ Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra
đều có tài sản tơng đơng thế chấp, có các hình thức nh: cầm cố, thế chấp,
chiết khấu và bảo lãnh.
+ Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay
phát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thờng
đợc áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng với
ngân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đối
với ngân hàng nh trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinh
doanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ
Trong nền kinh tế thị trờng việc phân loại tín dụng ngân hàng theo các
tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tơng đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạng
thì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sự
vận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh,
đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.
3/ Lãi suất tín dụng ngân hàng.
3.1/ Khái niệm.
Trớc hết ta cần xem xét lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng là thu nhập mà
ngời cho vay nhận đợc ở ngời đi vay do việc sử dụng tiền vay của ngời này.
ở đây ngời đi vay sử dụng vốn vay đợc để sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận
đợc tạo ra trong quá trình này tất yếu đợc phân chia theo một tỷ lệ thoả đáng
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
11
giữa ngời cho vay và ngời đi vay tơng ứng với nguồn vốn bỏ vào sản xuất
kinh doanh. Phần lợi nhuận dành cho ngời cho vay này đợc gọi là lợi tức.
Thực chất lợi tức là giá cả của lợng hàng hoá (tức lợng tiền tệ ) cho vay.
Giá cả này lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn, nhng khác với các hàng
hoá thông thờng khá là giá cả của chúng phản ánh và xoay quanh giá trị của
chúng, còn giá cả của vốn lại hoàn toàn không phản ánh đợc giá trị của vốn, nó
còn phụ thuộc vào nhu cầu và sự thoả thuận của 2 bên. Chính vì vậy, lợi tức cha
phản ánh đợc hiệu quả của số vốn cho vay phát ra.
Nh vậy, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay ngời ta đã so
sánh lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng. Vì vậy ta có định
nghĩa khái quát về lãi suất tín dụng nh sau: Lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánh
giữa số lợi tức thu đợc với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định.
Lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó là cái giá của
quyền đợc sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà ngời sử dụng phải
trả cho ngời sở hữu nó.
3.2/ Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các hình thức tín dụng mà các
loại lãi suất tín dụng cũng đợc hình thành một cách đa dạng, đại bộ phận chúng
đều do ngân hàng trung ơng kiểm soát và khống chế. Các hình thức lãi suất
càng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng vì
chính lãi suất là chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng, do đó cần phải
phân biệt đợc các loại lãi suất tín dụng ngân hàng để thấy đợc hiệu quả của
chúng trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung.
Thông thờng hệ thống lãi suất trên thị trờng có các loại lãi suất sau:
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ơng công bố làm cơ sở cho các
NHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.
- Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong một
khung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ơng ấn định cho các NHTM hoặc do
NHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
- Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung ơng
dành cho các NHTM, trong trờng hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ
tái chiết khấu thơng phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
12
gốc của các NHTM, để từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho
vay khác trong khung lãi suất đợc phép.
- Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực:
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà ngời cho vay đợc hởng, không tính
đến sự biến động của giá trị tiền tệ, nó đợc xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc
vay, thể hiện trên quy ớc giấy tờ đợc thoả thuận trớc.
Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ,
nh lạm phát hoặc lên giá tiền tệ. Do đó ta có công thức tính lãi suất thực nh
sau: Lãi suất thực= lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát dự đoán.
Do vậy, lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhng lãi suất thực thì không
phải lúc nào cũng dơng, khi xảy ra lạm phát mà tỷ lệ lạm phát lại lớn hơn lãi
suất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ <0 điều này sẽ gây bất lợi cho ngời
cho vay và ngời đi vay lại có lợi hơn. Chính lãi suất thực ảnh hởng đến đầu t,
đến việc tái phân phối thu nhập giữa ngời cho vay và ngời đi vay, vì vậy ngân
hàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đa ra đợc chính sách lãi suất thực dơng.
4/ Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trờng.
Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng có những tác động nhất
định đến hoạt động kinh tế. Nhất là trong nền kinh tế thị trờng, nó có vai trò khá
quan trọng:
4.1/ Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lợng sản xuất xã hội phát triển.
Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điều
kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo đợc quá
trình sản xuất bình thờng và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp
dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh
nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên
hệ hữu cơ giữa sản xuất, lu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội.
Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăng
cờng, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trờng thế giới, do đó tín
dụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp cho
việc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nớc trên thế giới đợc nhanh
chóng, rút ngắn thời gian phát triển.
Nh vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực
lợng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nớc và quốc tế.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
13
4.2/ Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó
giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất.
Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoản
vốn lớn, tạo khả năng đầu t vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời các
doanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuất rút
ngắn thời gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy
quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất.
Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận đợc khối lợng
vốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới
thiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm cho
doanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnh
tranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnh
tranh, nh vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.
4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổn
định thị trờng tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân,
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu,
làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếu
vốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luân
chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong các
ngành.
Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy định
giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ đợc thực hiện, điều hoà lu thông
tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trờng tài
chính tiền tệ.
Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách
u tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ
vào việc đa ra các u đãi tín dụng do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh
nghiệp đầu t vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện u tiên của Chính phủ,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nớc.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
14
Chơng II: các yếu tố cơ bản ảnh hởng đến hoạt động tín
dụng của NHTM và biểu hiện thực tế ở Việt Nam.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hởng đến hoạt động tín dụng của NHTM, bao
gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, nh: Môi trờng kinh doanh, môi
trờng pháp luật, địa bàn hoạt động Tuy nhiên trong chơng này sẽ chỉ đề cập
về một số yếu tố chủ quan, bản thân ngân hàng kiểm soát đợc có ảnh hởng trực
tiếp đến hiệu quả và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng trong các
NHTM, và tình trạng của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam.
I/ Quy trình tín dụng.
Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản của ngân hàng. Nó mang lại
doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc cho
vay là một vấn đề không đơn giản, nó mang lại khá nhiều rủi ro, bất trắc, vì vậy
để đảm bảo cho hoạt động này có hiệu quả tích cực thì cần phải đảm bảo thực
hiện cho vay theo đúng quy trình thủ tục đã đợc quy định. Quy trình cho vay
đối với các đối tợng khác nhau cũng khác nhau. Và ở Việt Nam có quy định cụ
thể về quy trình cho vay đối với các tổ chức tín dụng nh sau:
1/ Hình thành khoản vay.
Đối với cá nhân thì hầu hết các khoản vay đợc bắt đầu bằng việc khách
hàng xin vay vốn, họ đến gặp nhân viên ngân hàng và ghi những thông tin cần
thiết vào đơn xin vay. Trong trờng hợp cho vay kinh doanh, các doanh nghiệp
thì thờng bắt đầu bằng việc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng và đại diện các hãng.
Đây chính là cơ hội đầu tiên để cán bộ ngân hàng tìm hiểu thông tin về doanh
nghiệp và thuyết phục họ về một khoản vay.
2/ Xử lý yêu cầu vay vốn.
Sau khi nhận đợc một yêu cầu vay vốn thì cán bộ ngân hàng cần xử lý
yêu cầu vay vốn này. Với một khách hàng cá nhân thì anh ta cần trả lời đầy đủ
các câu hỏi của cán bộ tín dụng, qua đó cán bộ có thể tìm hiểu về mục đích xin
vay, tính cách và điều kiện, khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách
hàng qua đó có thể chấp nhận hay từ chối khoản vay.
Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cần thiết
về doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tình hình
tài chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thu thập
thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệp mà
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét