5
Các tính chất của một hệ mật mã
•Nếu một hệ mật có thể sử dụng được trong thực tế thì nó
phải thoả mãn một số tính chất nhất định:
1. Các hàm mã hoá e
K
và các hàm giải mã d
K
phải có
khả năng tính toán được một cách hiệu quả.
2. Đối phương dựa trên xâu bản mã phải không có khả
năng xác định khoá k đã dùng hoặc không có khả năng xác
định được xâu bản rõ x.
6
Số học modulo m
•Giả sử a và b là các số nguyên và m là một số nguyên
dương. Khi đóta viết a ≡ b (mod m) nếu m chia hết cho
(b-a). Mệnh đề a ≡ b (mod m) được gọi là "a đồng dư với
b theo modulo m".
• Phân tích a và b theo m như sau:
¾a = q
1
m + r
1
và b = q
2
m + r
2
trong đó0 ≤ r
1
≤ m-1 và 0
≤ r
2
≤ m-1. (chú ý: r
1
và r
2
là không âm)
¾Dễ dàng thấy rằng a ≡ b (mod m) khi và chỉ khi r
1
= r
2
.
Ta sẽ dùng ký hiệu a mod m (không dùng các dấu
ngoặc). Như vậy: a ≡ b (mod m) khi và chỉ khi a mod m
= b mod m.
¾Nếu thay a bằng a mod m thì ta nói rằng a được rút gọn
theo modulo m.
7
Số học modulo m (tiếp)
• Nhận xét: Nhiều ngôn ngữ lập trình của máy tính xác định
a mod m là phần dư trong dải -m+1, ., m-1 có cùng dấu
với a.
•Vídụ -17 mod 7 sẽ là -3, tuy nhiên theo định nghĩa ở trên
thì -17 mod 7 = (-3)*7 +4 (4 là đối của -3 theo phép cộng:
4= 7+(-3)).
•Bây giờ ta có thể định nghĩa số học modulo m - Z
m
như
sau: Z
m
là tập hợp {0,1,. . .,m-1} và được trang bị hai phép
toán cộng và nhân. Việc cộng và nhân trong Z
m
được thực
hiện giống như cộng và nhân các số nguyên ngoại trừ một
điểm là các kết quả được rút gọn theo modulo m.
8
Số học modulo m – ví dụ
•Vídụ tính 11× 13 trong Z
16
tương tự như với các số
nguyên ta có:
–11 ×13 = 143.
– Để rút gọn 143 theo modulo 16, ta thực hiện phép chia
bình thường: 143 = 8 × 16 + 15,
–Bởi vậy 143 mod 16 = 15 trong Z
16
.
•
9
Số học modulo m–tính chất của các phép toán
1. Phép cộng là đóng, tức với bất kì a,b ∈ Zm ,a +b ∈ Zm
2. Phép cộng là giao hoán, tức là với a,b bất kì ∈ Zm: a+b = b+a
3. Phép cộng là kết hợp, tức là với bất kì a,b,c ∈ Zm: (a+b)+c =
a+(b+c)
4. 0 là phần tử đơn vị của phép cộng, có nghĩa là với a bất kì ∈ Zm:
a+0 = 0+a = a
5. Phần tử nghịch đối của phép cộng của phần tử bất kì (a ∈ Zm ) là
m-a, nghĩa là a+(m-a) = (m-a)+a = 0 với bất kì a ∈ Zm .
6. Phép nhân là đóng, tức là với a,b bất kì ∈ Zm, ab ∈ Zm .
7. Phép nhân là giao hoán, nghĩa là với a,b bất kì ∈ Zm, ab = ba
8. Phép nhân là kết hợp, nghĩa là với a,b,c ∈ Zm , (ab)c = a(cb)
9. 1 là phần tử đơn vị của phép nhân, tức là với bất kỳ a ∈ Zm: a×1 =
1×a = a
10. Phép nhân có tính chất phân phối đối với phép cộng, tức là đối với
a,b,c ∈ Zm , (a+b)c = (ac)+(bc) và a(b+c) = (ab) + (ac)
10
Số học modulo m – nhận xét
•Vìphần tử đối của phép cộng tồn tại trong Z
m
nên ta cũng
có thể thực hiện phép trừ trong Z
m
. Ta định nghĩa a-b
trong Z
m
là a+m-b mod m. Một cách tương đương có thể
tính số nguyên a-b rồi rút gọn theo modulo m.
•Vídụ : Để tính 11-18 trong Z
31
:
– Ta tính 11+13 mod 31 = 24.
– Hoặc, có thể lấy 11-18 được -7 rồi sau đó tính -7 mod
31 = 24.
11
Mã dịch vòng (shift cipher)
•Hệ mật mã dịch vòng:
– P = C = K = Z
26
–Với 0 ≤ k ≤ 25 , các hàm mã và giải mã như sau:
•e
k
(x) = x +k mod 26
•vàd
k
(y) = y-k mod 26
•(x,y ∈ Z
26
)
– Nhận xét: Trong trường hợp K = 3, hệ mật mã thường
được gọi là mã Caesar đã từng được Julius Caesar sử
dụng.
12
Mã dịch vòng (shift cipher)
• Ta sẽ sử dụng MDV (với modulo 26) để mã hoá một văn
bản tiếng Anh thông thường bằng cách thiết lập sự tương
ứng giữa các kí tự và các thặng dư theo modulo 26 như
sau: A ↔ 0,B ↔ 1, . . ., Z ↔ 25. Vì phép tương ứng này
còn dùng trong một vài ví dụ nên ta sẽ ghi lại để còn tiện
dùng sau này, ta có bảng ánh xạ chi tiết sau:
13
Mã dịch vòng (shift cipher) - ví dụ
•Giả sử khoá cho mã dịch vòng là k = 11 và bản rõ là:
wewillmeetatmidnight
• Trước tiên biến đổi bản rõ thành dãy các số nguyên nhờ
dùng phép tương ứng trên. Ta có:
w-22 e-4 w-22 i-8 l-11 l-11 m-12 e-4 e-4 t-19
a-0 t-19 m-12 i-8 d-3 n-13 i-8 g-6 h-7 t-19
•sau đócộng 11 vào mỗi giá trị rồi rút gọn tổng theo
modulo 26 (công thức e
k
(x) = x +k mod 26):
7 15 7 19 22 22 23 15 15 4
114231914241917184
•Cuối cùng biến đổi dãy số nguyên này thành các kí tự thu
được bản mã sau: HPHTWWXPPELEXTOYTRSE
14
Mã dịch vòng (shift cipher) - ví dụ
•Nhận xét: Trong ví dụ trên, ta đã dùng các chữ in hoa cho
bản mã, các chữ thường cho bản rõ để tiện phân biệt.
•Giải mã bản mã này:
–Bob sẽ biến đổi bản mã thành dãy các số nguyên rồi trừ
đi giá trị cho 11 và rút gọn theo modulo 26 (công thức
d
k
(y) = y-k mod 26)
–Cuối cùng biến đổi lại dãy này thành các ký tự.
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Giới thiệu về bộ kế hoạch và đầu tư .doc
Lời nói đầu
Thực tập tốt nghiệp là một cơ hội tốt giúp cho sinh viên vận dụng kiến
thức lý luận đã học ở nhà trờng vào thực tiễn nhằm phân tích, lý giải và giải
quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Qua đó giúp sinh viên củng cố và nâng
cao kiến thức đã đợc trang bị, làm quen với công tác quản lý kinh tế
Với mục đích đó và đợc sự đồng ý của khoa kinh tế phát triển - trờng đại
học kinh tế quốc dân, em đã đợc phân công về vụ công nghiệp - bộ Kế hoạch và
đầu t thực hiện công tác thực tập.
Quá trình thực tập đã giúp em hiểu rõ hơn về chức năng nhiệm vụ, vai trò
cũng nh hoạt động thực tế, phơng hớng hoạt của cơ quan nơi em thực tập. Đây
là một bản báo cáo chung nêu lên những vấn đề cơ bản của bộ Kế hoạch và đầu
t cũng nh của vụ công nghiệp đồng thời trên cơ sở đó hình thành lên một số h-
ớng nghiên cứu chính làm nền tảng cho viêc lựu chọn và thực hiện chuyên đề
thực tập sau này. Bản báo cáo đợc chia làm hai phần chính:
I - Giới thiệu về bộ kế hoạch và đầu t
II - Giới thiệu về vụ công nghiệp
Phần I
1
giới thiệu về bộ kế hoạch và đầu t
1-/ Quá trình hình thành và phát triển.
Ngay từ khi thành lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà công tác kế hoạch
đã rất đợc nhà nớc quan tâm. Các hệ thống kế hoạch nhà nớc đã nhanh chóng đ-
ợc thành lập sau đó cùng với quá trình lịch sử của quốc gia, hệ thống này không
ngừng đợc hình thành và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ. Ta
có thể tóm tắt quá trình phát triển đó nh sau :
1.1-/ Thời kỳ từ thành lập nớc đến năm 1986
- Ngày 31-12-1945Chủ tịch Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà đã ra sắc lệnh số 78 thành lập uỷ ban nghiên cú kế hoạch kiến thiết.
Uỷ ban này có nhiệm vụ soạn thảo kế hoạch thực hiện kiến thiết quốc gia về các
ngành kinh tế, tài chính, xã hội, văn hoá đệ trình chính phủ. Đây là tiền thân
của hệ thống kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân.
- Ngày 14-5-1950 Chủ tịch Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra sắc lệnh
số 68 thành lập ban kinh tế chính phủ thaycho uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến
thiết. Ban này có nhiệm vụ soạn thảo trình chính phủ những đề án về chính
sách, chơng trình, kế hoạch những vấn đề quan trọng về kinh tế.
- Ngày 8-10-1955 thành lập uỷ ban kế hoạch quốc gia để thực nhiệm vụ
từng bớc kế hoạch hoá việc khôi phục và phát triển kinh tế -văn hoá - xã hội của
đất nớc, xây dựng dự án phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, tiến hành công tác
thống kê kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và từ đó hệ thống kế hoạch từ Trung -
ơng đến địa phơng đợc thành lập.
- Tháng 10-1961 đổi tên uỷ ban kế hoạch quốc gia thành uỷ ban kế hoạch
nhà nớc .
Trong thời kỳ này cơ quan hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
1.2-/ Thời kỳ từ 1986 đến nay.
- Sau năm 1986 cơ quan vẫn gọi là uỷ ban kế hoạch nhà nớc những cơ cấu
và phơng thức quản lý có thay đổi cho phù hợp với quá trình đổi mới của đất n-
ớc.
- Ngày 21-10-1995 thực hiện nghị quyết kỳ họp thứ VIII của quốc hội
khoá IX sát nhập Uỷ ban kế hoạch nhà nớc và uỷ ban nhà nớc về hợp tác và đầu
t thành Bộ kế hoạch và Đầu t.
2-/ Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu t.
2
Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan có thay đổi và bổ sung sau
mỗi lần đổi tên. Nhìn chung sự thay đổi đó có sự khác nhau rõ nét nhất trong 2
thời kỳ:
- Thời kỳ kế hoạch hóa tập trung.
- Thời kỳ đổi mới kinh tế.
2.1-/ Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung
- Xây dựng kế hoạch hàng năm và dài hạn phát triển kinh tế quốc dân về
các mặt.
- Kiểm tra việc thực hiện và chấp hành kế hoạch ở các Bộ, các cơ quan, uỷ
ban hành chính tại các địa phơng, rút ra các nhận xét trình Chính Phủ.
- Ban hành phơng pháp xây đựng kế hoạch, trình tự lập kế hoạch, hệ thống
biểu mẫu và chỉ tiêu kế hoạch, phê duyệt và ban hành nhữnh thể lệ, quy tắc có
liên quan đến công tác kế hoạch hoá và công tác xây dựng cơ bản.
- Các vấn đề về hợp tác kinh tế với các nớc Xã Hội Chủ Nghĩa anh em, hợp
tác khoa học với các nớc khác.
- Lập kế hoạch động viên trong trờng hợp cần thiết.
- Chỉ đạo nghiệp vụ đối với các tổ chức làm công tác kế hoạch, công tác
xây dng cơ bản của các Bộ, Cơ quan Trung Ương và địa phơng.
- Yêu cầu các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc hội đồng
chính phủ, uỷ ban hành chính địa phơng và cơ quan chuyên môn báo cáo tình
hình thực hiện kế hoạch yêu cầu các đoàn thể cung cấp tài liệu có liên quan đến
việc lập kế hoạch.
- Bồi dỡng nghiệp vụ các cán bộ làm công tác kế hoạch và quản lý xây
dựng cơ bản, quản lý xây dựng cán bộ, biên chế lao đọng tiền lơng, tài sản, tài
vụ của uỷ ban kế hoạch nhà nớc theo chế đọ chung của Nhà nớc.
2.2-/ Trong thời kỳ đổi mới kinh tế.
Bộ kế hoạch và Đầu t là cơ quan của chính phủ có chức năng tham mu
tổng hợp về xây dựng chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của cả nớc và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, vùng lãnh thổ.
Xác định phơng hớng và cơ cấu gọi vốn đầu t nớc ngoài vào việt nam, đảm bảo
cân đối đầu t trong nớc và nớc ngoài để trình Chính Phủ quyết định.
- Trình chính phủ ccác dự án luật, pháp lệnh các văn bản pháp quy có liên
quan đến cơ chế chính sách quản lý kinh tế, khuyến khích đầu t trong nớc và
ngoài nớc nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lợc, quy hoạch, kế
hoạch ổn định để phát triển kinh tế - xã hội .
3
- Nghiên cứu, xây dựng các quy chế và phơng pháp kế hoạch háo hớng dẫn
các bên nớc ngoài và Việt Nam trong việc đầu t vào Việt Nam và từ Việt Nam
ra nớc ngoài.
- Tổng hợp các nguồn lc trong và ngoài nớc xây dng trình Chính Phủ các
kế hoạch dài hạn,trung hạn và ngắn hạn về phát triển kinh tế - xã hội cả nớc và
các cân đối chủ yếu của nề kinh tế quốc dân.
- Hớng dẫn các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương xây dựng các tổng hợp
kế hoạch, kể cả kế hoạch thu hút vốn đầu t nớc ngoài,phù hợp với chiến lợc phát
triển của cả nớc, các ngành kinh tế và vùng lãnh thổ đã đợc phê duyệt.
- Làm chủ tịch hội đồng cấp nhà nớc xét duyệt định mức kinh tế kỹ
thuật,xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nớc,là cơ quan
đầu mối trong việc điều phối sử dụng nguồn vốn ODA, quản lý đăng ký kinh
doanh, cấp các giấy phép đầu t cho các dự án hợp tác, liên doanh, liên kết của n-
ớc ngoài vào việt nam và việt Nam ra nớc ngoài.Quản lý nhà nớc đôi với dịch
vụ t vấn đầu t.
-Trình Thủ tớng chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà nớc.
-Tỏ chức nghiên cứu ,thu thập sử lý các thông tin về dựbáo phát triển kinh
tế - xã hội trong nớc và ngoài nớc phục vụ cho việc điều hành và thực hiện kế
hoạch.
Tổ chức lại và bồi dỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ công chức,
viên chức thuộc bộ quản lý.
-Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển, chính sách kinh tế,
quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ phát triển và hợp tác
đầu t.
3-/ Cơ cấu của bộ kế hoạch và đầu t trong giai đoạn hiện nay.
Bộ kế hoạch và đầu t hiện có 28 đơn vị vụ, viện với cơ cấu tổ chức:
- Bộ trởng Bộ kế hoạch và đầu t.
- Các thứ trởng
- Các cơ quan trong Bộ bao gồm:
3.1-Các cơ quan giúp Bộ thực hiện công tác quản lý Nhà nớc
1 - Vụ Pháp luật đầu t nớc ngoài .
2 - Vụ Quản lý dự án đầu t nớc ngoài.
3 - Vụ Quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp.
4
4 - Vụ Đầu t nớc ngoài.
5 - Vụ Tỏng hợp kinh tế quốc dân.
6 - Vụ Kinh tế đối ngoại.
7 - Vụ Kinh tế địa phơng và lãnh thổ.
8 - Vụ Doanh nghiệp.
9 - Vụ Tài chính tiền tệ.
10 - Vụ Nong ngiệp và Phát triển nông thôn.
11 - VụCông nghiệp.
12 - VụThơng mại dịch vụ.
13 - Vụ Cơ sở hạ tầng.
14 - Vụ Lao động Văn hoá xã hội.
15 - Vụ Khoa học giáo dục môi trờng.
16 - Vụ Quan hệ Lào và Cămpuchia.
17 - VụQuốc phòng An ninh.
18 - Vụ Tổ chức Cán bộ.
19 - Văn phòng Thẩm định dự án đầu t.
20 - Văn phòng xét thầu quốc gia.
21 - Văn phòng Bộ.
22 - Cơ quan đại diện phía nam.
b) Các Tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ:
1 - Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương.
2 - Viện chiến lợc Phát triển.
3 - Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền nam.
4 - Trung tâm thông tin(gồm cả tạp chí kinh tế dự báo).
5 - Trờng nghiệp vụ kế hoạch.
6 - Báo Việt Nam Đầu t nớc ngoài.
Nhiệm vụ ,cơ cấu tổ chức và biên chế các đơn vị trên do Bộ trởng Bộ Kế
hoạch và Đầu t quyết định trong phạm vi tổng biên chế đã đợc Chính phủ quy
định. Bộ trởng Bộ Kế hoạchvà Đầu t cùng với Bộ trởng, Trởng ban Tổ chức cán
bộ Chính phủ hớng dẫn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, cơ quan kế
hoạch và đầu t của các tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng.
5
4-/ Về công tác kế hoạch của bộ trởng trong cơ chế kế
hoạch hóa tập trung và trong cơ chế thị trờng
* Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung:
Trong cơ chế này nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hiện vật đợc kế
hoạch hóa tập trung cao độ. Nhà nớc quán xuyến toàn bộ, triệt để từ xác định
chiến lợc, xây dựng và quyết định kế hoạch, quyết định các chính sách kinh
tế, đến quyết định giá cả, lãi xuất, tiền lơng. Nghị định 49/CP ngày 25/3/1974
đã quy định rõ một trong các chức năng của UBKHNN là: Chịu trách nhiệm
toàn bộ công tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân.
Do vậy mọi hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
(DNNN và DN tập thể) đều phải chịu sự quyết định trực tiếp của UBKHNN
thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh và các hớng dẫn thực hiện rất chặt chẽ.
Hậu quả của cơ chế này là làm cho trên đất nớc ta không có thị trờng thực
sự, không có tự chủ kinh doanh, các doanh nghiệp trì trệ, nền kinh tế yếu kém,
Ngân sách Nhà nớc bị cạn kiệt.
* Trong cơ chế thị trờng (sau 1989):
Sau một thời gian dài trì trệ theo cơ chế cũ, tháng 7 năm 1979 Hội nghị TW
VI (khóa IV) của Đảng ta đã đa ra quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế hàng
hóa. Song phải trải qua một quá trình tiếp tục đấu tranh về t tởng (tuy âm thầm
nhng không kém quyết liệt), nhất là lại có những đòi hỏi cấp bách do khó khăn
trong thực tế đặt ra (trợt giá) đến năm 1989 chúng ta mới thực sự chuyển sang
nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng.
Kể từ đó, việc chấp nhận cơ chế thị trờng không còn là vấn đề bàn cãi nữa,
với t cách là mức độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trờng đã
chứng tỏ những u thế hơn hẳn cơ chế cũ (thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao
năng suất lao động xã hội, tăng tính năng động và tự chủ của nền kinh tế).
Tuy nhiên bên cạnh những u thế đó, cơ chế thị trờng còn bộc lộ rất nhiều
khuyết tật cố hữu của nó nh tính tự phát, phân hóa giàu nghèo, Những khuyết
tật này về mặt kinh tế có thể gây ra sự lãng phí xã hội rất lớn, nền kinh tế có
nguy cơ mất ổn định nặng nề, làm tăng sự mất công bằng trong xã hội và nảy
sinh nhiều tệ nạn.
Do vậy, cùng với việc đa đất nớc chuyển sang cơ chế thị trờng, Đảng và
Nhà nớc ta cũng khẳng định nền kinh tế mà chúng ta xây dựng phải có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN, tức là phải có sự kết hợp hợp lý giữa vai
trò điều tiết của thị trờng với vai trò của Chính phủ.
Chính vì nhận thức này, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Kế hoạch
và Đầu t (đợc Nhà nớc giao phó) đã thay đổi hoàn toàn so với trớc. Thay cho
6
nhiệm vụ Chịu trách nhiệm toàn bộ công tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc
dân, nhiệm vụ của Bộ kế hoạch và Đầu t đợc xác định lại là: Xây dựng chiến l-
ợc phát triển kinh tế - xã hội, các dự án tổng sơ đồ phân phối lực lợng sản xuất
(chỉ thị 355 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng ngày 5-10-1990).
Từ đó, Bộ Kế hoạch và Đầu t không còn quản lý trực tiếp mọi hoạt động
của nền kinh tế bằng mệnh lệnh nữa mà Bộ Kế hoạch và Đầu t chỉ quản lý trên
tầm vĩ mô: đề ra các định hớng đờng lối, chính sách và tạo các hành lang pháp
lý cho hoạt động của các đơn vị sản xuất - kinh doanh nhằm bảo đảm cho sự
phát triển hiệu quả, cân đối, đồng bộ theo định hớng XHCN của tổng thể nền
kinh tế - xã hội.
Sau thực tiễn đổi mới những năm qua, đến nay chúng ta nhận thức đợc
rằng sự thay đổi về cơ bản các chức vụ, nhiệm vụ và hoạt động nh trên không hề
làm giảm vai trò của Bộ Kế hoạch và Đầu t, mà lại ngợc lại. Hiện nay hoạt động
của Bộ Kế hoạch và Đầu t giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm sự
phát triển bền vững và có hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
Sở dĩ nh vậy là vì trong cơ chế cũ tuy nhiệm vụ và hoạt động của Bộ Kế
hoạch và Đầu t rất rộng lớn, đồ sộ, song cũng chính do nhiệm vụ quá đồ sộ nh
vậy nên đã vợt quá xa khả năng có thể thực hiện đợc. Hậu quả là hiệu quả hoạt
động của Bộ rất hạn chế, các kế hoạch đề ra cứng nhắc không phù hợp với hiệu
quả tổng thể gây lãng phí xã hội và sự trì trệ trong mọi đơn vị sản xuất. Còn
hiện nay thì ngợc lại tuy nhiệm vụ đợc giao nhỏ đi những nhiệm vụ đó lại là
điểm mất chốt đảm bảo cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế, mặt khác vì
khối lợng công việc không còn vợt quá khả năng cho phép nên Bộ Kế hoạch và
Đầu t có thể hoàn thành tốt một cách thực sự những nhiệm vụ đợc giao phó. Từ
đó giúp Nhà nớc kết hợp đợc tốt và hiệu quả sự tác động của mình với sự điều
tiết của thị trờng theo đúng chủ trơng, đờng lối đã xác định.
7
phần ii
giới thiệu về vụ công nghiệp
1-/ Sơ lợc một số nét về quá trình hình thành vụ công nghiệp
Kể từ khi ủy Ban Kế hoạch Nhà nớc đợc thành lập thì chỉ có một số ngời
làm việc về lĩnh vực công nghiệp, cho nên chỉ có pòng công nghiệp và giao
thông vận tải. Khoảng năm 1958, vụ Công nghiệp mới đợc tách ra thành lập
riêng. Do sự phát triển của nền kinh tế thị trờng và yêu cầu của công tác kế
hoạch hóa, khoảng năm 1963, vụ Công nghiệp đã tách thành hai vụ: vụ Công
nghiệp nặng (tham mu, theo dõi, điều hành kế hoạch các ngành: điện, than, hóa
chất, vật liệu xây dựng, khoáng sản, cơ khí, ), vụ Công nghiệp nhẹ (tham mu
và điều hành kế hoạch các ngành: công nghiệp dệt - may, da giầy, công nghiệp
thực phẩm, công nghiệp gỗ giấy diêm và công nghiệp địa phơng). Năm 1975,
toàn bộ công nghiệp cơ khí và luyện kim trong công nghiệp nặng đợc tách ra
thành vụ cơ khí và luyện kim.
Cùng với việc thực hiện những chính sách đổi mới kinh tế, Chính phủ đã
cải cách tổ chức, sắp xếp lại các đầu mối thì Bộ Kế hoạch và Đầu t cũng đợc sắp
xếp lại nh Nghị định 75/CP. Trong nội bộ cơ quan cũng đợc sắp xếp lại. Năm
1988, 3 vụ công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí - luyện kim
đã nhập lại để thành vụ Công nghiệp nh hiện nay.
2-/ Chức năng, nhiệm vụ
Vụ công nghiệp là đơn vị thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu t giúp Bộ trởng làm
chức năng theo dõi và quản lý Nhà nớc về sự phát triển của ngành công nghiệp
với các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu, tổng hợp quy hoạch phát triển của ngành Công nghiệp trong
phạm vi cả nớc và theo vùng lãnh thổ.
- Tổng hợp, xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát triển
toàn ngành Công nghiệp, trực tiếp phụ trách kế hoạch các ngành Công nghiệp:
Điện năng, nhiên liệu, luyện kim đen, luyện kim màu, sản xuất thiết bị máy
móc, kỹ thuật tiện và điện tử, hóa chất, phân bón và cao su; vật liệu xây dựng;
xen luy lô và giấy; sành sứ thủy tinh, dệt may, thuộc da và sản xuất các sản
phẩm từ da, giả da, chế biến sữa, dầu thực vật, rợu, bia, thuốc lá.
- Đề xuất các cơ chế chính sách và kế hoạch hóa nhằm bảo đảm thực hiện
định hớng của kế hoạch phát triển ngành thuộc vụ phụ trách; trực tiếp tổ chức
xây dựng các cơ chế chính sách theo sự phân công của lãnh đạo Bộ. Nghiên cứu
phân tích lựa chọn các dự án đầu t trong nớc và ngoài nớc.
8
- Kiểm tra theo dõi việc thực hiện các chơng trình dự án, nắm tình hình,
lập báo cáo việc thực hiện kế hoạch quý, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm của các
ngành và lĩnh vực thuộc vụ phụ trách. Đề xuất các giải pháp xử lý những vớng
mắc trong quá trình thực hiện kế hoạch.
- Tham gia thẩm định thành lập các doanh nghiệp Nhà nớc, thẩm định các
dự án đầu t (cả vốn trong nớc và vốn ngoài nớc) thẩm định xét thầu; phân bổ
nguồn vốn ODA xác định định mức kinh tế kỹ thuật của các ngành do vụ phụ
trách theo quy trình của Bộ.
- Làm đầu mối quản lý các dự án, chơng trình quốc gia của các ngành và
lĩnh vực thuộc vụ phụ trách.
- Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống thông tin về kinh tế phục
vụ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành do vụ phụ trách.
- Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch của Bộ Công nghiệp và các tổng công ty
thuộc ngành, vụ phụ trách: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trởng Bộ Kế hoạch và Đầu t giao.
3-/ Cơ cấu bộ máy của vụ công nghiệp
Vụ công nghiệp có số cán bộ công tác hiện tại là 26 cán bộ có cơ cấu tổ
chức nh sau:
1-/ Vụ trởng
9
Vụ trưởng
Vụ Phó I Vụ Phó II
Nhóm Năng lư
ợng
Nhóm vật liệu
xây dựng, xi
măng và CN
khác
Nhóm Công
nghiệp nặng
(thép, mỏ, hóa
chất)
Nhóm Công
nghiệp nhẹDầu khí
Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trớc UB về các công việc của Vụ đợc
UB giao.
Tổ chức và điều hành để thực hiện nhiệm vụ có chất lợng và đáp ứng yêu
cầu công tác.
2-/ Các vụ phó giúp việc đợc phân công phụ trách theo dõi và trực tiếp
tổng hợp các mặt công tác và báo cáo Vụ trởng cụ thể nh sau:
Vụ phó 1:
Tổng hợp qui hoạch phát triển ngành công nghiệp trong phạm vi cả nớc vù
vùng lãnh thổ.
Phụ trách tham gia thẩm định thành lập các doanh nghiệp Nhà nớc, thẩm
định các dự án chủ yếu bằng nguồn vốn vay trong nớc, thẩm định xét thầu, xác
định mức kinh tế kỹ thuật của các ngành do vụ phụ trách theo qui trình của ủy
ban.
Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống các thông tin về kinh tế
phục vụ cho việc xây dựng qui hoạch kế hoạch phát triển công nghiệp.
Tổng hợp và phụ trách việc quản lý các dự án.
Vụ phó 2:
Tổng hợp và phụ trách xây xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn
hạn về phát triển toàn ngành công nghiệp.
Phụ trách và tổng hợp đề xuất cơ chế chính sách, kế hoạch hóa nhằm đảm
bảo thực hiện định hớng của kế hoạch phát triển ngành công nghiệp, xây dựng
các cơ chế chính sách theo sự phân công của UB.
Tổng hợp và phụ trách theo dõi việc thực hiện các chơng trình, dự án, nắm
tình hình thực hiện kế hoạch quí, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm. Đề xuất các
giải pháp xử lý những vớng mắc trong quá trình thực hiện kế hoạch.
3-/ Các chuyên viên vụ
Các chuyên viên đợc phân công phụ trách, nghiên cứu tổng hợp các hoạt
động (thuộc chức năng nhiệm vụ của vụ: Qui hoạch, kế hoạch, cơ chế chính
sách, ) của lĩnh vực CN đợc phân công.
Nhóm năng l ợng
+ Ngành điện:
Chuyên viên tổng hợp ngành CN điện.
Trực tiếp phụ trách kế hoạch ngành điện thuộc phạm vi phía Bắc.
10
Chuyên viên trực tiếp phụ trách kế hoạch ngành điện thuộc phạm vi miền
Trung và phía Nam.
+ Ngành than:
Chuyên viên tổng hợp qui hoạch phát triển ngành than trực tiếp phụ trách
các hoạt động thuộc các lĩnh vực đào tạo, khoa học kỹ thuật, (trừ kế hoạch sản
xuất và xây dựng cơ bản hàng năm).
Nhóm dầu khí
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN dầu và khí, tổng hợp kế
hoạch Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Nhóm công nghiệp nặng
Chuyên viên tổng hợp kế hoạch Bộ công nghiệp.
Trực tiếp phụ trách CN hóa chất và phân bón.
Chuyên viên phụ trách CN cơ khí và trực tiếp phụ trách giao thông vận tải
và thiết bị phục vụ xây dựng cơ bản.
Chuyên viên tổng hợp CN cơ khí và trực tiếp phục trách CN cơ khí (trc cơ
khí phục vụ giao thông vận tải và XDCB); CN sản xuất trang thiết bị điện; CN
quốc phòng.
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN luyện kim màu khoáng
sản quí hiếm.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN luyện kim đen.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách điều tra cơ bản và thăm dò địa chất.
Nhóm công nghiệp nhẹ
Chuyên viên tổng hợp kế hoạch Tổng Công ty dệt may Việt Nam, Tổng Công ty
thuốc là Việt Nam và trực tiếp phụ trách ngành công nghiệp dệt, may, da giầy.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN giấy, gỗ, diêm, rợu bia, nớc giải
khát.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN sành sứ, thủy tinh và CN khác.
Nhóm vật liệu xây dựng, xi măng và công nghiệp khác
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN xi măng thuộc Tổng công ty xi măng.
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN TP. Hà Nội, Hải Phòng, Hồ
Chí Minh, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN ngành điện tử, tin học, CN
các tỉnh phía Bắc (trừ TP. Hà Nội, Hải Phòng).
11
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN các tỉnh phía Nam (trừ Quảng Nam
- Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh).
Chuyên viên tổng hợp CN ngoài quốc doanh.
4-/ Tình hình thực hiện công tác năm 1999 của vụ công nghiệp
Năm 1999 là năm mà vụ Công nghiệp đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực
hiện tốt các chức năng nhiệm vụ đợc Bộ giao. Điều này đợc thể hiện tập trung
qua một số công việc cụ thể sau:
Góp ý thêm để hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển các lĩnh vực công
nghiệp Trên cơ sở các quy hoạch đã soạn thảo và sẽ đợc thông qua cũng nh cập
nhật các thông tin mới để hoàn chỉnh các quy hoạch.
Tổ chức thẩm định các quy hoạch phát triển Công nghiệp, dầu khí, thép, xi
măng, dệt may, giấy. Tham gia xây dựng các quy hoạch cùng với các ngành nh
quy hoạch ngành thép, quy hoạch ngành đờng ống khí Tây Nam. Điều chỉnh
tiến độ thực hiện các công trình xi măng lớn do ta tự đầu t. Trên cơ sở quy
hoạch và kế hoạch trung hạn xây dựng các cân đối lớn và cần thiết (vốn đầu t,
xuất nhập khẩu, điều kiện sản xuất, ) đề xuất các giải pháp khuyến khích thực
hiện.
Triển khai thực hiện nghiên cứu quy hoạt phát triển điện nông thôn đến
cuối năm 2000 và hoàn chỉnh báo cáo trình Chính phủ.
Tập trung chỉ đạo và cùng các ngành thực hiện các nội dung cho việc xây
dựng một số công trình công nghiệp mới: Nhà máy lọc dầu số 1, nhà máy LPG,
đờng ống dẫn khí, nhà máy thủy điện Sơn La và nhà máy thép, nhà máy xi
măng, liên hợp điện đạm, các nhà máy điện Wartsela, Phú Mỹ 2-2.
Bám sát kế hoạch và điều hành thực hiện có báo cáo tháng, qúy, 6 tháng và
ớc tính cả năm. Chủ trì báo cáo Chính phủ về đầu t cho ngành công nghiệp. Th-
ờng xuyên đi sát tình hình sản xuất kinh doanh, nhất là xi măng, thép, điện,
than, dầu khí, kịp thời kiến nghị để giải quyết khó khăn trong việc thực hiện
kế hoạch cũng nh đảm bảo cung cầu ổn định xã hội.
Một số cơ sở sản xuất nhiều năm thua lỗ hoặc khó khăn về tiêu thụ sản phẩm
hoặc về tài chính nh: Công ty dệt Huế, dệt Hòa Thọ, Tổng công ty, thép, xi
măng, đã đợc tập trung nghiên cứu phối hợp với các vụ trong Bộ và các cơ quan
liên quan để đa ra các kiến nghị đề xuất lãnh đạo Bộ trình Chính phủ giải quyết kịp
thời. Đã cùng với Bộ công nghiệp nghiên cứu tình hình sản xuất của công ty phân
đạm và hóa chất Hà Bắc và kiến nghị Chính phủ các giải pháp nhằm giảm bớt lỗ
trong năm 1999 và hoạt động bình thờng vào năm 2000.
Tham gia phối hợp với các vụ, Viện trong Bộ để thực hiện tốt nhiệm vụ của
Bộ, tham gia về công nghiệp trong các báo cáo của Bộ để phục vụ Hội nghị
Trung ơng Đảng, báo cáo tình hình thực hiện các công trình quan trọng tài các kỳ
12
hợp Quốc hội tháng 4 và tháng 10 hàng năm và báo cáo với Chính phủ theo chỉ
thị của lãnh đạo Bộ với tinh thần trách nhiệm đúng hạn theo yêu cầu.
Phối hợp cùng Bộ công nghiệp tham gia sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà
nớc trên địa bàn địa phơng. Tham gia tổ công tác liên ngành của Chính phủ về
kiến nghị những giải pháp đối với ngành sản xuất thuốc lá; đoàn kiểm tra và đề
nghị đối với các cơ sở sản xuất có vốn đầu t nớc ngoài trong lĩnh vực sản xuất ô
tô, xe máy.
Tổng hợp xây dựng kế hoạch năm 2000 và sau năm 2000 các ngành công
nghiệp: điện, dầu khí, than, luyện kim, cơ khí chế tạo, kỹ thuật điện và điện tử,
hóa chất, phân bón và cao su, xi măng và vật liệu xây dựng, giấy, sành sứ thủy
tinh, dệt may, da giầy, chế biến sữa, dầu thực vật, rợu bia nớc giải khát, thuốc lá
và điều tra cơ bản địa chất.
Tích cực hoạt động trong tổ th ký của ban chỉ đạo chơng trình khí, điện,
đạm; Hoàn thành công việc của tổ th ký của ban chỉ đạo dự án quy hoạch thủy
điện quốc gia. Đã cử ngời tham gia công tác xét thầu của SIDA và NORAD; Tổ
chức họp 6 tháng 1 lần với SIDA về công trình thủy điện sông Hinh.
Tham gia thẩm định các dự án xét thầu thuộc lĩnh vực vụ công nghiệp phụ trách.
Chủ trình phối hợp cùng với các ngành xây dựng chơng trình đa điện về
nông thôn sau năm 2000. Tham gia cùng EVN trong việc chuẩn bị tiếp nhận tài
trợ của WB cho chơng trình đa điện về 590 xã trong năm 2000.
Tích cực tham gia các công việc của Bộ do vụ, viện khác chủ trì theo đúng
tiến độ yêu cầu, ví dụ nh: Cổ phần hóa về thuê bán khoán doanh nghiệp. Dự án
kêu gọi đầu t nớc ngoài, dự thảo luật doanh nghiệp, thơng mại, chiến lợc phát
triển đến năm 2000, chơng trình triển khai hội nhập AFTA
5-/ Mục tiêu phơng hớng phát triển vụ công nghiệp năm 2000
Phối hợp tốt với các Bộ, Tổng công ty sớm triển khai kế hoạch năm 2000
đã giao, thực hiện tốt nhiệm vụ điều hành thực hiện kế hoạch và đề xuất kịp thời
những vớng mắc, kiến nghị cách xử lý.
Tiếp tục rà soát các quy hoạch phát triển các lĩnh vực công nghiệp. Trên cơ
sở các quy hoạch đã đợc soạn thảo và sẽ đợc thông qua cũng nh cập nhật các
thông tin mới để hoàn chỉnh các quy hoạch.
Quy hoạch phát triển công nghiệp ngành than, hóa chất phân bón, dầu khí, xi
măng, dệt may, da giầy, giấy, rợu bia nớc giải khát, sữa dầu thực vật, thuốc lá, cơ
khí và điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, công nghiệp khai khoáng,
13
Trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch trung hạn xây dựng các cân đối lớn và
cần thiết (vốn đầu t, xuất nhập khẩu, điều kiện sản xuất, ) đề xuất các giải
pháp khuyến nghị thực hiện.
Tập trung chỉ đạo thực hiện các nội dung cho việc xây dựng một số công
trình công nghiệp mới: Nhà máy lọc dầu, nhà máy LPG, đờng ống dẫn khí, nhà
máy thủy điện Sơn La, nhà máy thép, nhà máy xi măng, liên hợp điện đạm, các
nhà máy điện theo hợp đồng BOT.
Bám sát kế hoạch và triển khai thực hiện, có báo cáo hàng tháng, qúy, 6
tháng và ớc tính cả năm theo yêu cầu của Bộ. Thờng xuyên đi sát tình hình sản
xuất kinh doanh, nhất là xi măng, thép, điện, dầu khí, kịp thời kiến nghị để
giải quyết khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch cũng nh đảm bảo cung cầu
ổn định xã hội.
Tham gia, phối hợp cùng với các vụ, viện trong Bộ thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ.
Xây dựng chơng trình công tác hàng qúy và kiểm tra, kiểm điểm tình hình
thực hiện, kịp thời rút kinh nghiệm để có chất lợng công tác tốt hơn.
Hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác khi đợc Bộ giao.
14
Thực tập tốt nghiệp là một cơ hội tốt giúp cho sinh viên vận dụng kiến
thức lý luận đã học ở nhà trờng vào thực tiễn nhằm phân tích, lý giải và giải
quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Qua đó giúp sinh viên củng cố và nâng
cao kiến thức đã đợc trang bị, làm quen với công tác quản lý kinh tế
Với mục đích đó và đợc sự đồng ý của khoa kinh tế phát triển - trờng đại
học kinh tế quốc dân, em đã đợc phân công về vụ công nghiệp - bộ Kế hoạch và
đầu t thực hiện công tác thực tập.
Quá trình thực tập đã giúp em hiểu rõ hơn về chức năng nhiệm vụ, vai trò
cũng nh hoạt động thực tế, phơng hớng hoạt của cơ quan nơi em thực tập. Đây
là một bản báo cáo chung nêu lên những vấn đề cơ bản của bộ Kế hoạch và đầu
t cũng nh của vụ công nghiệp đồng thời trên cơ sở đó hình thành lên một số h-
ớng nghiên cứu chính làm nền tảng cho viêc lựu chọn và thực hiện chuyên đề
thực tập sau này. Bản báo cáo đợc chia làm hai phần chính:
I - Giới thiệu về bộ kế hoạch và đầu t
II - Giới thiệu về vụ công nghiệp
Phần I
1
giới thiệu về bộ kế hoạch và đầu t
1-/ Quá trình hình thành và phát triển.
Ngay từ khi thành lập nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà công tác kế hoạch
đã rất đợc nhà nớc quan tâm. Các hệ thống kế hoạch nhà nớc đã nhanh chóng đ-
ợc thành lập sau đó cùng với quá trình lịch sử của quốc gia, hệ thống này không
ngừng đợc hình thành và phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ. Ta
có thể tóm tắt quá trình phát triển đó nh sau :
1.1-/ Thời kỳ từ thành lập nớc đến năm 1986
- Ngày 31-12-1945Chủ tịch Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam dân chủ
cộng hoà đã ra sắc lệnh số 78 thành lập uỷ ban nghiên cú kế hoạch kiến thiết.
Uỷ ban này có nhiệm vụ soạn thảo kế hoạch thực hiện kiến thiết quốc gia về các
ngành kinh tế, tài chính, xã hội, văn hoá đệ trình chính phủ. Đây là tiền thân
của hệ thống kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân.
- Ngày 14-5-1950 Chủ tịch Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ra sắc lệnh
số 68 thành lập ban kinh tế chính phủ thaycho uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến
thiết. Ban này có nhiệm vụ soạn thảo trình chính phủ những đề án về chính
sách, chơng trình, kế hoạch những vấn đề quan trọng về kinh tế.
- Ngày 8-10-1955 thành lập uỷ ban kế hoạch quốc gia để thực nhiệm vụ
từng bớc kế hoạch hoá việc khôi phục và phát triển kinh tế -văn hoá - xã hội của
đất nớc, xây dựng dự án phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, tiến hành công tác
thống kê kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và từ đó hệ thống kế hoạch từ Trung -
ơng đến địa phơng đợc thành lập.
- Tháng 10-1961 đổi tên uỷ ban kế hoạch quốc gia thành uỷ ban kế hoạch
nhà nớc .
Trong thời kỳ này cơ quan hoạt động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
1.2-/ Thời kỳ từ 1986 đến nay.
- Sau năm 1986 cơ quan vẫn gọi là uỷ ban kế hoạch nhà nớc những cơ cấu
và phơng thức quản lý có thay đổi cho phù hợp với quá trình đổi mới của đất n-
ớc.
- Ngày 21-10-1995 thực hiện nghị quyết kỳ họp thứ VIII của quốc hội
khoá IX sát nhập Uỷ ban kế hoạch nhà nớc và uỷ ban nhà nớc về hợp tác và đầu
t thành Bộ kế hoạch và Đầu t.
2-/ Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Kế hoạch và Đầu t.
2
Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan có thay đổi và bổ sung sau
mỗi lần đổi tên. Nhìn chung sự thay đổi đó có sự khác nhau rõ nét nhất trong 2
thời kỳ:
- Thời kỳ kế hoạch hóa tập trung.
- Thời kỳ đổi mới kinh tế.
2.1-/ Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung
- Xây dựng kế hoạch hàng năm và dài hạn phát triển kinh tế quốc dân về
các mặt.
- Kiểm tra việc thực hiện và chấp hành kế hoạch ở các Bộ, các cơ quan, uỷ
ban hành chính tại các địa phơng, rút ra các nhận xét trình Chính Phủ.
- Ban hành phơng pháp xây đựng kế hoạch, trình tự lập kế hoạch, hệ thống
biểu mẫu và chỉ tiêu kế hoạch, phê duyệt và ban hành nhữnh thể lệ, quy tắc có
liên quan đến công tác kế hoạch hoá và công tác xây dựng cơ bản.
- Các vấn đề về hợp tác kinh tế với các nớc Xã Hội Chủ Nghĩa anh em, hợp
tác khoa học với các nớc khác.
- Lập kế hoạch động viên trong trờng hợp cần thiết.
- Chỉ đạo nghiệp vụ đối với các tổ chức làm công tác kế hoạch, công tác
xây dng cơ bản của các Bộ, Cơ quan Trung Ương và địa phơng.
- Yêu cầu các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan trực thuộc hội đồng
chính phủ, uỷ ban hành chính địa phơng và cơ quan chuyên môn báo cáo tình
hình thực hiện kế hoạch yêu cầu các đoàn thể cung cấp tài liệu có liên quan đến
việc lập kế hoạch.
- Bồi dỡng nghiệp vụ các cán bộ làm công tác kế hoạch và quản lý xây
dựng cơ bản, quản lý xây dựng cán bộ, biên chế lao đọng tiền lơng, tài sản, tài
vụ của uỷ ban kế hoạch nhà nớc theo chế đọ chung của Nhà nớc.
2.2-/ Trong thời kỳ đổi mới kinh tế.
Bộ kế hoạch và Đầu t là cơ quan của chính phủ có chức năng tham mu
tổng hợp về xây dựng chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của cả nớc và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo ngành, vùng lãnh thổ.
Xác định phơng hớng và cơ cấu gọi vốn đầu t nớc ngoài vào việt nam, đảm bảo
cân đối đầu t trong nớc và nớc ngoài để trình Chính Phủ quyết định.
- Trình chính phủ ccác dự án luật, pháp lệnh các văn bản pháp quy có liên
quan đến cơ chế chính sách quản lý kinh tế, khuyến khích đầu t trong nớc và
ngoài nớc nhằm thực hiện cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lợc, quy hoạch, kế
hoạch ổn định để phát triển kinh tế - xã hội .
3
- Nghiên cứu, xây dựng các quy chế và phơng pháp kế hoạch háo hớng dẫn
các bên nớc ngoài và Việt Nam trong việc đầu t vào Việt Nam và từ Việt Nam
ra nớc ngoài.
- Tổng hợp các nguồn lc trong và ngoài nớc xây dng trình Chính Phủ các
kế hoạch dài hạn,trung hạn và ngắn hạn về phát triển kinh tế - xã hội cả nớc và
các cân đối chủ yếu của nề kinh tế quốc dân.
- Hớng dẫn các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ, uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương xây dựng các tổng hợp
kế hoạch, kể cả kế hoạch thu hút vốn đầu t nớc ngoài,phù hợp với chiến lợc phát
triển của cả nớc, các ngành kinh tế và vùng lãnh thổ đã đợc phê duyệt.
- Làm chủ tịch hội đồng cấp nhà nớc xét duyệt định mức kinh tế kỹ
thuật,xét thầu quốc gia, thẩm định thành lập doanh nghiệp nhà nớc,là cơ quan
đầu mối trong việc điều phối sử dụng nguồn vốn ODA, quản lý đăng ký kinh
doanh, cấp các giấy phép đầu t cho các dự án hợp tác, liên doanh, liên kết của n-
ớc ngoài vào việt nam và việt Nam ra nớc ngoài.Quản lý nhà nớc đôi với dịch
vụ t vấn đầu t.
-Trình Thủ tớng chính phủ quyết định việc sử dụng quỹ dự trữ Nhà nớc.
-Tỏ chức nghiên cứu ,thu thập sử lý các thông tin về dựbáo phát triển kinh
tế - xã hội trong nớc và ngoài nớc phục vụ cho việc điều hành và thực hiện kế
hoạch.
Tổ chức lại và bồi dỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ công chức,
viên chức thuộc bộ quản lý.
-Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phát triển, chính sách kinh tế,
quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ phát triển và hợp tác
đầu t.
3-/ Cơ cấu của bộ kế hoạch và đầu t trong giai đoạn hiện nay.
Bộ kế hoạch và đầu t hiện có 28 đơn vị vụ, viện với cơ cấu tổ chức:
- Bộ trởng Bộ kế hoạch và đầu t.
- Các thứ trởng
- Các cơ quan trong Bộ bao gồm:
3.1-Các cơ quan giúp Bộ thực hiện công tác quản lý Nhà nớc
1 - Vụ Pháp luật đầu t nớc ngoài .
2 - Vụ Quản lý dự án đầu t nớc ngoài.
3 - Vụ Quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp.
4
4 - Vụ Đầu t nớc ngoài.
5 - Vụ Tỏng hợp kinh tế quốc dân.
6 - Vụ Kinh tế đối ngoại.
7 - Vụ Kinh tế địa phơng và lãnh thổ.
8 - Vụ Doanh nghiệp.
9 - Vụ Tài chính tiền tệ.
10 - Vụ Nong ngiệp và Phát triển nông thôn.
11 - VụCông nghiệp.
12 - VụThơng mại dịch vụ.
13 - Vụ Cơ sở hạ tầng.
14 - Vụ Lao động Văn hoá xã hội.
15 - Vụ Khoa học giáo dục môi trờng.
16 - Vụ Quan hệ Lào và Cămpuchia.
17 - VụQuốc phòng An ninh.
18 - Vụ Tổ chức Cán bộ.
19 - Văn phòng Thẩm định dự án đầu t.
20 - Văn phòng xét thầu quốc gia.
21 - Văn phòng Bộ.
22 - Cơ quan đại diện phía nam.
b) Các Tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ:
1 - Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương.
2 - Viện chiến lợc Phát triển.
3 - Trung tâm nghiên cứu kinh tế miền nam.
4 - Trung tâm thông tin(gồm cả tạp chí kinh tế dự báo).
5 - Trờng nghiệp vụ kế hoạch.
6 - Báo Việt Nam Đầu t nớc ngoài.
Nhiệm vụ ,cơ cấu tổ chức và biên chế các đơn vị trên do Bộ trởng Bộ Kế
hoạch và Đầu t quyết định trong phạm vi tổng biên chế đã đợc Chính phủ quy
định. Bộ trởng Bộ Kế hoạchvà Đầu t cùng với Bộ trởng, Trởng ban Tổ chức cán
bộ Chính phủ hớng dẫn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy, cơ quan kế
hoạch và đầu t của các tỉnh thành phố trực thuộc trung ơng.
5
4-/ Về công tác kế hoạch của bộ trởng trong cơ chế kế
hoạch hóa tập trung và trong cơ chế thị trờng
* Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung:
Trong cơ chế này nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hiện vật đợc kế
hoạch hóa tập trung cao độ. Nhà nớc quán xuyến toàn bộ, triệt để từ xác định
chiến lợc, xây dựng và quyết định kế hoạch, quyết định các chính sách kinh
tế, đến quyết định giá cả, lãi xuất, tiền lơng. Nghị định 49/CP ngày 25/3/1974
đã quy định rõ một trong các chức năng của UBKHNN là: Chịu trách nhiệm
toàn bộ công tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân.
Do vậy mọi hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
(DNNN và DN tập thể) đều phải chịu sự quyết định trực tiếp của UBKHNN
thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh và các hớng dẫn thực hiện rất chặt chẽ.
Hậu quả của cơ chế này là làm cho trên đất nớc ta không có thị trờng thực
sự, không có tự chủ kinh doanh, các doanh nghiệp trì trệ, nền kinh tế yếu kém,
Ngân sách Nhà nớc bị cạn kiệt.
* Trong cơ chế thị trờng (sau 1989):
Sau một thời gian dài trì trệ theo cơ chế cũ, tháng 7 năm 1979 Hội nghị TW
VI (khóa IV) của Đảng ta đã đa ra quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế hàng
hóa. Song phải trải qua một quá trình tiếp tục đấu tranh về t tởng (tuy âm thầm
nhng không kém quyết liệt), nhất là lại có những đòi hỏi cấp bách do khó khăn
trong thực tế đặt ra (trợt giá) đến năm 1989 chúng ta mới thực sự chuyển sang
nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng.
Kể từ đó, việc chấp nhận cơ chế thị trờng không còn là vấn đề bàn cãi nữa,
với t cách là mức độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trờng đã
chứng tỏ những u thế hơn hẳn cơ chế cũ (thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao
năng suất lao động xã hội, tăng tính năng động và tự chủ của nền kinh tế).
Tuy nhiên bên cạnh những u thế đó, cơ chế thị trờng còn bộc lộ rất nhiều
khuyết tật cố hữu của nó nh tính tự phát, phân hóa giàu nghèo, Những khuyết
tật này về mặt kinh tế có thể gây ra sự lãng phí xã hội rất lớn, nền kinh tế có
nguy cơ mất ổn định nặng nề, làm tăng sự mất công bằng trong xã hội và nảy
sinh nhiều tệ nạn.
Do vậy, cùng với việc đa đất nớc chuyển sang cơ chế thị trờng, Đảng và
Nhà nớc ta cũng khẳng định nền kinh tế mà chúng ta xây dựng phải có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN, tức là phải có sự kết hợp hợp lý giữa vai
trò điều tiết của thị trờng với vai trò của Chính phủ.
Chính vì nhận thức này, chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Kế hoạch
và Đầu t (đợc Nhà nớc giao phó) đã thay đổi hoàn toàn so với trớc. Thay cho
6
nhiệm vụ Chịu trách nhiệm toàn bộ công tác kế hoạch hóa nền kinh tế quốc
dân, nhiệm vụ của Bộ kế hoạch và Đầu t đợc xác định lại là: Xây dựng chiến l-
ợc phát triển kinh tế - xã hội, các dự án tổng sơ đồ phân phối lực lợng sản xuất
(chỉ thị 355 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng ngày 5-10-1990).
Từ đó, Bộ Kế hoạch và Đầu t không còn quản lý trực tiếp mọi hoạt động
của nền kinh tế bằng mệnh lệnh nữa mà Bộ Kế hoạch và Đầu t chỉ quản lý trên
tầm vĩ mô: đề ra các định hớng đờng lối, chính sách và tạo các hành lang pháp
lý cho hoạt động của các đơn vị sản xuất - kinh doanh nhằm bảo đảm cho sự
phát triển hiệu quả, cân đối, đồng bộ theo định hớng XHCN của tổng thể nền
kinh tế - xã hội.
Sau thực tiễn đổi mới những năm qua, đến nay chúng ta nhận thức đợc
rằng sự thay đổi về cơ bản các chức vụ, nhiệm vụ và hoạt động nh trên không hề
làm giảm vai trò của Bộ Kế hoạch và Đầu t, mà lại ngợc lại. Hiện nay hoạt động
của Bộ Kế hoạch và Đầu t giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm sự
phát triển bền vững và có hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
Sở dĩ nh vậy là vì trong cơ chế cũ tuy nhiệm vụ và hoạt động của Bộ Kế
hoạch và Đầu t rất rộng lớn, đồ sộ, song cũng chính do nhiệm vụ quá đồ sộ nh
vậy nên đã vợt quá xa khả năng có thể thực hiện đợc. Hậu quả là hiệu quả hoạt
động của Bộ rất hạn chế, các kế hoạch đề ra cứng nhắc không phù hợp với hiệu
quả tổng thể gây lãng phí xã hội và sự trì trệ trong mọi đơn vị sản xuất. Còn
hiện nay thì ngợc lại tuy nhiệm vụ đợc giao nhỏ đi những nhiệm vụ đó lại là
điểm mất chốt đảm bảo cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế, mặt khác vì
khối lợng công việc không còn vợt quá khả năng cho phép nên Bộ Kế hoạch và
Đầu t có thể hoàn thành tốt một cách thực sự những nhiệm vụ đợc giao phó. Từ
đó giúp Nhà nớc kết hợp đợc tốt và hiệu quả sự tác động của mình với sự điều
tiết của thị trờng theo đúng chủ trơng, đờng lối đã xác định.
7
phần ii
giới thiệu về vụ công nghiệp
1-/ Sơ lợc một số nét về quá trình hình thành vụ công nghiệp
Kể từ khi ủy Ban Kế hoạch Nhà nớc đợc thành lập thì chỉ có một số ngời
làm việc về lĩnh vực công nghiệp, cho nên chỉ có pòng công nghiệp và giao
thông vận tải. Khoảng năm 1958, vụ Công nghiệp mới đợc tách ra thành lập
riêng. Do sự phát triển của nền kinh tế thị trờng và yêu cầu của công tác kế
hoạch hóa, khoảng năm 1963, vụ Công nghiệp đã tách thành hai vụ: vụ Công
nghiệp nặng (tham mu, theo dõi, điều hành kế hoạch các ngành: điện, than, hóa
chất, vật liệu xây dựng, khoáng sản, cơ khí, ), vụ Công nghiệp nhẹ (tham mu
và điều hành kế hoạch các ngành: công nghiệp dệt - may, da giầy, công nghiệp
thực phẩm, công nghiệp gỗ giấy diêm và công nghiệp địa phơng). Năm 1975,
toàn bộ công nghiệp cơ khí và luyện kim trong công nghiệp nặng đợc tách ra
thành vụ cơ khí và luyện kim.
Cùng với việc thực hiện những chính sách đổi mới kinh tế, Chính phủ đã
cải cách tổ chức, sắp xếp lại các đầu mối thì Bộ Kế hoạch và Đầu t cũng đợc sắp
xếp lại nh Nghị định 75/CP. Trong nội bộ cơ quan cũng đợc sắp xếp lại. Năm
1988, 3 vụ công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí - luyện kim
đã nhập lại để thành vụ Công nghiệp nh hiện nay.
2-/ Chức năng, nhiệm vụ
Vụ công nghiệp là đơn vị thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu t giúp Bộ trởng làm
chức năng theo dõi và quản lý Nhà nớc về sự phát triển của ngành công nghiệp
với các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu, tổng hợp quy hoạch phát triển của ngành Công nghiệp trong
phạm vi cả nớc và theo vùng lãnh thổ.
- Tổng hợp, xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về phát triển
toàn ngành Công nghiệp, trực tiếp phụ trách kế hoạch các ngành Công nghiệp:
Điện năng, nhiên liệu, luyện kim đen, luyện kim màu, sản xuất thiết bị máy
móc, kỹ thuật tiện và điện tử, hóa chất, phân bón và cao su; vật liệu xây dựng;
xen luy lô và giấy; sành sứ thủy tinh, dệt may, thuộc da và sản xuất các sản
phẩm từ da, giả da, chế biến sữa, dầu thực vật, rợu, bia, thuốc lá.
- Đề xuất các cơ chế chính sách và kế hoạch hóa nhằm bảo đảm thực hiện
định hớng của kế hoạch phát triển ngành thuộc vụ phụ trách; trực tiếp tổ chức
xây dựng các cơ chế chính sách theo sự phân công của lãnh đạo Bộ. Nghiên cứu
phân tích lựa chọn các dự án đầu t trong nớc và ngoài nớc.
8
- Kiểm tra theo dõi việc thực hiện các chơng trình dự án, nắm tình hình,
lập báo cáo việc thực hiện kế hoạch quý, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm của các
ngành và lĩnh vực thuộc vụ phụ trách. Đề xuất các giải pháp xử lý những vớng
mắc trong quá trình thực hiện kế hoạch.
- Tham gia thẩm định thành lập các doanh nghiệp Nhà nớc, thẩm định các
dự án đầu t (cả vốn trong nớc và vốn ngoài nớc) thẩm định xét thầu; phân bổ
nguồn vốn ODA xác định định mức kinh tế kỹ thuật của các ngành do vụ phụ
trách theo quy trình của Bộ.
- Làm đầu mối quản lý các dự án, chơng trình quốc gia của các ngành và
lĩnh vực thuộc vụ phụ trách.
- Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống thông tin về kinh tế phục
vụ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành do vụ phụ trách.
- Làm đầu mối tổng hợp kế hoạch của Bộ Công nghiệp và các tổng công ty
thuộc ngành, vụ phụ trách: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trởng Bộ Kế hoạch và Đầu t giao.
3-/ Cơ cấu bộ máy của vụ công nghiệp
Vụ công nghiệp có số cán bộ công tác hiện tại là 26 cán bộ có cơ cấu tổ
chức nh sau:
1-/ Vụ trởng
9
Vụ trưởng
Vụ Phó I Vụ Phó II
Nhóm Năng lư
ợng
Nhóm vật liệu
xây dựng, xi
măng và CN
khác
Nhóm Công
nghiệp nặng
(thép, mỏ, hóa
chất)
Nhóm Công
nghiệp nhẹDầu khí
Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trớc UB về các công việc của Vụ đợc
UB giao.
Tổ chức và điều hành để thực hiện nhiệm vụ có chất lợng và đáp ứng yêu
cầu công tác.
2-/ Các vụ phó giúp việc đợc phân công phụ trách theo dõi và trực tiếp
tổng hợp các mặt công tác và báo cáo Vụ trởng cụ thể nh sau:
Vụ phó 1:
Tổng hợp qui hoạch phát triển ngành công nghiệp trong phạm vi cả nớc vù
vùng lãnh thổ.
Phụ trách tham gia thẩm định thành lập các doanh nghiệp Nhà nớc, thẩm
định các dự án chủ yếu bằng nguồn vốn vay trong nớc, thẩm định xét thầu, xác
định mức kinh tế kỹ thuật của các ngành do vụ phụ trách theo qui trình của ủy
ban.
Tổ chức nghiên cứu dự báo, thu thập và hệ thống các thông tin về kinh tế
phục vụ cho việc xây dựng qui hoạch kế hoạch phát triển công nghiệp.
Tổng hợp và phụ trách việc quản lý các dự án.
Vụ phó 2:
Tổng hợp và phụ trách xây xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn
hạn về phát triển toàn ngành công nghiệp.
Phụ trách và tổng hợp đề xuất cơ chế chính sách, kế hoạch hóa nhằm đảm
bảo thực hiện định hớng của kế hoạch phát triển ngành công nghiệp, xây dựng
các cơ chế chính sách theo sự phân công của UB.
Tổng hợp và phụ trách theo dõi việc thực hiện các chơng trình, dự án, nắm
tình hình thực hiện kế hoạch quí, 6 tháng, 9 tháng và hàng năm. Đề xuất các
giải pháp xử lý những vớng mắc trong quá trình thực hiện kế hoạch.
3-/ Các chuyên viên vụ
Các chuyên viên đợc phân công phụ trách, nghiên cứu tổng hợp các hoạt
động (thuộc chức năng nhiệm vụ của vụ: Qui hoạch, kế hoạch, cơ chế chính
sách, ) của lĩnh vực CN đợc phân công.
Nhóm năng l ợng
+ Ngành điện:
Chuyên viên tổng hợp ngành CN điện.
Trực tiếp phụ trách kế hoạch ngành điện thuộc phạm vi phía Bắc.
10
Chuyên viên trực tiếp phụ trách kế hoạch ngành điện thuộc phạm vi miền
Trung và phía Nam.
+ Ngành than:
Chuyên viên tổng hợp qui hoạch phát triển ngành than trực tiếp phụ trách
các hoạt động thuộc các lĩnh vực đào tạo, khoa học kỹ thuật, (trừ kế hoạch sản
xuất và xây dựng cơ bản hàng năm).
Nhóm dầu khí
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN dầu và khí, tổng hợp kế
hoạch Tổng công ty dầu khí Việt Nam.
Nhóm công nghiệp nặng
Chuyên viên tổng hợp kế hoạch Bộ công nghiệp.
Trực tiếp phụ trách CN hóa chất và phân bón.
Chuyên viên phụ trách CN cơ khí và trực tiếp phụ trách giao thông vận tải
và thiết bị phục vụ xây dựng cơ bản.
Chuyên viên tổng hợp CN cơ khí và trực tiếp phục trách CN cơ khí (trc cơ
khí phục vụ giao thông vận tải và XDCB); CN sản xuất trang thiết bị điện; CN
quốc phòng.
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN luyện kim màu khoáng
sản quí hiếm.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN luyện kim đen.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách điều tra cơ bản và thăm dò địa chất.
Nhóm công nghiệp nhẹ
Chuyên viên tổng hợp kế hoạch Tổng Công ty dệt may Việt Nam, Tổng Công ty
thuốc là Việt Nam và trực tiếp phụ trách ngành công nghiệp dệt, may, da giầy.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN giấy, gỗ, diêm, rợu bia, nớc giải
khát.
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN sành sứ, thủy tinh và CN khác.
Nhóm vật liệu xây dựng, xi măng và công nghiệp khác
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN xi măng thuộc Tổng công ty xi măng.
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN TP. Hà Nội, Hải Phòng, Hồ
Chí Minh, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng và các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Chuyên viên tổng hợp và trực tiếp phụ trách CN ngành điện tử, tin học, CN
các tỉnh phía Bắc (trừ TP. Hà Nội, Hải Phòng).
11
Chuyên viên tổng hợp và phụ trách CN các tỉnh phía Nam (trừ Quảng Nam
- Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh).
Chuyên viên tổng hợp CN ngoài quốc doanh.
4-/ Tình hình thực hiện công tác năm 1999 của vụ công nghiệp
Năm 1999 là năm mà vụ Công nghiệp đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực
hiện tốt các chức năng nhiệm vụ đợc Bộ giao. Điều này đợc thể hiện tập trung
qua một số công việc cụ thể sau:
Góp ý thêm để hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển các lĩnh vực công
nghiệp Trên cơ sở các quy hoạch đã soạn thảo và sẽ đợc thông qua cũng nh cập
nhật các thông tin mới để hoàn chỉnh các quy hoạch.
Tổ chức thẩm định các quy hoạch phát triển Công nghiệp, dầu khí, thép, xi
măng, dệt may, giấy. Tham gia xây dựng các quy hoạch cùng với các ngành nh
quy hoạch ngành thép, quy hoạch ngành đờng ống khí Tây Nam. Điều chỉnh
tiến độ thực hiện các công trình xi măng lớn do ta tự đầu t. Trên cơ sở quy
hoạch và kế hoạch trung hạn xây dựng các cân đối lớn và cần thiết (vốn đầu t,
xuất nhập khẩu, điều kiện sản xuất, ) đề xuất các giải pháp khuyến khích thực
hiện.
Triển khai thực hiện nghiên cứu quy hoạt phát triển điện nông thôn đến
cuối năm 2000 và hoàn chỉnh báo cáo trình Chính phủ.
Tập trung chỉ đạo và cùng các ngành thực hiện các nội dung cho việc xây
dựng một số công trình công nghiệp mới: Nhà máy lọc dầu số 1, nhà máy LPG,
đờng ống dẫn khí, nhà máy thủy điện Sơn La và nhà máy thép, nhà máy xi
măng, liên hợp điện đạm, các nhà máy điện Wartsela, Phú Mỹ 2-2.
Bám sát kế hoạch và điều hành thực hiện có báo cáo tháng, qúy, 6 tháng và
ớc tính cả năm. Chủ trì báo cáo Chính phủ về đầu t cho ngành công nghiệp. Th-
ờng xuyên đi sát tình hình sản xuất kinh doanh, nhất là xi măng, thép, điện,
than, dầu khí, kịp thời kiến nghị để giải quyết khó khăn trong việc thực hiện
kế hoạch cũng nh đảm bảo cung cầu ổn định xã hội.
Một số cơ sở sản xuất nhiều năm thua lỗ hoặc khó khăn về tiêu thụ sản phẩm
hoặc về tài chính nh: Công ty dệt Huế, dệt Hòa Thọ, Tổng công ty, thép, xi
măng, đã đợc tập trung nghiên cứu phối hợp với các vụ trong Bộ và các cơ quan
liên quan để đa ra các kiến nghị đề xuất lãnh đạo Bộ trình Chính phủ giải quyết kịp
thời. Đã cùng với Bộ công nghiệp nghiên cứu tình hình sản xuất của công ty phân
đạm và hóa chất Hà Bắc và kiến nghị Chính phủ các giải pháp nhằm giảm bớt lỗ
trong năm 1999 và hoạt động bình thờng vào năm 2000.
Tham gia phối hợp với các vụ, Viện trong Bộ để thực hiện tốt nhiệm vụ của
Bộ, tham gia về công nghiệp trong các báo cáo của Bộ để phục vụ Hội nghị
Trung ơng Đảng, báo cáo tình hình thực hiện các công trình quan trọng tài các kỳ
12
hợp Quốc hội tháng 4 và tháng 10 hàng năm và báo cáo với Chính phủ theo chỉ
thị của lãnh đạo Bộ với tinh thần trách nhiệm đúng hạn theo yêu cầu.
Phối hợp cùng Bộ công nghiệp tham gia sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà
nớc trên địa bàn địa phơng. Tham gia tổ công tác liên ngành của Chính phủ về
kiến nghị những giải pháp đối với ngành sản xuất thuốc lá; đoàn kiểm tra và đề
nghị đối với các cơ sở sản xuất có vốn đầu t nớc ngoài trong lĩnh vực sản xuất ô
tô, xe máy.
Tổng hợp xây dựng kế hoạch năm 2000 và sau năm 2000 các ngành công
nghiệp: điện, dầu khí, than, luyện kim, cơ khí chế tạo, kỹ thuật điện và điện tử,
hóa chất, phân bón và cao su, xi măng và vật liệu xây dựng, giấy, sành sứ thủy
tinh, dệt may, da giầy, chế biến sữa, dầu thực vật, rợu bia nớc giải khát, thuốc lá
và điều tra cơ bản địa chất.
Tích cực hoạt động trong tổ th ký của ban chỉ đạo chơng trình khí, điện,
đạm; Hoàn thành công việc của tổ th ký của ban chỉ đạo dự án quy hoạch thủy
điện quốc gia. Đã cử ngời tham gia công tác xét thầu của SIDA và NORAD; Tổ
chức họp 6 tháng 1 lần với SIDA về công trình thủy điện sông Hinh.
Tham gia thẩm định các dự án xét thầu thuộc lĩnh vực vụ công nghiệp phụ trách.
Chủ trình phối hợp cùng với các ngành xây dựng chơng trình đa điện về
nông thôn sau năm 2000. Tham gia cùng EVN trong việc chuẩn bị tiếp nhận tài
trợ của WB cho chơng trình đa điện về 590 xã trong năm 2000.
Tích cực tham gia các công việc của Bộ do vụ, viện khác chủ trì theo đúng
tiến độ yêu cầu, ví dụ nh: Cổ phần hóa về thuê bán khoán doanh nghiệp. Dự án
kêu gọi đầu t nớc ngoài, dự thảo luật doanh nghiệp, thơng mại, chiến lợc phát
triển đến năm 2000, chơng trình triển khai hội nhập AFTA
5-/ Mục tiêu phơng hớng phát triển vụ công nghiệp năm 2000
Phối hợp tốt với các Bộ, Tổng công ty sớm triển khai kế hoạch năm 2000
đã giao, thực hiện tốt nhiệm vụ điều hành thực hiện kế hoạch và đề xuất kịp thời
những vớng mắc, kiến nghị cách xử lý.
Tiếp tục rà soát các quy hoạch phát triển các lĩnh vực công nghiệp. Trên cơ
sở các quy hoạch đã đợc soạn thảo và sẽ đợc thông qua cũng nh cập nhật các
thông tin mới để hoàn chỉnh các quy hoạch.
Quy hoạch phát triển công nghiệp ngành than, hóa chất phân bón, dầu khí, xi
măng, dệt may, da giầy, giấy, rợu bia nớc giải khát, sữa dầu thực vật, thuốc lá, cơ
khí và điện tử - tin học, vật liệu xây dựng, công nghiệp khai khoáng,
13
Trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch trung hạn xây dựng các cân đối lớn và
cần thiết (vốn đầu t, xuất nhập khẩu, điều kiện sản xuất, ) đề xuất các giải
pháp khuyến nghị thực hiện.
Tập trung chỉ đạo thực hiện các nội dung cho việc xây dựng một số công
trình công nghiệp mới: Nhà máy lọc dầu, nhà máy LPG, đờng ống dẫn khí, nhà
máy thủy điện Sơn La, nhà máy thép, nhà máy xi măng, liên hợp điện đạm, các
nhà máy điện theo hợp đồng BOT.
Bám sát kế hoạch và triển khai thực hiện, có báo cáo hàng tháng, qúy, 6
tháng và ớc tính cả năm theo yêu cầu của Bộ. Thờng xuyên đi sát tình hình sản
xuất kinh doanh, nhất là xi măng, thép, điện, dầu khí, kịp thời kiến nghị để
giải quyết khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch cũng nh đảm bảo cung cầu
ổn định xã hội.
Tham gia, phối hợp cùng với các vụ, viện trong Bộ thực hiện tốt nhiệm vụ của Bộ.
Xây dựng chơng trình công tác hàng qúy và kiểm tra, kiểm điểm tình hình
thực hiện, kịp thời rút kinh nghiệm để có chất lợng công tác tốt hơn.
Hoàn thành tốt các nhiệm vụ khác khi đợc Bộ giao.
14
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu VIstand chương 5
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Giao dịch T
4
tương ứng với T
2
với tháo chốt bị làm trễ được xác định như sau:
T
4
: Lock-S(A);
Read(A);
Lock-S(B);
Read(B);
Display(A+B);
Unlock(A);
Unlock(B);
figure V- 6
Các lịch trình có thể trên T
3
và T
4
không để cho T
4
hiển thị trạng thái không nhất quán.
Tuy nhiên, sử dụng chốt có thể dẫn đến một tình huống không mong đợi. Ta hãy xét lịch
trình bộ phận schedule-2 trên T
3
và T
4
sau:
T
3
T
4
Lock-X(B)
Read(B)
B:=B-50
Write(B)
Lock-S(A)
Read(A)
Lock-S(B)
Lock-X(A)
Schedule-2
figure V- 7
Do T
3
giữ một chốt phương thức Exclusive trên B, nên yêu cầu một chốt phương thức
shared của T
4
trên B phải chờ đến khi T
3
tháo chốt. Cũng vậy, T
3
yêu cầu một chốt Exclusive trên
A trong khi T
4
đang giữ một chốt shared trên nó và như vậy phải chờ. Ta gặp phải tình huống
trong đó T
3
chờ đợi T
4
đồng thời T
4
chờ đợi T
3
một sự chờ đợi vòng tròn và như vậy không
giao dịch nào có thể tiến triển. Tình huống này được gọi là deadlock (khoá chết). Khi tình huống
khoá chết xảy ra hệ thống buộc phải cuộn lại một trong các giao dịch. Mỗi khi một giao dịch bị
cuộn lại, các hạng mục dữ liệu bị chốt bởi giao dịch phải được tháo chốt và nó trở nên sẵn có cho
giao dịch khác, như vậy các giao dịch này có thể tiếp tục được sự thực hiện của nó.
Nếu ta không sử dụng chốt hoặc tháo chốt hạng mục dữ liệu ngay khi có thể sau đọc hoặc
viết hạng mục, ta có thể rơi vào trạng thái không nhất quán. Mặt khác, nếu ta không tháo chốt một
hạng mục dữ liệu trước khi yêu cầu một chốt trên một hạng mục khác, dealock có thể xảy ra. Có
các phương pháp tránh dealock trong một số tình huống, tuy nhiên nói chung dealock là khó tránh
khi sử dụng chốt nếu ta muốn tránh trạng thái không nhất quán. Dealock được ưa thích hơn trạng
thái không nhất quán vì chúng có thể điều khiển được bằng cách cuộn lại các giao dịch trong khi
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
99
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
đó trạng thái không nhất quán có thể dẫn đến các vấn đề thực tế mà hệ CSDL không thể điều
khiển.
Ta sẽ yêu cầu mỗi giao dịch trong hệ thống tuân theo một tập các quy tắc , được gọi là
giao thức chốt (locking protocol), chỉ định khi một giao dịch có thể chốt và tháo chốt mỗi một
trong các hạng mục dự liệu. Giao thức chốt hạn chế số các lịch trình có thể. Tập các lịch trình như
vậy là một tập con thực sự của tập tất cả các lịch trình khả tuần tự có thể.
Xét { T
0
, T
1
, , T
n
} một tập các giao dịch tham gia vào lịch trình S. Ta nói T
i
đi trước T
j
trong S, và được viết là T
i
→ T
j
, nếu tồn tại một hạng mục dữ liệu Q sao cho T
i
giữ chốt phương
thức A trên Q , T
j
giữ chốt phương thức B trên Q muộn hơn và comp(A,B) = false. Nếu T
i
→ T
j
,
thì T
i
sẽ xuất hiện trước T
j
trong bất kỳ lịch trình tuần tự nào.
Ta nói một lịch trình S là hợp lệ dưới một giao thức chốt nếu S là một lịch trình tuân thủ
các quy tắc của giao thức chốt đó. Ta nói rằng một giao thức chốt đảm bảo tính khả tuần tự xung
đột nếu và chỉ nếu đối với tất cả các lịch trình hợp lệ, quan hệ → kết hợp là phi chu trình.
V.1.2. CẤP CHỐT
Khi một giao dịch yêu cầu một chốt trên một hạng mục dữ liệu ở một phương thức và
không có một giao dịch nào khác giữ một chốt trên cùng hạng mục này ở một phương thức xung
đột, chốt có thể được cấp. Tuy nhiên, phải thận trọng để tránh kịch bản sau: giả sử T
2
giữ một
chốt phương thức shared trên một hạng mục dữ liệu, một giao dịch khác T
1
yêu cầu một chốt
phương thức exclusive cũng trên hạng mục này, rõ ràng T
1
phải chờ T
2
tháo chốt. Trong khi đó
một giao dịch khác T
3
yêu cầu một chốt phương thức shared, do yêu cầu chốt này tương thích với
phương thức chốt được giữ bởi T
1
nên nó được cấp cho T
3
. Tại thời điểm T
2
tháo chốt, T
1
vẫn
phải chờ sự tháo chốt của T
3,
nhưng bây
giờ lại có một giao dịch T
4
yêu cầu một chốt phương thức
shared và nó lại được cấp do tính tương thích và cứ như vậy, có thể T
1
sẽ không bao giờ được cấp
chốt mà nó yêu cầu trên hạng mục dữ liệu. Ta gọi hiện tượng này là bị chết đói (starved).
Để tránh sự chết đói của các giao dịch, việc cấp chốt được tiến hành như sau: Khi một
giao dịch T
i
yêu cầu một chốt trên một hạng mục dữ liệu Q ở phương thức M, chốt sẽ được cấp
nếu các điều kiện sau được thoả mãn:
1. Không có giao dịch khác đang giữ một chốt trên Q ở phương thức xung đột với M
2. Không có một giao dịch nào đang chờ được cấp một chốt trên M và đã đưa ra yêu
cầu về chốt trước T
i
V.1.3. GIAO THỨC CHỐT HAI KỲ (Two-phase locking protocol)
Giao thức chốt hai kỳ là một giao thức đảm bảo tính khả tuần tự. Giao thức này yêu cầu
mỗi một giao dịch phát ra yêu cầu chốt và tháo chốt thành hai kỳ:
1. Kỳ xin chốt (Growing phase). Một giao dịch có thể nhận được các chốt, nhưng có
không thể tháo bất kỳ chốt nào
2. Kỳ tháo chốt (Shrinking phase). Một giao dịch có thể tháo các chốt nhưng không
thể nhận được một chốt mới nào.
Khởi đầu, một giao dịch ở kỳ xin chốt. Giao dịch tậu được nhiều chốt như cần thiết. Mỗi
khi giao dịch tháo một chốt, nó đi vào kỳ tháo chốt và nó không thể phát ra bất kỳ một yêu cầu
chốt nào nữa. Các giao dich T
3
và T
4
là hai kỳ. Các giao dịch T
1
và T
2
không là hai kỳ. Người ta
có thể chứng minh được giao thức chốt hai kỳ đảm bảo tính khả tuần tự xung đột, nhưng không
đảm bảo tránh được dealock và việc cuộn lại hàng loạt. Cuộn lại hàng loạt có thể tránh được bởi
một sự sửa đổi chốt hai kỳ được gọi là giao thức chốt hai kỳ nghiêm ngặt. Chốt hai kỳ nghiêm
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
100
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
ngặt đòi hỏi thêm tất cả các chốt phương thức exclusive phải được giữ đến tận khi giao dịch bàn
giao. Yêu cầu này đảm bảo rằng bất kỳ dữ liệu nào được viết bởi một giao dịch chưa bàn giao bị
chốt trong phương thức exclusive đến tận khi giao dịch bàn giao, điều đó ngăn ngừa bất kỳ giao
dịch khác đọc dữ liệu này.
Một biến thể khác của chốt hai kỳ là giao thức chốt hai kỳ nghiêm khắc. Nó đòi hỏi tất cả
các chốt được giữ đến tận khi giao dịch bàn giao. Hầu hết các hệ CSDL thực hiện chốt hai kỳ
nghiêm ngặt hoặc nghiêm khắc.
Một sự tinh chế giao thức chốt hai kỳ cơ sở dựa trên việc cho phép chuyển đổi chốt: nâng
cấp một chốt shared sang exclusive và hạ cấp một chốt exclusive thành chốt shared. Chuyển đổi
chốt không thể cho phép một cách tuỳ tiện, nâng cấp chỉ được phép diễn ra trong kỳ xin chốt, còn
hạ cấp chỉ được diễn ra trong kỳ tháo chốt. Một giao dịch thử nâng cấp một chốt trên một hạng
mục dữ liệu Q có thể phải chờ. Giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt cho phép chỉ sinh ra các
lịch trình khả tuần tự xung đột. Nếu các chốt exclusive được giữ đến tận khi bàn giao, các lịch
trình sẽ là cascadeless.
Ta xét một ví dụ: Các giao dịch T
8
và T
9
được nêu trong ví dụ chỉ được trình bày bởi các
hoạt động ý nghĩa là Read và Write.
T
8
: Read(A
1
);
Read(A
2
);
Read(A
n
);
Write(A
1
).
T
9
: Read(A
1
);
Read(A
2
);
Display(A
1
+ A
2
).
figure V- 8
Nếu ta sử dụng giao thức chốt hai kỳ, khi đó T
8
phải chốt A
1
ở phương thức exclusive. Bởi
vậy, sự thực hiện cạnh tranh của hai giao dịch rút cuộc trở thành thực hiện tuần tự. Ta thấy rằng
T
8
cần một chốt exclusive trên A
1
chỉ ở cuối sự thực hiện của nó, khi nó write(A
1
). Như vậy, T
8
có thể khởi động chốt A
1
ở phương thức shared, và đổi chốt này sang phương thức exclusive sau
này. Như vậy ta có thể nhận được tính cạnh tranh cao hơn, vì như vậy T
8
và T
9
có thể truy xuất
đến A
1
và A
2
đồng thời.
Ta biểu thị sự chuyển đổi từ phương thức shared sang phương thức exclusive bởi upgrade
và từ phương thức exclusive sang phương thức shared bởi downgrade. Upgrade chỉ được phép
xảy ra trong kỳ xin chốt và downgrade chỉ được phép xảy ra trong kỳ tháo chốt. Lịch trình chưa
hoàn tất dưới đây cho ta một minh hoạ về giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt.
Chú ý rằng một giao dịch thử cập nhật một chốt trên một hạng mục dữ liệu Q có thể buộc
phải chờ. Việc chờ bắt buộc này xảy ra khi Q đang bị chốt bởi giao dịch khác ở phương thức
shared.
Giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt chỉ sinh ra các lịch trình khả tuần tự xung đột,
các giao dịch có thể được tuần tự hoá bởi các điểm chốt của chúng. Hơn nữa, nếu các chốt
exclusive được giữ đến tận khi kết thúc giao dịch, lịch trình sẽ là cascadeless.
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
101
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
T
8
T
9
Lock-S(A
1
)
Lock-S(A
2
)
Lock-S(A
2
)
Lock-S(A
2
)
Lock-S(A
3
)
…
Unlock(A
1
)
Unlock(A
2
)
UpGrade(A
1
)
figure V- 9
Ta mô tả một sơ đồ đơn giản nhưng dược sử dụng rộng rãi để sinh tự động các chỉ thị chốt
và tháo chốt thích hợp cho một giao dịch: Mỗi khi giao dich T xuất ra một chỉ thị Read(Q), hệ
thống sẽ xuất ra một chỉ thị Lock-S(Q) ngay trước chỉ thị Read(Q). Mỗi khi giao dịch T xuất ra
một hoạt động Write(Q), hệ thống sẽ kiểm tra xem T đã giữ một chốt shared nào trên Q hay
chưa, nếu đã, nó xuất ra một chỉ thị Upgrade(Q) ngay trước chỉ thị Write(Q), nếu chưa, nó
xuất ra chỉ thị Lock-X(Q) ngay trước Write(Q). Tất cả các chốt giao dịch nhận được sẽ được
tháo chốt sau khi giao dịch bàn giao hay bỏ dở.
V.1.4. GIAO THỨC DỰA TRÊN ĐỒ THỊ (Graph-Based Protocol)
Ta đã biết, trong trường hợp thiếu vắng các thông tin liên quan đến cách thức các hạng
mục dữ liệu được truy xuất, giao thức chốt hai kỳ là cần và đủ để đảm bảo tính khả tuần tự. Nếu ta
muốn phát triển các giao thức không là hai kỳ, ta cần các thông tin bổ xung trên cách thức mỗi
giao dịch truy xuất CSDL. Có nhiều mô hình khác nhau về lượng thông tin được cung cấp. Mô
hình đơn giản nhất đòi hỏi ta phải biết trước thứ tự trong đó các hạng mục dữ liệu sẽ được truy
xuất. Với các thông tin như vậy, có thể xây dựng các giao thức chốt không là hai kỳ nhưng vẫn
đảm bảo tính khả tuần tự xung đột.
Để có được hiểu biết trước như vậy, ta áp đặt một thứ tự bộ phận, ký hiệu →, trên tập tất
cả các hạng mục dữ liệu D ={ d
1
, d
2
, , d
n
}. Nếu d
i
→ d
j
, bất kỳ giao dịch nào truy xuất cả d
i
và
d
j
phải truy xuất d
i
trước khi truy xuất d
j
. Thứ tự bộ phận này cho phép xem D như một đồ thị
định hướng phi chu trình, được gọi là đồ thị CSDL (DataBase Graph). Trong phần này, để đơn
giản, ta hạn chế chỉ xét các đồ thị là các cây và ta sẽ đưa ra một giao thức đơn giản, được gọi là
giao thức cây (tree protocol), giao thức này hạn chế chỉ dùng các chốt exclusive.
Trong giao thức cây, chỉ cho phép chỉ thị chốt Lock-X, mỗi giao dịch T có thể chốt một
hạng mục dữ liệu nhiều nhất một lần và phải tuân theo các quy tắc sau:
1. Chốt đầu tiên bởi T có thể trên bất kỳ hạng mục dữ liệu nào
2. Sau đó, một hạng mục dữ liệu Q có thể bị chốt bởi T chỉ nếu cha của Q hiện đang
bị chốt bởi T
3. Các hạng mục dữ liệu có thể được tháo chốt bất kỳ lúc nào
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
102
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
4. Một hạng mục dữ liệu đã bị chốt và được tháo chốt bởi T, không thể bị T chốt lại
lần nữa.
Các lịch trình hợp lệ trong giao thức cây là khả tuần tự xung đột.
Ví dụ: Cây CSDL là:
A
B C
F
D E
G H I
J
figure V- 10
Chỉ các chỉ thị chốt và tháo chốt của các giao dịch được trình bày:
T
10
: Lock-X(B); Lock-X(E); Lock-X(D); Unlock(B); Unlock(E); Lock-X(G);
Unlock(D); Unlock(G).
T
11
: Lock-X(D); Lock-X(H); Unlock(D); Unlock(H).
T
12
: Lock-X(B); Lock-X(E); Unlock(B); Unlock(E).
T
13
: Lock-X(D); Lock-X(H); Unlock(D); Unlock(H).
figure V- 11
Một lịch trình tuân theo giao thức cây chứa tất cả bốn giao dịch trên được cho trong hình
bên dưới. Ta nhận thấy, các lịch trình tuân thủ giao thức cây không chỉ là khả tuần tự xung đột mà
còn đảm bảo không có dealock. Giao thức cây có mặt thuận lợi so với giao thức hai kỳ là tháo
chốt có thể xảy ra sớm hơn. Việc tháo chốt sớm có thể dẫn đến rút ngắn thời gian chờ đợi và tăng
tính cạnh tranh. Hơn nữa, do giao thức là không dealock, nên không có cuộn lại. Tuy nhiên giao
thức cây có điểm bất lợi là, trong một vài trường hợp, một giao dịch có thể phải chốt những hạng
mục dữ liệu mà nó không truy xuất. Chẳng hạn, một giao dịch cần truy xuất các hạng mục dữ liệu
A và J trong đồ thị CSDL trên, phải chốt không chỉ A và J mà phải chốt cả các hạng mục B, D, H.
Việc chốt bổ xung này có thể gây ra việc tăng tổng phí chốt, tăng thời gian chờ đợi và giảm tính
cạnh tranh. Hơn nữa, nếu không biết trước các hạng mục dữ liệu nào sẽ cần thiết phải chốt, các
giao dịch sẽ phải chốt gốc của cây mà điều này làm giảm mạnh tính cạnh tranh.
Đối với một tập các giao dịch, có thể có các lịch trình khả tuần tự xung đột không thể nhận
được từ việc tuân theo giao thức cây. Có các lịch trình được sinh ra bởi tuân theo giao thức chốt
hai kỳ nhưng không thể được sinh ra bởi tuân theo giao thức cây và ngược lại.
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
103
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
T
10
T
11
T
12
T
13
Lock-X(B)
Lock-X(D)
Lock-X(H)
Unlock(D)
Lock-X(E)
Lock-X(D)
Unlock(B)
Unlock(E)
Lock-X(B)
Lock-X(E)
Unlock(H)
Lock-X(G)
Unlock(D)
Lock-X(D)
Lock-X(H)
Unlock(D)
Unlock(H)
Unlock(E)
Unlock(B)
Unlock(G)
Lịch trình khả tuần tự dưới giao thức cây
figure V- 12
V.1.5. ĐA HẠT (Multiple Granularity)
Trong các sơ đồ điều khiển cạnh tranh được mô tả trước đây, ta đã sử dụng hạng mục dữ
liệu như đơn vị trên nó sự đồng bộ hoá được thực hiện. Tuy nhiên, có các hoàn cảnh trong đó việc
nhóm một vài hạng mục dữ liệu và xử lý chúng như một đơn vị đồng bộ hoá mang lại nhiều lợi
ích. Nừu một giao dich T
i
phải truy xuất toàn bộ CSDL và giao thức chốt được sử dụng, khi đó T
i
phải chốt mỗi hạng mục dữ liệu trong CSDL. Như vậy việc thực hiện các chốt này sẽ tiêu tốn một
thời gian đáng kể. Sẽ hiệu quả hơn nếu T
i
chỉ cần một yêu cầu chốt để chốt toàn bộ CSDL. Mặt
khác, nếu T
i
cần truy xuất chỉ một vài hạng mục dữ liệu, nó không cần thiết phải chốt toàn bộ
CSDL vì như vậy sẽ giảm tính cạnh tranh. Như vậy, cái mà ta cần là một cơ chế cho phép hệ
thống xác định nhiều mức hạt. Một cơ chế như vậy là cho phép các hạng mục dữ liệu có kích cỡ
khác nhau và xác định một sự phân cấp các hạt dữ liệu, trong đó các hạt nhỏ được ẩn náu bên
trong các hạt lớn. Sự phân cấp như vậy có thể được biểu diễn đồ thị như một cây. Một nút không
là lá của cây đa hạt biểu diễn dữ liệu được kết hợp với con cháu của nó. Như một ví dụ minh hoạ,
ta xét cây sau:
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
104
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
DB
A
1
A
2
F
a
F
b
F
c
F
d
R
a1
R
a2
R
an
R
b1
R
bk
R
c1
R
c2
R
cm
R
d1
… R
dq
Phân cấp hạt
figure V- 13
Nó gồm bốn mức nút. Mức cao nhất là toàn bộ CSDL. Thấp hơn là các nút kiểu vùng:
CSDL bao gồm các vùng này. Mỗi vùng lại có các nút kiểu file như các con của nó, mỗi vùng
chứa đúng các file này và không file nào nằm trong nhiều hơn một vùng. Cuối cùng, mỗi file có
các nút con kiểu mẩu tin, không mẩu tin nào hiện diện trong hơn một file.
Mỗi nút trong cây có thể được chốt một các cá nhân. Như đã làm trong giao thức chốt hai
kỳ, ta sẽ sử dụng các phương thức chốt shared và exclusive . Khi một giao dịch chốt một nút,
trong phương thức shared hoặc exclusive, giao dịch cũng chốt tất cả các nút con cháu của nút này
ở cùng phương thức. Ví dụ T
i
chốt tường minh file F
b
ở phương thức exclusive, nó đã chốt ẩn tất
cả các mẩu tin của F
b
cũng trong phương thức exclusive.
Giả sử giao dịch T
j
muốn chốt mẩu tin R
b6
của file F
b
. vì giao địch T
i
đã chốt tường minh
file F
b
, mẩu tin R
b6
cũng bị chốt ẩn. Song làm thế nào để hệ thống biết được T
j
có thể chốt R
b6
hay
không: T
j
phải duyệt cây từ gốc đến mẩu tin R
b6
, nếu có một nút bất kỳ tren đường dẫn bị chốt ở
phương thức không tương thích, T
j
phải chờ. Bây giờ, nếu T
k
muốn chốt toàn bộ CSDL, nó phải
chốt nút gốc. Tuy nhiên, do T
i
hiện đang giữ một chốt trên F
b
, một bộ phận của cây, nên T
k
sẽ
không thành công. Vậy làm thế nào để hệ có thể chốt được nút gốc: Một khả năng là tìm kiếm
trên toàn bộ cây, giải pháp này phá huỷ hoàn toàn sơ đồ mục đích của sơ đồ chốt đa hạt. Một giải
pháp hiệu quả hơn là đưa vào một lớp mới các phương thức chốt, được gọi là phương thức chốt
tăng cường (intension lock mode). Nếu một nút bị chốt ở phương thức tăng cường, chốt tường
minh được tiến hành ở mức thấp hơn của cây (hạt min hơn). Chốt tăng cường được được đặt trên
tất cả các tổ tiên của một nút trước khi nút đó được chốt tường minh. Như vậy một giao dịch
không cần thiết phải tìm kiếm toàn bộ cây để xác định nó có thể chốt một nút thành công hay
không. Một giao dịch muốn chốt một nút, chẳng hạn Q, phải duyệt một đường dẫn từ gốc đến Q,
trong khi duyệt cây, giao dịch chốt các nút trên đường đi ở phương thức tăng cường.
Có một phương thức tăng cường kết hợp với phương thức shared và một với phương thức
exclusive. Nếu một nút bị chốt ở phương thức tăng cường shared (IS), chốt tường minh được tiến
hành ở mức thấp hơn trong cây, nhưng chỉ là một các chốt phương thức shared. Tương tự, nếu
một nút bị chốt ở phương thức tăng cường exclusive (IX), chốt tường minh được tiến hành ở mức
thấp hơn với các chốt exclusive hoặc shared. Nếu một nút bị chốt ở phương thức shared và
phương thức tăng cường exclusive (SIX), cây con có gốc là nút này bị chốt tường minh ở phương
thức shared và chốt tường minh được tiến hành ở mức thấp hơn với các chốt exclusive. Hàm tính
tương thích đối với các phương thức chốt này được cho bởi ma trận:
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
105
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
IS IX S SIX X
IS True True True True False
IX True True False False False
S True False True False False
SIX True False False False False
X False False False False False
figure V- 14
Giao thức chốt đa hạt dưới đây đảm bảo tính khả tuần tự. Mỗi giao địch T có thể chốt một
nút Q theo các quy tắc sau:
1. Hàm tương thích chốt phải được kiểm chứng
2. Gốc của cây phải được chốt đầu tiên, và có thể được chốt ở bất kỳ phương thức nào
3. Một nút Q có thể được chốt bởi T ở phương thức S hoặc IS chỉ nếu cha của Q hiện
đang bị chốt bởi T ở hoặc phương thức IX hoặc phương thức IS.
4. Một nút Q có thể được chốt bởi T ở phương thức X, SIX hoặc IX chỉ nếu cha của Q
hiện đang bị chốt ở hoặc phương thức IX hoặc phương thức SIX
5. T có thể chốt một nút chỉ nếu trước đó nó chưa tháo chốt một nút nào.
6. T có thể tháo chốt một nút Q chỉ nếu không con nào của Q hiện đang bị chốt bởi T
Ta thấy rằng giao thức đa hạt yêu cầu các chốt được tậu theo thứ tự Top-Down, được
tháo theo thứ tự Bottom-Up.
Ví dụ: Xét cây phân cấp hạt như trên và các giao dịch sau:
○ Giả sử giao dịch T
18
đọc mẩu tin R
a2
của file F
a
. Khi đó T
18
cần phải chốt DB, vùng A
1
và F
a
ở phương thức IS và R
a2
ở phương thức S: Lock-IS(DB); Lock-IS(A
1
);
Lock-IS(F
a
); lock-S(R
a2
)
○ Giả sử giao dịch T
19
sửa đổi mẩu tin R
a9
trong file F
a
, khi đó T
19
cần phải chốt CSDL,
vùng A
1
và file F
a
ở phương thức IX và R
a9
ở phương thức X: Lock-IX(DB);
Lock-IX(A
1
); lock-IX(F
a
); lock-X(R
a9
)
○ Giả sử giao dịch T
20
đọc tất cả các mẩu tin của file F
a
, khi đó T
20
cần phải chốt CSDL,
và vùng A
1
ở phương thức IS và chốt F
a
ở phương thức S: Lock-IS(DB); Lock-
IS(A
1
); Lock-S(F
a
)
○ Giả sử giao dịch T
21
đọc toàn bộ CSDL, nó có thể làm điều đó sau khi chốt CSDL ở
phương thức S: Lock-S(DB)
Chú ý rằng T
18
, T
20
và T
21
có thể truy xuất đồng thời CSDL, giao dịch T
19
có thể thực hiện
cạnh tranh với T
18
nhưng không với T
20
hoặc T
21
V.2. GIAO THỨC DỰA TRÊN TEM THỜI GIAN (Timestamp-
based protocol)
V.2.1. TEM THỜI GIAN (Timestamp)
Ta kết hợp với mỗi giao dịch T
i
trong hệ thống một tem thời gian cố định duy nhất, được
biểu thị bởi TS(T
i
). Tem thời gian này được gán bởi hệ CSDL trước khi giao dịch T
i
bắt đầu thực
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
106
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
hiện. Nếu một giao dịch T
i
đã được gán tem thời gian TS(T
i
) và một giao dịch mới T
j
đi vào hệ
thống, khi đó TS(T
i
) < TS(T
j
). Có hai phương pháp đơn giản để thực hiện sơ đồ này:
1. Sử dụng giá trị của đồng hồ hệ thống như tem thời gian: Một tem thời gian của một
giao dịch bằng giá trị của đồng hồ khi giao dịch đi vào hệ thống.
2. Sử dụng bộ đếm logic: bộ đếm được tăng lên mỗi khi một tem thời gian đã được
gán, tem thời gian của một giao dịch bằng với giá trị của bộ đếm khi giao dich đi
vào hệ thống.
Tem thời gian của các giao dịch xác định thứ tự khả tuần tự. Như vậy, nếu TS(T
i
) < TS(T
j
),
hệ thống phải đảm bảo rằng lịch trình được sinh ra là tương đương với một lịch trình tuần tự
trong đó T
i
xuất hiện trước T
j
.
Để thực hiện sơ đồ này, ta kết hợp với mỗi hạng mục dữ liệu Q hai giá trị tem thời gian:
• W-timestamp(Q) biểu thị tem thời gian lớn nhất của giao dịch bất kỳ đã thực hiện
Write(Q) thành công
• R-timestamp(Q) biểu thị tem thời gian lớn nhất của giao dịch bất kỳ đã thực hiện
Read(Q) thành công
Các tem thời gian này được cập nhật mỗi khi một Write hoặc một Read mới được thực
hiện.
V.2.2. GIAO THỨC THỨ TỰ TEM THỜI GIAN (Timestamp-Ordering
Protocol)
Giao thức thứ tự tem thời gian đảm bảo rằng các Write và Read xung đột bất kỳ được
thực hiện theo thứ tự tem thời gian. Giao thức này hoạt động như sau:
1. Giả sử giao dịch T
i
phát ra Read(Q).
a. Nếu TS(T
i
) < W-Timestamp(Q), T
i
cần đọc một giá trị của Q đã được viết
rồi. Do đó, hoạt động Read bị vứt bỏ và T
i
bị cuộn lại.
b. Nếu TS(T
i
) ≥ W-Timestamp(Q), hoạt động Read được thực hiện và
R-Timestamp được đặt bằng giá trị lớn nhất trong hai giá trị R-Timestamp
và TS(T
i
).
2. Giả sử giao dịch T
i
phát ra Write(Q).
a. Nếu TS(T
i
) < R-Timestamp(Q), Giá trị của Q mà T
i
đang sinh ra được giả
thiết là để được dùng cho các giao dịch đi sau nó (theo trình tự thời gian),
nhưng nay không cần đến nũa. Do vậy, hoạt động Write này bị vứt bỏ và
T
i
bị cuộn lại
b. Nếu TS(T
i
) < W-Timestamp(Q), T
i
đang thử viết một giá trị đã quá hạn
của Q, Từ đó, hoạt động Write bị vứt bỏ và T
i
bị cuộn lại
c. Ngoài ra, hoạt động Write được thực hiện và W-Timestamp(Q) được đặt là
TS(T
i
)
Một giao dịch T
i
bị cuộn lại bởi sơ đồ điều khiển cạnh tranh như kết quả của hoạt động
Read hoặc Write đang được phát ra, được gán với một tem thời gian mới và được tái khởi động
lại (được xem như một giao dịch mới tham gia vào hệ thống)
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
107
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Ta xét các giao dịch T
14
và T
15
được xác định như dưới đây:
T
14
: Read(B);
Read(A);
Display(A+B);.
T
15
: Read(B);
B:=B-50;
Write(B);
Read(A);
A:=A+50;
Write(A);
Display(A+B).
figure V- 15
Ta giả thiết rằng một giao dịch được gán cho một tem thời gian ngay trước chỉ thị đầu tiên
của nó. Như vậy, lịch trình schedule-3 dưới đây có TS(T
14
) < TS(T
15
), và là một lịch trình hợp
lệ dưới giao thức tem thời gian:
T
14
T
15
Read(B)
Read(B)
B:=B-50
Write(B)
Read(A)
Read(A)
Display(A+B)
A:=A+50
Write(A)
Display(A+B)
Schedule-3
figure V- 16
Giao thức thứ tự tem thời gian đảm bảo tính khả tuần tự xung đột và không dealock.
V.2.3. QUY TẮC VIẾT THOMAS (Thomas' Write rule)
Một biến thể của giao thức tem thời gian cho phép tính cạnh tranh cao hơn giao thức thứ
tự tem thời gian. Trước hết ta xét lịch trình schedule-4 sau:
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
108
Giao dịch T
4
tương ứng với T
2
với tháo chốt bị làm trễ được xác định như sau:
T
4
: Lock-S(A);
Read(A);
Lock-S(B);
Read(B);
Display(A+B);
Unlock(A);
Unlock(B);
figure V- 6
Các lịch trình có thể trên T
3
và T
4
không để cho T
4
hiển thị trạng thái không nhất quán.
Tuy nhiên, sử dụng chốt có thể dẫn đến một tình huống không mong đợi. Ta hãy xét lịch
trình bộ phận schedule-2 trên T
3
và T
4
sau:
T
3
T
4
Lock-X(B)
Read(B)
B:=B-50
Write(B)
Lock-S(A)
Read(A)
Lock-S(B)
Lock-X(A)
Schedule-2
figure V- 7
Do T
3
giữ một chốt phương thức Exclusive trên B, nên yêu cầu một chốt phương thức
shared của T
4
trên B phải chờ đến khi T
3
tháo chốt. Cũng vậy, T
3
yêu cầu một chốt Exclusive trên
A trong khi T
4
đang giữ một chốt shared trên nó và như vậy phải chờ. Ta gặp phải tình huống
trong đó T
3
chờ đợi T
4
đồng thời T
4
chờ đợi T
3
một sự chờ đợi vòng tròn và như vậy không
giao dịch nào có thể tiến triển. Tình huống này được gọi là deadlock (khoá chết). Khi tình huống
khoá chết xảy ra hệ thống buộc phải cuộn lại một trong các giao dịch. Mỗi khi một giao dịch bị
cuộn lại, các hạng mục dữ liệu bị chốt bởi giao dịch phải được tháo chốt và nó trở nên sẵn có cho
giao dịch khác, như vậy các giao dịch này có thể tiếp tục được sự thực hiện của nó.
Nếu ta không sử dụng chốt hoặc tháo chốt hạng mục dữ liệu ngay khi có thể sau đọc hoặc
viết hạng mục, ta có thể rơi vào trạng thái không nhất quán. Mặt khác, nếu ta không tháo chốt một
hạng mục dữ liệu trước khi yêu cầu một chốt trên một hạng mục khác, dealock có thể xảy ra. Có
các phương pháp tránh dealock trong một số tình huống, tuy nhiên nói chung dealock là khó tránh
khi sử dụng chốt nếu ta muốn tránh trạng thái không nhất quán. Dealock được ưa thích hơn trạng
thái không nhất quán vì chúng có thể điều khiển được bằng cách cuộn lại các giao dịch trong khi
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
99
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
đó trạng thái không nhất quán có thể dẫn đến các vấn đề thực tế mà hệ CSDL không thể điều
khiển.
Ta sẽ yêu cầu mỗi giao dịch trong hệ thống tuân theo một tập các quy tắc , được gọi là
giao thức chốt (locking protocol), chỉ định khi một giao dịch có thể chốt và tháo chốt mỗi một
trong các hạng mục dự liệu. Giao thức chốt hạn chế số các lịch trình có thể. Tập các lịch trình như
vậy là một tập con thực sự của tập tất cả các lịch trình khả tuần tự có thể.
Xét { T
0
, T
1
, , T
n
} một tập các giao dịch tham gia vào lịch trình S. Ta nói T
i
đi trước T
j
trong S, và được viết là T
i
→ T
j
, nếu tồn tại một hạng mục dữ liệu Q sao cho T
i
giữ chốt phương
thức A trên Q , T
j
giữ chốt phương thức B trên Q muộn hơn và comp(A,B) = false. Nếu T
i
→ T
j
,
thì T
i
sẽ xuất hiện trước T
j
trong bất kỳ lịch trình tuần tự nào.
Ta nói một lịch trình S là hợp lệ dưới một giao thức chốt nếu S là một lịch trình tuân thủ
các quy tắc của giao thức chốt đó. Ta nói rằng một giao thức chốt đảm bảo tính khả tuần tự xung
đột nếu và chỉ nếu đối với tất cả các lịch trình hợp lệ, quan hệ → kết hợp là phi chu trình.
V.1.2. CẤP CHỐT
Khi một giao dịch yêu cầu một chốt trên một hạng mục dữ liệu ở một phương thức và
không có một giao dịch nào khác giữ một chốt trên cùng hạng mục này ở một phương thức xung
đột, chốt có thể được cấp. Tuy nhiên, phải thận trọng để tránh kịch bản sau: giả sử T
2
giữ một
chốt phương thức shared trên một hạng mục dữ liệu, một giao dịch khác T
1
yêu cầu một chốt
phương thức exclusive cũng trên hạng mục này, rõ ràng T
1
phải chờ T
2
tháo chốt. Trong khi đó
một giao dịch khác T
3
yêu cầu một chốt phương thức shared, do yêu cầu chốt này tương thích với
phương thức chốt được giữ bởi T
1
nên nó được cấp cho T
3
. Tại thời điểm T
2
tháo chốt, T
1
vẫn
phải chờ sự tháo chốt của T
3,
nhưng bây
giờ lại có một giao dịch T
4
yêu cầu một chốt phương thức
shared và nó lại được cấp do tính tương thích và cứ như vậy, có thể T
1
sẽ không bao giờ được cấp
chốt mà nó yêu cầu trên hạng mục dữ liệu. Ta gọi hiện tượng này là bị chết đói (starved).
Để tránh sự chết đói của các giao dịch, việc cấp chốt được tiến hành như sau: Khi một
giao dịch T
i
yêu cầu một chốt trên một hạng mục dữ liệu Q ở phương thức M, chốt sẽ được cấp
nếu các điều kiện sau được thoả mãn:
1. Không có giao dịch khác đang giữ một chốt trên Q ở phương thức xung đột với M
2. Không có một giao dịch nào đang chờ được cấp một chốt trên M và đã đưa ra yêu
cầu về chốt trước T
i
V.1.3. GIAO THỨC CHỐT HAI KỲ (Two-phase locking protocol)
Giao thức chốt hai kỳ là một giao thức đảm bảo tính khả tuần tự. Giao thức này yêu cầu
mỗi một giao dịch phát ra yêu cầu chốt và tháo chốt thành hai kỳ:
1. Kỳ xin chốt (Growing phase). Một giao dịch có thể nhận được các chốt, nhưng có
không thể tháo bất kỳ chốt nào
2. Kỳ tháo chốt (Shrinking phase). Một giao dịch có thể tháo các chốt nhưng không
thể nhận được một chốt mới nào.
Khởi đầu, một giao dịch ở kỳ xin chốt. Giao dịch tậu được nhiều chốt như cần thiết. Mỗi
khi giao dịch tháo một chốt, nó đi vào kỳ tháo chốt và nó không thể phát ra bất kỳ một yêu cầu
chốt nào nữa. Các giao dich T
3
và T
4
là hai kỳ. Các giao dịch T
1
và T
2
không là hai kỳ. Người ta
có thể chứng minh được giao thức chốt hai kỳ đảm bảo tính khả tuần tự xung đột, nhưng không
đảm bảo tránh được dealock và việc cuộn lại hàng loạt. Cuộn lại hàng loạt có thể tránh được bởi
một sự sửa đổi chốt hai kỳ được gọi là giao thức chốt hai kỳ nghiêm ngặt. Chốt hai kỳ nghiêm
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
100
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
ngặt đòi hỏi thêm tất cả các chốt phương thức exclusive phải được giữ đến tận khi giao dịch bàn
giao. Yêu cầu này đảm bảo rằng bất kỳ dữ liệu nào được viết bởi một giao dịch chưa bàn giao bị
chốt trong phương thức exclusive đến tận khi giao dịch bàn giao, điều đó ngăn ngừa bất kỳ giao
dịch khác đọc dữ liệu này.
Một biến thể khác của chốt hai kỳ là giao thức chốt hai kỳ nghiêm khắc. Nó đòi hỏi tất cả
các chốt được giữ đến tận khi giao dịch bàn giao. Hầu hết các hệ CSDL thực hiện chốt hai kỳ
nghiêm ngặt hoặc nghiêm khắc.
Một sự tinh chế giao thức chốt hai kỳ cơ sở dựa trên việc cho phép chuyển đổi chốt: nâng
cấp một chốt shared sang exclusive và hạ cấp một chốt exclusive thành chốt shared. Chuyển đổi
chốt không thể cho phép một cách tuỳ tiện, nâng cấp chỉ được phép diễn ra trong kỳ xin chốt, còn
hạ cấp chỉ được diễn ra trong kỳ tháo chốt. Một giao dịch thử nâng cấp một chốt trên một hạng
mục dữ liệu Q có thể phải chờ. Giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt cho phép chỉ sinh ra các
lịch trình khả tuần tự xung đột. Nếu các chốt exclusive được giữ đến tận khi bàn giao, các lịch
trình sẽ là cascadeless.
Ta xét một ví dụ: Các giao dịch T
8
và T
9
được nêu trong ví dụ chỉ được trình bày bởi các
hoạt động ý nghĩa là Read và Write.
T
8
: Read(A
1
);
Read(A
2
);
Read(A
n
);
Write(A
1
).
T
9
: Read(A
1
);
Read(A
2
);
Display(A
1
+ A
2
).
figure V- 8
Nếu ta sử dụng giao thức chốt hai kỳ, khi đó T
8
phải chốt A
1
ở phương thức exclusive. Bởi
vậy, sự thực hiện cạnh tranh của hai giao dịch rút cuộc trở thành thực hiện tuần tự. Ta thấy rằng
T
8
cần một chốt exclusive trên A
1
chỉ ở cuối sự thực hiện của nó, khi nó write(A
1
). Như vậy, T
8
có thể khởi động chốt A
1
ở phương thức shared, và đổi chốt này sang phương thức exclusive sau
này. Như vậy ta có thể nhận được tính cạnh tranh cao hơn, vì như vậy T
8
và T
9
có thể truy xuất
đến A
1
và A
2
đồng thời.
Ta biểu thị sự chuyển đổi từ phương thức shared sang phương thức exclusive bởi upgrade
và từ phương thức exclusive sang phương thức shared bởi downgrade. Upgrade chỉ được phép
xảy ra trong kỳ xin chốt và downgrade chỉ được phép xảy ra trong kỳ tháo chốt. Lịch trình chưa
hoàn tất dưới đây cho ta một minh hoạ về giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt.
Chú ý rằng một giao dịch thử cập nhật một chốt trên một hạng mục dữ liệu Q có thể buộc
phải chờ. Việc chờ bắt buộc này xảy ra khi Q đang bị chốt bởi giao dịch khác ở phương thức
shared.
Giao thức chốt hai kỳ với chuyển đổi chốt chỉ sinh ra các lịch trình khả tuần tự xung đột,
các giao dịch có thể được tuần tự hoá bởi các điểm chốt của chúng. Hơn nữa, nếu các chốt
exclusive được giữ đến tận khi kết thúc giao dịch, lịch trình sẽ là cascadeless.
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
101
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
T
8
T
9
Lock-S(A
1
)
Lock-S(A
2
)
Lock-S(A
2
)
Lock-S(A
2
)
Lock-S(A
3
)
…
Unlock(A
1
)
Unlock(A
2
)
UpGrade(A
1
)
figure V- 9
Ta mô tả một sơ đồ đơn giản nhưng dược sử dụng rộng rãi để sinh tự động các chỉ thị chốt
và tháo chốt thích hợp cho một giao dịch: Mỗi khi giao dich T xuất ra một chỉ thị Read(Q), hệ
thống sẽ xuất ra một chỉ thị Lock-S(Q) ngay trước chỉ thị Read(Q). Mỗi khi giao dịch T xuất ra
một hoạt động Write(Q), hệ thống sẽ kiểm tra xem T đã giữ một chốt shared nào trên Q hay
chưa, nếu đã, nó xuất ra một chỉ thị Upgrade(Q) ngay trước chỉ thị Write(Q), nếu chưa, nó
xuất ra chỉ thị Lock-X(Q) ngay trước Write(Q). Tất cả các chốt giao dịch nhận được sẽ được
tháo chốt sau khi giao dịch bàn giao hay bỏ dở.
V.1.4. GIAO THỨC DỰA TRÊN ĐỒ THỊ (Graph-Based Protocol)
Ta đã biết, trong trường hợp thiếu vắng các thông tin liên quan đến cách thức các hạng
mục dữ liệu được truy xuất, giao thức chốt hai kỳ là cần và đủ để đảm bảo tính khả tuần tự. Nếu ta
muốn phát triển các giao thức không là hai kỳ, ta cần các thông tin bổ xung trên cách thức mỗi
giao dịch truy xuất CSDL. Có nhiều mô hình khác nhau về lượng thông tin được cung cấp. Mô
hình đơn giản nhất đòi hỏi ta phải biết trước thứ tự trong đó các hạng mục dữ liệu sẽ được truy
xuất. Với các thông tin như vậy, có thể xây dựng các giao thức chốt không là hai kỳ nhưng vẫn
đảm bảo tính khả tuần tự xung đột.
Để có được hiểu biết trước như vậy, ta áp đặt một thứ tự bộ phận, ký hiệu →, trên tập tất
cả các hạng mục dữ liệu D ={ d
1
, d
2
, , d
n
}. Nếu d
i
→ d
j
, bất kỳ giao dịch nào truy xuất cả d
i
và
d
j
phải truy xuất d
i
trước khi truy xuất d
j
. Thứ tự bộ phận này cho phép xem D như một đồ thị
định hướng phi chu trình, được gọi là đồ thị CSDL (DataBase Graph). Trong phần này, để đơn
giản, ta hạn chế chỉ xét các đồ thị là các cây và ta sẽ đưa ra một giao thức đơn giản, được gọi là
giao thức cây (tree protocol), giao thức này hạn chế chỉ dùng các chốt exclusive.
Trong giao thức cây, chỉ cho phép chỉ thị chốt Lock-X, mỗi giao dịch T có thể chốt một
hạng mục dữ liệu nhiều nhất một lần và phải tuân theo các quy tắc sau:
1. Chốt đầu tiên bởi T có thể trên bất kỳ hạng mục dữ liệu nào
2. Sau đó, một hạng mục dữ liệu Q có thể bị chốt bởi T chỉ nếu cha của Q hiện đang
bị chốt bởi T
3. Các hạng mục dữ liệu có thể được tháo chốt bất kỳ lúc nào
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
102
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
4. Một hạng mục dữ liệu đã bị chốt và được tháo chốt bởi T, không thể bị T chốt lại
lần nữa.
Các lịch trình hợp lệ trong giao thức cây là khả tuần tự xung đột.
Ví dụ: Cây CSDL là:
A
B C
F
D E
G H I
J
figure V- 10
Chỉ các chỉ thị chốt và tháo chốt của các giao dịch được trình bày:
T
10
: Lock-X(B); Lock-X(E); Lock-X(D); Unlock(B); Unlock(E); Lock-X(G);
Unlock(D); Unlock(G).
T
11
: Lock-X(D); Lock-X(H); Unlock(D); Unlock(H).
T
12
: Lock-X(B); Lock-X(E); Unlock(B); Unlock(E).
T
13
: Lock-X(D); Lock-X(H); Unlock(D); Unlock(H).
figure V- 11
Một lịch trình tuân theo giao thức cây chứa tất cả bốn giao dịch trên được cho trong hình
bên dưới. Ta nhận thấy, các lịch trình tuân thủ giao thức cây không chỉ là khả tuần tự xung đột mà
còn đảm bảo không có dealock. Giao thức cây có mặt thuận lợi so với giao thức hai kỳ là tháo
chốt có thể xảy ra sớm hơn. Việc tháo chốt sớm có thể dẫn đến rút ngắn thời gian chờ đợi và tăng
tính cạnh tranh. Hơn nữa, do giao thức là không dealock, nên không có cuộn lại. Tuy nhiên giao
thức cây có điểm bất lợi là, trong một vài trường hợp, một giao dịch có thể phải chốt những hạng
mục dữ liệu mà nó không truy xuất. Chẳng hạn, một giao dịch cần truy xuất các hạng mục dữ liệu
A và J trong đồ thị CSDL trên, phải chốt không chỉ A và J mà phải chốt cả các hạng mục B, D, H.
Việc chốt bổ xung này có thể gây ra việc tăng tổng phí chốt, tăng thời gian chờ đợi và giảm tính
cạnh tranh. Hơn nữa, nếu không biết trước các hạng mục dữ liệu nào sẽ cần thiết phải chốt, các
giao dịch sẽ phải chốt gốc của cây mà điều này làm giảm mạnh tính cạnh tranh.
Đối với một tập các giao dịch, có thể có các lịch trình khả tuần tự xung đột không thể nhận
được từ việc tuân theo giao thức cây. Có các lịch trình được sinh ra bởi tuân theo giao thức chốt
hai kỳ nhưng không thể được sinh ra bởi tuân theo giao thức cây và ngược lại.
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
103
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
T
10
T
11
T
12
T
13
Lock-X(B)
Lock-X(D)
Lock-X(H)
Unlock(D)
Lock-X(E)
Lock-X(D)
Unlock(B)
Unlock(E)
Lock-X(B)
Lock-X(E)
Unlock(H)
Lock-X(G)
Unlock(D)
Lock-X(D)
Lock-X(H)
Unlock(D)
Unlock(H)
Unlock(E)
Unlock(B)
Unlock(G)
Lịch trình khả tuần tự dưới giao thức cây
figure V- 12
V.1.5. ĐA HẠT (Multiple Granularity)
Trong các sơ đồ điều khiển cạnh tranh được mô tả trước đây, ta đã sử dụng hạng mục dữ
liệu như đơn vị trên nó sự đồng bộ hoá được thực hiện. Tuy nhiên, có các hoàn cảnh trong đó việc
nhóm một vài hạng mục dữ liệu và xử lý chúng như một đơn vị đồng bộ hoá mang lại nhiều lợi
ích. Nừu một giao dich T
i
phải truy xuất toàn bộ CSDL và giao thức chốt được sử dụng, khi đó T
i
phải chốt mỗi hạng mục dữ liệu trong CSDL. Như vậy việc thực hiện các chốt này sẽ tiêu tốn một
thời gian đáng kể. Sẽ hiệu quả hơn nếu T
i
chỉ cần một yêu cầu chốt để chốt toàn bộ CSDL. Mặt
khác, nếu T
i
cần truy xuất chỉ một vài hạng mục dữ liệu, nó không cần thiết phải chốt toàn bộ
CSDL vì như vậy sẽ giảm tính cạnh tranh. Như vậy, cái mà ta cần là một cơ chế cho phép hệ
thống xác định nhiều mức hạt. Một cơ chế như vậy là cho phép các hạng mục dữ liệu có kích cỡ
khác nhau và xác định một sự phân cấp các hạt dữ liệu, trong đó các hạt nhỏ được ẩn náu bên
trong các hạt lớn. Sự phân cấp như vậy có thể được biểu diễn đồ thị như một cây. Một nút không
là lá của cây đa hạt biểu diễn dữ liệu được kết hợp với con cháu của nó. Như một ví dụ minh hoạ,
ta xét cây sau:
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
104
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
DB
A
1
A
2
F
a
F
b
F
c
F
d
R
a1
R
a2
R
an
R
b1
R
bk
R
c1
R
c2
R
cm
R
d1
… R
dq
Phân cấp hạt
figure V- 13
Nó gồm bốn mức nút. Mức cao nhất là toàn bộ CSDL. Thấp hơn là các nút kiểu vùng:
CSDL bao gồm các vùng này. Mỗi vùng lại có các nút kiểu file như các con của nó, mỗi vùng
chứa đúng các file này và không file nào nằm trong nhiều hơn một vùng. Cuối cùng, mỗi file có
các nút con kiểu mẩu tin, không mẩu tin nào hiện diện trong hơn một file.
Mỗi nút trong cây có thể được chốt một các cá nhân. Như đã làm trong giao thức chốt hai
kỳ, ta sẽ sử dụng các phương thức chốt shared và exclusive . Khi một giao dịch chốt một nút,
trong phương thức shared hoặc exclusive, giao dịch cũng chốt tất cả các nút con cháu của nút này
ở cùng phương thức. Ví dụ T
i
chốt tường minh file F
b
ở phương thức exclusive, nó đã chốt ẩn tất
cả các mẩu tin của F
b
cũng trong phương thức exclusive.
Giả sử giao dịch T
j
muốn chốt mẩu tin R
b6
của file F
b
. vì giao địch T
i
đã chốt tường minh
file F
b
, mẩu tin R
b6
cũng bị chốt ẩn. Song làm thế nào để hệ thống biết được T
j
có thể chốt R
b6
hay
không: T
j
phải duyệt cây từ gốc đến mẩu tin R
b6
, nếu có một nút bất kỳ tren đường dẫn bị chốt ở
phương thức không tương thích, T
j
phải chờ. Bây giờ, nếu T
k
muốn chốt toàn bộ CSDL, nó phải
chốt nút gốc. Tuy nhiên, do T
i
hiện đang giữ một chốt trên F
b
, một bộ phận của cây, nên T
k
sẽ
không thành công. Vậy làm thế nào để hệ có thể chốt được nút gốc: Một khả năng là tìm kiếm
trên toàn bộ cây, giải pháp này phá huỷ hoàn toàn sơ đồ mục đích của sơ đồ chốt đa hạt. Một giải
pháp hiệu quả hơn là đưa vào một lớp mới các phương thức chốt, được gọi là phương thức chốt
tăng cường (intension lock mode). Nếu một nút bị chốt ở phương thức tăng cường, chốt tường
minh được tiến hành ở mức thấp hơn của cây (hạt min hơn). Chốt tăng cường được được đặt trên
tất cả các tổ tiên của một nút trước khi nút đó được chốt tường minh. Như vậy một giao dịch
không cần thiết phải tìm kiếm toàn bộ cây để xác định nó có thể chốt một nút thành công hay
không. Một giao dịch muốn chốt một nút, chẳng hạn Q, phải duyệt một đường dẫn từ gốc đến Q,
trong khi duyệt cây, giao dịch chốt các nút trên đường đi ở phương thức tăng cường.
Có một phương thức tăng cường kết hợp với phương thức shared và một với phương thức
exclusive. Nếu một nút bị chốt ở phương thức tăng cường shared (IS), chốt tường minh được tiến
hành ở mức thấp hơn trong cây, nhưng chỉ là một các chốt phương thức shared. Tương tự, nếu
một nút bị chốt ở phương thức tăng cường exclusive (IX), chốt tường minh được tiến hành ở mức
thấp hơn với các chốt exclusive hoặc shared. Nếu một nút bị chốt ở phương thức shared và
phương thức tăng cường exclusive (SIX), cây con có gốc là nút này bị chốt tường minh ở phương
thức shared và chốt tường minh được tiến hành ở mức thấp hơn với các chốt exclusive. Hàm tính
tương thích đối với các phương thức chốt này được cho bởi ma trận:
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
105
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
IS IX S SIX X
IS True True True True False
IX True True False False False
S True False True False False
SIX True False False False False
X False False False False False
figure V- 14
Giao thức chốt đa hạt dưới đây đảm bảo tính khả tuần tự. Mỗi giao địch T có thể chốt một
nút Q theo các quy tắc sau:
1. Hàm tương thích chốt phải được kiểm chứng
2. Gốc của cây phải được chốt đầu tiên, và có thể được chốt ở bất kỳ phương thức nào
3. Một nút Q có thể được chốt bởi T ở phương thức S hoặc IS chỉ nếu cha của Q hiện
đang bị chốt bởi T ở hoặc phương thức IX hoặc phương thức IS.
4. Một nút Q có thể được chốt bởi T ở phương thức X, SIX hoặc IX chỉ nếu cha của Q
hiện đang bị chốt ở hoặc phương thức IX hoặc phương thức SIX
5. T có thể chốt một nút chỉ nếu trước đó nó chưa tháo chốt một nút nào.
6. T có thể tháo chốt một nút Q chỉ nếu không con nào của Q hiện đang bị chốt bởi T
Ta thấy rằng giao thức đa hạt yêu cầu các chốt được tậu theo thứ tự Top-Down, được
tháo theo thứ tự Bottom-Up.
Ví dụ: Xét cây phân cấp hạt như trên và các giao dịch sau:
○ Giả sử giao dịch T
18
đọc mẩu tin R
a2
của file F
a
. Khi đó T
18
cần phải chốt DB, vùng A
1
và F
a
ở phương thức IS và R
a2
ở phương thức S: Lock-IS(DB); Lock-IS(A
1
);
Lock-IS(F
a
); lock-S(R
a2
)
○ Giả sử giao dịch T
19
sửa đổi mẩu tin R
a9
trong file F
a
, khi đó T
19
cần phải chốt CSDL,
vùng A
1
và file F
a
ở phương thức IX và R
a9
ở phương thức X: Lock-IX(DB);
Lock-IX(A
1
); lock-IX(F
a
); lock-X(R
a9
)
○ Giả sử giao dịch T
20
đọc tất cả các mẩu tin của file F
a
, khi đó T
20
cần phải chốt CSDL,
và vùng A
1
ở phương thức IS và chốt F
a
ở phương thức S: Lock-IS(DB); Lock-
IS(A
1
); Lock-S(F
a
)
○ Giả sử giao dịch T
21
đọc toàn bộ CSDL, nó có thể làm điều đó sau khi chốt CSDL ở
phương thức S: Lock-S(DB)
Chú ý rằng T
18
, T
20
và T
21
có thể truy xuất đồng thời CSDL, giao dịch T
19
có thể thực hiện
cạnh tranh với T
18
nhưng không với T
20
hoặc T
21
V.2. GIAO THỨC DỰA TRÊN TEM THỜI GIAN (Timestamp-
based protocol)
V.2.1. TEM THỜI GIAN (Timestamp)
Ta kết hợp với mỗi giao dịch T
i
trong hệ thống một tem thời gian cố định duy nhất, được
biểu thị bởi TS(T
i
). Tem thời gian này được gán bởi hệ CSDL trước khi giao dịch T
i
bắt đầu thực
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
106
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
hiện. Nếu một giao dịch T
i
đã được gán tem thời gian TS(T
i
) và một giao dịch mới T
j
đi vào hệ
thống, khi đó TS(T
i
) < TS(T
j
). Có hai phương pháp đơn giản để thực hiện sơ đồ này:
1. Sử dụng giá trị của đồng hồ hệ thống như tem thời gian: Một tem thời gian của một
giao dịch bằng giá trị của đồng hồ khi giao dịch đi vào hệ thống.
2. Sử dụng bộ đếm logic: bộ đếm được tăng lên mỗi khi một tem thời gian đã được
gán, tem thời gian của một giao dịch bằng với giá trị của bộ đếm khi giao dich đi
vào hệ thống.
Tem thời gian của các giao dịch xác định thứ tự khả tuần tự. Như vậy, nếu TS(T
i
) < TS(T
j
),
hệ thống phải đảm bảo rằng lịch trình được sinh ra là tương đương với một lịch trình tuần tự
trong đó T
i
xuất hiện trước T
j
.
Để thực hiện sơ đồ này, ta kết hợp với mỗi hạng mục dữ liệu Q hai giá trị tem thời gian:
• W-timestamp(Q) biểu thị tem thời gian lớn nhất của giao dịch bất kỳ đã thực hiện
Write(Q) thành công
• R-timestamp(Q) biểu thị tem thời gian lớn nhất của giao dịch bất kỳ đã thực hiện
Read(Q) thành công
Các tem thời gian này được cập nhật mỗi khi một Write hoặc một Read mới được thực
hiện.
V.2.2. GIAO THỨC THỨ TỰ TEM THỜI GIAN (Timestamp-Ordering
Protocol)
Giao thức thứ tự tem thời gian đảm bảo rằng các Write và Read xung đột bất kỳ được
thực hiện theo thứ tự tem thời gian. Giao thức này hoạt động như sau:
1. Giả sử giao dịch T
i
phát ra Read(Q).
a. Nếu TS(T
i
) < W-Timestamp(Q), T
i
cần đọc một giá trị của Q đã được viết
rồi. Do đó, hoạt động Read bị vứt bỏ và T
i
bị cuộn lại.
b. Nếu TS(T
i
) ≥ W-Timestamp(Q), hoạt động Read được thực hiện và
R-Timestamp được đặt bằng giá trị lớn nhất trong hai giá trị R-Timestamp
và TS(T
i
).
2. Giả sử giao dịch T
i
phát ra Write(Q).
a. Nếu TS(T
i
) < R-Timestamp(Q), Giá trị của Q mà T
i
đang sinh ra được giả
thiết là để được dùng cho các giao dịch đi sau nó (theo trình tự thời gian),
nhưng nay không cần đến nũa. Do vậy, hoạt động Write này bị vứt bỏ và
T
i
bị cuộn lại
b. Nếu TS(T
i
) < W-Timestamp(Q), T
i
đang thử viết một giá trị đã quá hạn
của Q, Từ đó, hoạt động Write bị vứt bỏ và T
i
bị cuộn lại
c. Ngoài ra, hoạt động Write được thực hiện và W-Timestamp(Q) được đặt là
TS(T
i
)
Một giao dịch T
i
bị cuộn lại bởi sơ đồ điều khiển cạnh tranh như kết quả của hoạt động
Read hoặc Write đang được phát ra, được gán với một tem thời gian mới và được tái khởi động
lại (được xem như một giao dịch mới tham gia vào hệ thống)
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
107
HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU
Ta xét các giao dịch T
14
và T
15
được xác định như dưới đây:
T
14
: Read(B);
Read(A);
Display(A+B);.
T
15
: Read(B);
B:=B-50;
Write(B);
Read(A);
A:=A+50;
Write(A);
Display(A+B).
figure V- 15
Ta giả thiết rằng một giao dịch được gán cho một tem thời gian ngay trước chỉ thị đầu tiên
của nó. Như vậy, lịch trình schedule-3 dưới đây có TS(T
14
) < TS(T
15
), và là một lịch trình hợp
lệ dưới giao thức tem thời gian:
T
14
T
15
Read(B)
Read(B)
B:=B-50
Write(B)
Read(A)
Read(A)
Display(A+B)
A:=A+50
Write(A)
Display(A+B)
Schedule-3
figure V- 16
Giao thức thứ tự tem thời gian đảm bảo tính khả tuần tự xung đột và không dealock.
V.2.3. QUY TẮC VIẾT THOMAS (Thomas' Write rule)
Một biến thể của giao thức tem thời gian cho phép tính cạnh tranh cao hơn giao thức thứ
tự tem thời gian. Trước hết ta xét lịch trình schedule-4 sau:
CHƯƠNG V ĐIỀU KHIỂN CẠNH TRANH
Trang
108
Kiểm toán báo cáo tài chính các dự án do công ty kiểm toán và định giá việt nam thực hiện
Luận văn tốt nghiệp
thực hiện, mục tiêu phát triển đợc xác định trong kế hoạch, chơng trình kinh tế
xã hội của đất nớc, của vùng, ngành, địa phơng. Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu
cụ thể mà dự án phải đạt đợc trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong
khoảng thời gian nhất định.
Nguồn lực cho dự án: Là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao
động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án.
Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm
chuyển hóa các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự
án đều đem lại kết quả tơng ứng.
Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể của dự án, đợc tạo ra từ các
hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt đợc mục tiêu trực tiếp
của dự án. Kết quả của dự án cũng mang tính đơn chiếc.
+ Dự án có chu kỳ sống riêng, tùy thuộc vào mục đích của dự án, có thể
là mục đích ngắn hạn hoặc dài hạn.
+ Dự án có liên quan đến nhiều bên nh chủ đầu t, nhà thầu, nhà t vấn, các
cơ quan quản lý Nhà nớc, Các đối tợng này luôn tác động nhau, phối hợp thực
hiện dự án.
+ Tính kiểm tra: Dự án đợc sử dụng nh một công cụ để kiểm tra quá trình
thực hiện các hoạt động nhằm đạt đợc những mục đích nhất định đã đợc dự kiến
trớc.
+ Tính định hớng: Có thể coi dự án là kim chỉ nam cho các hoạt động
nhất định nhằm đạt đợc những mục tiêu đã xác định.
Một dự án có thể đợc xem nh một chuỗi các công việc và các nhiệm vụ,
bao gồm:
+ Có mục tiêu cụ thể đợc hoàn thành trong những điều kiện nhất định.
+ Đợc xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc.
+ Có giới hạn nhất định về tài chính.
+ Sử dụng các nguồn lực nhất định về phơng tiện, thiết bị, con ngời,
Xã hội càng phát triển càng có nhiều dự án đợc lập và thực hiện, các dự
án khác nhau về quy mô, thời gian, mục đích Tùy theo mục đích nghiên cứu
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
mà ngời ta có thể phân loại dự án theo các tiêu thức khác nhau. Kiểm toán viên
phải có sự hiểu biết đầy đủ về lĩnh vực này để có thể lập kế hoạch kiểm toán
một cách tốt nhất. Nếu phân loại theo ngành kinh tế thì có các loại hình dự án
đầu t vào các lĩnh vực dự án sau:
Công nghiệp và các ngành khai thác.
Nông - Lâm - Ng nghiệp.
Quản lý Nhà nớc.
Môi trờng.
Giao thông vận tải.
Thông tin liên lạc.
Y tế.
Giáo dục
2. Các bớc hình thành và triển khai dự án
Nếu tiếp cận từ góc độ đầu t thì một dự án kể từ khi hình thành ý đồ cho
đến khi kết thúc phải trải qua các giai đoạn từ giai đoạn chuẩn bị đầu t, giai
đoạn tìm đối tác và ký hợp đồng, giai đoạn lập hồ sơ của dự án, giai đoạn thẩm
định và phê duyệt dự án, giai đoạn triển khai thực hiện dự án, giai đoạn cuối
cùng là đánh giá và kết thúc dự án.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ số 01: Các bớc hình thành và triển khai dự án.
Ghi chú: Bớc công việc kế tiếp
Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu t, các nhà đầu t cần tiến hành các công việc
nh sau:
Tìm hiểu, đánh giá các cơ hội đầu t nhiều hứa hẹn, mà các cơ hội đó đợc
hớng tới giải quyết các vấn đề cản trở việc đạt các mục tiêu phát triển mong
muốn, hoặc hớng tới việc khai thác một tiềm năng phát triển đang có. Công việc
này cần đợc tiến hành trong khuôn khổ chung về phân tích lĩnh vực và phân tích
không gian. Điều này đảm bảo rằng đó là những dự án có khả năng tốt nhất có
thể đợc thực hiện phù hợp với điều kiện hoàn cảnh.
Sau khi quyết định lựa chọn cơ hội đầu t các nhà đầu t tiến hành nghiên
cứu tiền khả thi, công việc này thờng đợc thực hiện với các dự án lớn còn các dự
án nhỏ có thể bỏ qua. Mục đích việc nghiên cứu tiền khả thi là giúp cho chủ đầu
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
GĐ1: Chuẩn bị đầu tư
GĐ2: Tìm đối tác và ký hợp đồng
GĐ3: Lập hồ sơ của dự án
GĐ4: Thẩm định và phê duyệt dự
án
GĐ5: Triển khai và thực hiện dự
án
GĐ6: Đánh giá và kết thúc dự án
Luận văn tốt nghiệp
t thấy rõ các điều kiện cơ bản của đầu t để quyết định hoặc là tiếp tục nghiên
cứu dự án hoặc là từ bỏ dự án hoặc đặt vấn đề xác định lại dự án. Kết quả
nghiên cứu tiền khả thi là bản dự án tiền khả thi.
Sau khi bản dự án tiền khả thi đợc lập sẽ chuyển sang nghiên cứu khả thi,
dự án đợc nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, sâu sắc trên tất cả các khía cạnh công
nghệ, tài chính, kinh tế, môi trờng, quản trị, với nhiều phơng án khác nhau.
Kết quả là một dự án khả thi với đầy đủ các nội dụng.
Giai đoạn 2: Tìm đối tác và ký hợp đồng. Sau khi nghiên cứu đánh giá,
về tính khả thi của dự án, để dự án có thể thực hiện đợc thì cần phải có nguồn
vốn đầu t cho dự án, thông qua các nhà đầu t có thể là chủ đầu t trong nớc, nớc
ngoài, hoặc bằng Ngân sách Nhà nớc. Khi chủ đầu t đồng ý đầu t cho dự án thì
phải lập hợp đồng ký kết giữa các bên.
Giai đoạn 3: Lập hồ sơ của dự án. Các bên tham gia dự án cùng soạn
thảo những văn bản, hồ sơ cần thiết để trình các cơ qua quản lý Nhà nớc có
thẩm quyền xin giấy phép đầu t.
Giai đoạn 4: Thẩm định và phê duyệt dự án. Thẩm định dự án là giai
đoạn đánh giá và lựa chọn dự án, xác định ảnh hởng của dự án đến nền kinh tế
quốc dân góp phần đạt đợc mục tiêu của kế hoạch định hớng. Việc thẩm định
dự án đợc tiến hành theo sự phân cấp quản lý của Nhà nớc. Kết quả thẩm định
dự án có thể là chấp nhận dự án hoặc sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ dự án. Nếu
dự án đợc chấp nhận, cơ quan thẩm định sẽ gửi dự án lên cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền ra quyết định đầu t và cấp giấy phép hoạt động. Nếu dự án đợc phê
duyệt thì công việc tiếp theo là vạch ra các kế hoạch tài trợ, khai thác các nguồn
tài chính sao cho phù hợp nhất với dự án. Giai đoạn 5: Triển khai và
thực hiện dự án. Giai đoạn này chiếm phần lớn thời gian của dự án, chất lợng và
tiến độ thực hiện dự án phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn đầu t. Vì vậy, nâng
cao chất lợng công việc chuẩn bị đầu t là tiền đề triển khai thực hiện dự án. Đến
lợt mình, việc thực hiện dự án đúng tiến độ, đảm bảo chất lợng sẽ là tiền đề khai
thác có hiệu quả dự án nhằm đạt đợc mục tiêu dự án đề ra.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
Giai đoạn 6: Đánh giá và kết thúc dự án. Khi kết thúc thời gian hoạt
động của dự án, cần đánh giá dự án trên các nét cơ bản sau:
+ Dự án có đạt đợc mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?
+ Dự án có góp phần phát triển kinh tế - xã hội hay không?
+ Hiệu quả của việc đạt đợc các mục tiêu đó ra sao?
+ Những bài học cần rút ra.
Mỗi giai đoạn, mỗi công việc là một mắt xích trong một chuỗi mắt xích.
Để chuỗi mắt xích đó đợc chắc chắn thì phải đảm bảo sự chắc chắn của mỗi mắt
xích và các mắt xích liên kết hợp lý với nhau. Kết quả của giai đoạn trớc là tiền
đề cho giai đoạn kế tiếp và chất lợng của dự án phụ thuộc vào toàn bộ quá trình
từ giai đoạn chuẩn bị cho đến giai đoạn kết thúc dự án.
3. Các yếu tố cơ bản của một dự án
Trên góc độ quan sát là một kiểm toán viên cần tìm hiểu, xem xét các
yếu tố cơ bản của dự án về chủ đầu t cho dự án, đơn vị thực hiện dự án, sự
chuẩn bị cho quá trình thực hiện dự án, nguồn thu của dự án, đơn vị thực hiện
dự án, việc mua sắm hàng hóa phục vụ cho dự án, vấn đề giải ngân của dự án,
môi trờng kiểm soát của dự án, hệ thống kế toán của dự án.
* Đơn vị chủ đầu t cho dự án
Hiện nay, các dự án ở Việt Nam đợc tài trợ nguồn vốn hoạt động từ:
nguồn vốn Ngân sách Nhà nớc, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),
nguồn vốn từ chính phủ các nớc, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ
(NGO), đầu t vào các lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam nh kinh tế, văn hóa, giáo
dục, y tế
Nguồn vốn từ chính phủ các nớc, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi
chính phủ (NGO) tuy khá hạn hẹp nhng là một nguồn quan trọng đối với một số
loại dự án phát triển nhất định, nh các chơng trình tín dụng nhỏ cho các cộng
đồng nghèo. Các tổ chức phi chính phủ có xu hớng chuyên về các dự án rất ít
nhằm mục tiêu lợi nhuận, mà những dự án này có lợi cho ngời nghèo và những
khu vực có nhiều lợi thế khác trong xã hội.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
* Đơn vị thực hiện dự án
Tùy theo từng hình thức tổ chức quản lý dự án, có thể theo hình thức chủ
đầu t trực tiếp quản lý dự án hặc theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự án hoặc
theo hình thức chìa khóa trao tay hoặc theo hình thức tự thực hiện.
Riêng đối với các dự án đợc tài trợ bởi các tổ chức xã hội, tổ chức phi
chính phủ (NGO) đó là mối quan hệ giữa đối tác nớc ngoài và chính phủ Việt
Nam. Do đó hầu hết các dự án do các cơ quan hoặc các doanh nghiệp Nhà nớc
thực hiện. Những đơn vị này phải phù hợp với yêu cầu của chính quyền địa ph-
ơng. Hầu hết các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc đều áp dụng hệ thống kế toán
công và sử dụng Ngân sách Nhà nớc. Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc mang
những nét đặc thù riêng về phong cách quản lý. Do đó để thực hiện tốt công tác
kiểm toán thì kiểm toán viên phải tìm hiểu về chế độ kế toán áp dụng tại bên
nhận tài trợ bao gồm cả những thay đổi dới ảnh hởng của các chuẩn mực quốc
tế, xác định các công việc liên quan đến dự án, sự tham gia vào dự án của các
cơ quan quản lý Nhà nớc.
* Sự chuẩn bị cho quá trình thực hiện dự án
Đây chính là khâu thẩm định dự án về tính hiệu quả và khả năng thực thi
của dự án. Cần phải tiến hành đánh giá toàn diện tất cả các mặt.
Về kỹ thuật - công nghệ, mục đích nghiên cứu là lựa chọn đợc công
nghệ, kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của dự án, xác định địa điểm bố trí dự án,
xác định các điều kiện phục vụ dự án phù hợp với các điều kiện hiện có trong n-
ớc nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của dự án.
Về mặt tài chính của dự án bao gồm các vấn đề sau: Xác định tổng vốn
đầu t ban đầu cho dự án, xác định các lợi ích do dự án đem lại, lợi ích ở đây có
thể đợc tính bằng tiền hoặc không tính bằng tiền, các lợi ích đó chính là lãi mà
xã hội thu đợc từ dự án.
Về tính kinh tế của dự án, thực chất là đánh giá các lợi ích và chi phí của
dự án trên góc độ kinh tế để quyết định nên chấp nhận dự án hay loại bỏ dự án,
nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra trong các chơng trình và kế hoạch phát triển kinh
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
tế - xã hội. Nói cách khác cần phải cân nhắc lựa chọn dự án sao cho đạt hiệu
quả kinh tế quốc dân cao nhất.
Về tổ chức quản lý, đánh giá xem chủ đâu t quản lý dự án nh thế nào,
đơn vị thực hiện dự án có đợc tổ chức chặt chẽ, cơ cấu quản lý có đồng bộ, hoạt
động có hiệu quả không, ảnh hởng của các chính sách hoặc những thay đổi về
mặt tổ chức từ bên ngoài đơn vị có thể điều chỉnh đợc không, để đạt mục tiêu
của dự án.
* Nguồn thu của dự án
Chủ yếu là do chủ đầu t của dự án cấp thông qua một ngân hàng do chủ
đầu t lựa chọn, ngoài ra có thể huy động từ các đơn vị, tổ chức trong nớc. Trớc
hết phải xác định đợc quy mô đầu t, tổng nguồn vốn đầu t cho dự án bao gồm
vốn cố định và vốn lu động.
Vốn cố định nh chi phí chuẩn bị là những chi phí trớc khi thực thi dự án,
bao gồm chi phí thành lập, nghiên cứu dự án, lập hồ sơ, trình duyệt, chi phí
quản lý ban đầu, những chi phí này cần có sự nhất trí thông qua thỏa thuận của
các bên tham gia đầu t. Chi phí xây dựng các công trình, chi phí về máy móc,
thiết bị, dụng cụ, chi phí về chuyển giao công nghệ, chi phí đào tạo, chi phí
khác. Các chi phí này sẽ đợc giải ngân theo tiến độ phù hợp với nhu cầu của dự
án.
Vốn lu động nh vốn bằng tiền, chi phí phải trả cho các chuyên gia. Để
khắc phục khó khăn về tiền mặt, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, cần phải thiết lập
hệ thống tài khoản đặc biệt, đây là các tài khoản quay vòng đợc cấp vốn bằng
tiền ứng trớc từ tài khoản của chủ đầu t mở tại ngân hàng, đợc dùng để trang trải
các khoản chi tiêu hợp lý, hợp lệ bằng cả nội tệ và ngoại tệ.
* Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho dự án
Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho dự án cần tuân thủ theo thỏa thuận
giữa chủ đầu t và đơn vị thực hiện dự án, đảm bảo các hàng hóa dịch vụ mua sử
dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả kinh tế. Việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phụ
thuộc chặt chẽ vào công nghệ đã đợc chọn, cần phân ra hàng hóa dịch vụ mua
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
trong nớc và nhập khẩu. Đối với thiết bị nhập khẩu, cần tính đủ và nêu lịch trình
cung cấp phụ tùng thay thế. Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải đợc lập riêng.
Chi phí mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho dự án thờng chiếm một
khoản lớn trong chi phí dự án, nếu cần cân nhắc và tính toán tỷ mỉ, cụ thể. Đặc
biệt cần quan tâm đầy đủ đến việc xác định chất lợng và đơn giá của các loại
hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu.
Dịch vụ t vấn về kinh tế, quản lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, kiến
trúc, nghiên cứu và kỹ thuật đợc bên vay chi trả bằng khoản tài chính nhận từ
chủ đầu t. Dịch vụ t vấn phải phù hợp với quy mô công nghệ và chi phí của dự
án.
* Vấn đề giải ngân của dự án
Việc giải ngân đợc thực hiện trong suốt quá trình của dự án phải phù hợp
với nhu cầu tiền mặt của dự án. Việc giải ngân có thể đợc thực hiện theo một
trong hai cách, thứ nhất bên thực hiện dự án định kỳ yêu cầu chủ đầu t giải ngân
khoản tiền hợp lệ dựa trên nhu cầu thực tế của dự án thông qua yêu cầu giải
ngân, chủ đầu t xem xét và quyết định cấp vốn thông qua tài khoản mở tại ngân
hàng đã lựa chọn, thứ hai có thể tiến hành giải ngân theo tỷ lệ % yêu cầu hợp lệ
đã thỏa thuận trong hợp đồng của dự án. Khi vốn đợc giải ngân, chúng đợc
chuyển tới một tài khoản đặc biệt trong ngân hàng, tài khoản này đợc lập riêng
cho dự án, đóng vai trò nh một tài khoản tạm ứng và đợc sử dụng để giải quyết
những khó khăn về tài chính mà đơn vị thực hiện dự án gặp phải trong qúa trình
thực hiện dự án. Kiểm toán viên phải thu thập tất cả các báo cáo chi tiêu trong
kỳ kiểm toán.
* Môi trờng kiểm soát của dự án
Công việc kiểm soát dự án đợc thực hiện thông qua ban quản lý dự án.
Quản lý dự án là việc áp dụng các hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào dự
án nhằm đạt đợc các yêu cầu và mong muốn từ dự án. Quản lý dự án là quá
trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến
khi kết thúc nhằm đạt đợc những mục tiêu về thời gian, chi phí, kỹ thuật, chất l-
ợng. Ban quản lý dự án bao gồm giám đốc dự án, phó giám đốc dự án, giám đốc
chuyên môn dự án, giám đốc kỹ thuật dự án, tổng kiểm soát dự án. Môi trờng
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
kiểm soát là thái độ, nhận thức và hoạt động của Ban quản lý dự án, cơ cấu
kiểm soát đối với dự án, thể hiện nh sau:
+ Sự liêm chính, đạo đức và năng lực của các nhà quản lý.
+ Sự đầy đủ của các hệ thống đợc sử dụng nhằm xác định và giải quyết
các mâu thuẫn với lợi ích liên quan tới các bên.
+ Sự thích hợp của dự án và cơ cấu tổ chức của đơn vị thực hiện dự án.
+ Phơng pháp quản lý về ủy quyền và trách nhiệm.
+ Chức năng kiểm soát nội bộ đối với dự án.
+ Sự thích hợp của hoạt động và chính sách nhân sự trong đơn vị thực
hiện dự án, sự phân công phân nhiệm.
Kiểm toán viên phải có sự hiểu biết đầy đủ, rõ ràng về hệ thống kiểm
soát nội bộ của dự án, đây là bớc đi đầu tiên quan trọng của quá trình kiểm
toán. Không phải tất cả các hoạt động tại đơn vị thực hiện dự án đều liên quan
đến dự án, môi trờng dự án có thể bao gồm cả những hoạt động bên ngoài đơn
vị.
Mục đích của kiểm toán viên khi xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của
dự án là để xác định, kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, thích hợp về cách thức tổ
chức của hệ thống này. Qúa trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ bắt đầu
bằng việc xác định các yếu tố của hệ thống này. Đây là những yếu tố đảm bảo
cho nghiệp vụ kinh tế phát sinh đợc ghi nhận, tập hợp vào báo cáo. Các yếu tố
của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng cần phải xem xét, trên khía cạnh an toàn
của tài sản và trách nhiệm pháp lý. Để đánh giá các yếu tố kiểm soát hay bất kỳ
một sự yếu kém tiềm tàng nào, kiểm toán viên phải xác định mức độ ảnh hởng
của việc kiểm soát tới báo cáo và quản lý tài chính của dự án. Trong khi tìm
hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên nên tập trung vào các yếu tố
liên quan đến chức năng kiểm soát tài chính và kế toán.
* Hệ thống kế toán của dự án
Hệ thống kế toán phải phù hợp với hệ thống quản lý tài chính của dự án,
đảm bảo việc cung cấp các thông tin tài chính chính xác, kịp thời, đầy đủ cho
việc ra quyết định.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
Thông qua hệ thống kế toán để kiểm soát chi phí của dự án, đối chiếu
giữa chi phí thực tế và dự toán. Chi phí và thu nhập của dự án cần phải đợc tập
hợp để khớp đúng với việc thu chi của dự án. Hệ thống kế toán của dự án phải
tuân thủ các chuẩn mực kế toán đã ban hành tại Việt Nam. Việc giải ngân của
dự án cần phải đợc ghi chép chính xác, rõ ràng.
Sản phẩm của hệ thống kế toán thể hiện ở các Báo cáo tài chính của dự
án. Báo cáo tài chính của dự án trình bày về nguồn vốn và việc sử dụng nguồn
vốn kể từ khi bắt đầu thực hiện dự án. Báo cáo tài chính của dự án bao gồm:
Báo cáo thu chi dự án, đơn vị thực hiện dự án phải lập báo cáo thu chi
cho tất cả các khoản thu chi của dự án.
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp phản ánh tình hình tài chính của
một đơn vị tại một thời điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán thờng đợc lập vào
cuối kỳ kế toán, báo cáo cung cấp các thông tin về nguồn vốn, số d tài khoản
tiền gửi ngân hàng, các tài sản của dự án, công nợ,
Báo cáo chi tiêu của dự án, phơng pháp sao kê chi tiêu đợc sử dụng để
hoàn lại tiền cho đơn vị thực hiện dự án khi các chứng từ quá nhiều và cồng
kềnh. Theo thủ tục sao kê chi tiêu, định kỳ đơn vị thực hiện dự án yêu cầu rút
vốn thông qua việc đa ra một bản sao kê các khoản chi phí cho các khoản mục
hợp lệ trong hợp đồng. Báo cáo chi tiêu chỉ phản ánh các chi phí phát sinh phục
vụ cho các hoạt động của dự án và đợc rút ra từ tài khoản đặc biệt của dự án.
Báo cáo chi tiêu đợc lập theo đồng đôla hoặc theo đồng tiền thỏa thuận trong
hợp đồng. Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các sao
kê chi tiêu, kiểm toán viên có thể sử dụng phơng pháp kiểm tra mẫu, kiểm soát
nếu thấy cần thiết trong mỗi trờng hợp cụ thể.
Báo cáo tài khoản đặc biệt, tài khoản đặc biệt là tài khoản cấp vốn bằng
tiền ứng trớc để trang trải cho các chi tiêu hợp lệ bằng cả nội và ngoại tệ. Tài
khoản đặc biệt đợc lập sao cho việc thực hiện dự án có hiệu quả hơn, khắc phục
vấn đề về lu chuyển tiền tệ. Thông thờng Bộ tài chính hay đơn vị thực hiện dự
án quản lý tài khoản đặc biệt trên sổ sách kế toán thích hợp để kiểm tra và xác
định các thay đổi trên tài khoản đặc biệt, đồng thời hàng tháng phải đệ trình
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
thực hiện, mục tiêu phát triển đợc xác định trong kế hoạch, chơng trình kinh tế
xã hội của đất nớc, của vùng, ngành, địa phơng. Mục tiêu trực tiếp là mục tiêu
cụ thể mà dự án phải đạt đợc trong khuôn khổ nguồn lực nhất định và trong
khoảng thời gian nhất định.
Nguồn lực cho dự án: Là các đầu vào về vật chất, tài chính, sức lao
động cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án.
Các hoạt động của dự án: Là những công việc do dự án tiến hành nhằm
chuyển hóa các nguồn lực thành các kết quả của dự án. Mỗi hoạt động của dự
án đều đem lại kết quả tơng ứng.
Kết quả của dự án: Là những đầu ra cụ thể của dự án, đợc tạo ra từ các
hoạt động của dự án. Kết quả là điều kiện cần thiết để đạt đợc mục tiêu trực tiếp
của dự án. Kết quả của dự án cũng mang tính đơn chiếc.
+ Dự án có chu kỳ sống riêng, tùy thuộc vào mục đích của dự án, có thể
là mục đích ngắn hạn hoặc dài hạn.
+ Dự án có liên quan đến nhiều bên nh chủ đầu t, nhà thầu, nhà t vấn, các
cơ quan quản lý Nhà nớc, Các đối tợng này luôn tác động nhau, phối hợp thực
hiện dự án.
+ Tính kiểm tra: Dự án đợc sử dụng nh một công cụ để kiểm tra quá trình
thực hiện các hoạt động nhằm đạt đợc những mục đích nhất định đã đợc dự kiến
trớc.
+ Tính định hớng: Có thể coi dự án là kim chỉ nam cho các hoạt động
nhất định nhằm đạt đợc những mục tiêu đã xác định.
Một dự án có thể đợc xem nh một chuỗi các công việc và các nhiệm vụ,
bao gồm:
+ Có mục tiêu cụ thể đợc hoàn thành trong những điều kiện nhất định.
+ Đợc xác định rõ thời gian bắt đầu và kết thúc.
+ Có giới hạn nhất định về tài chính.
+ Sử dụng các nguồn lực nhất định về phơng tiện, thiết bị, con ngời,
Xã hội càng phát triển càng có nhiều dự án đợc lập và thực hiện, các dự
án khác nhau về quy mô, thời gian, mục đích Tùy theo mục đích nghiên cứu
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
mà ngời ta có thể phân loại dự án theo các tiêu thức khác nhau. Kiểm toán viên
phải có sự hiểu biết đầy đủ về lĩnh vực này để có thể lập kế hoạch kiểm toán
một cách tốt nhất. Nếu phân loại theo ngành kinh tế thì có các loại hình dự án
đầu t vào các lĩnh vực dự án sau:
Công nghiệp và các ngành khai thác.
Nông - Lâm - Ng nghiệp.
Quản lý Nhà nớc.
Môi trờng.
Giao thông vận tải.
Thông tin liên lạc.
Y tế.
Giáo dục
2. Các bớc hình thành và triển khai dự án
Nếu tiếp cận từ góc độ đầu t thì một dự án kể từ khi hình thành ý đồ cho
đến khi kết thúc phải trải qua các giai đoạn từ giai đoạn chuẩn bị đầu t, giai
đoạn tìm đối tác và ký hợp đồng, giai đoạn lập hồ sơ của dự án, giai đoạn thẩm
định và phê duyệt dự án, giai đoạn triển khai thực hiện dự án, giai đoạn cuối
cùng là đánh giá và kết thúc dự án.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ số 01: Các bớc hình thành và triển khai dự án.
Ghi chú: Bớc công việc kế tiếp
Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu t, các nhà đầu t cần tiến hành các công việc
nh sau:
Tìm hiểu, đánh giá các cơ hội đầu t nhiều hứa hẹn, mà các cơ hội đó đợc
hớng tới giải quyết các vấn đề cản trở việc đạt các mục tiêu phát triển mong
muốn, hoặc hớng tới việc khai thác một tiềm năng phát triển đang có. Công việc
này cần đợc tiến hành trong khuôn khổ chung về phân tích lĩnh vực và phân tích
không gian. Điều này đảm bảo rằng đó là những dự án có khả năng tốt nhất có
thể đợc thực hiện phù hợp với điều kiện hoàn cảnh.
Sau khi quyết định lựa chọn cơ hội đầu t các nhà đầu t tiến hành nghiên
cứu tiền khả thi, công việc này thờng đợc thực hiện với các dự án lớn còn các dự
án nhỏ có thể bỏ qua. Mục đích việc nghiên cứu tiền khả thi là giúp cho chủ đầu
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
GĐ1: Chuẩn bị đầu tư
GĐ2: Tìm đối tác và ký hợp đồng
GĐ3: Lập hồ sơ của dự án
GĐ4: Thẩm định và phê duyệt dự
án
GĐ5: Triển khai và thực hiện dự
án
GĐ6: Đánh giá và kết thúc dự án
Luận văn tốt nghiệp
t thấy rõ các điều kiện cơ bản của đầu t để quyết định hoặc là tiếp tục nghiên
cứu dự án hoặc là từ bỏ dự án hoặc đặt vấn đề xác định lại dự án. Kết quả
nghiên cứu tiền khả thi là bản dự án tiền khả thi.
Sau khi bản dự án tiền khả thi đợc lập sẽ chuyển sang nghiên cứu khả thi,
dự án đợc nghiên cứu toàn diện, đầy đủ, sâu sắc trên tất cả các khía cạnh công
nghệ, tài chính, kinh tế, môi trờng, quản trị, với nhiều phơng án khác nhau.
Kết quả là một dự án khả thi với đầy đủ các nội dụng.
Giai đoạn 2: Tìm đối tác và ký hợp đồng. Sau khi nghiên cứu đánh giá,
về tính khả thi của dự án, để dự án có thể thực hiện đợc thì cần phải có nguồn
vốn đầu t cho dự án, thông qua các nhà đầu t có thể là chủ đầu t trong nớc, nớc
ngoài, hoặc bằng Ngân sách Nhà nớc. Khi chủ đầu t đồng ý đầu t cho dự án thì
phải lập hợp đồng ký kết giữa các bên.
Giai đoạn 3: Lập hồ sơ của dự án. Các bên tham gia dự án cùng soạn
thảo những văn bản, hồ sơ cần thiết để trình các cơ qua quản lý Nhà nớc có
thẩm quyền xin giấy phép đầu t.
Giai đoạn 4: Thẩm định và phê duyệt dự án. Thẩm định dự án là giai
đoạn đánh giá và lựa chọn dự án, xác định ảnh hởng của dự án đến nền kinh tế
quốc dân góp phần đạt đợc mục tiêu của kế hoạch định hớng. Việc thẩm định
dự án đợc tiến hành theo sự phân cấp quản lý của Nhà nớc. Kết quả thẩm định
dự án có thể là chấp nhận dự án hoặc sửa chữa, bổ sung hoặc loại bỏ dự án. Nếu
dự án đợc chấp nhận, cơ quan thẩm định sẽ gửi dự án lên cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền ra quyết định đầu t và cấp giấy phép hoạt động. Nếu dự án đợc phê
duyệt thì công việc tiếp theo là vạch ra các kế hoạch tài trợ, khai thác các nguồn
tài chính sao cho phù hợp nhất với dự án. Giai đoạn 5: Triển khai và
thực hiện dự án. Giai đoạn này chiếm phần lớn thời gian của dự án, chất lợng và
tiến độ thực hiện dự án phụ thuộc rất nhiều vào giai đoạn đầu t. Vì vậy, nâng
cao chất lợng công việc chuẩn bị đầu t là tiền đề triển khai thực hiện dự án. Đến
lợt mình, việc thực hiện dự án đúng tiến độ, đảm bảo chất lợng sẽ là tiền đề khai
thác có hiệu quả dự án nhằm đạt đợc mục tiêu dự án đề ra.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
Giai đoạn 6: Đánh giá và kết thúc dự án. Khi kết thúc thời gian hoạt
động của dự án, cần đánh giá dự án trên các nét cơ bản sau:
+ Dự án có đạt đợc mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?
+ Dự án có góp phần phát triển kinh tế - xã hội hay không?
+ Hiệu quả của việc đạt đợc các mục tiêu đó ra sao?
+ Những bài học cần rút ra.
Mỗi giai đoạn, mỗi công việc là một mắt xích trong một chuỗi mắt xích.
Để chuỗi mắt xích đó đợc chắc chắn thì phải đảm bảo sự chắc chắn của mỗi mắt
xích và các mắt xích liên kết hợp lý với nhau. Kết quả của giai đoạn trớc là tiền
đề cho giai đoạn kế tiếp và chất lợng của dự án phụ thuộc vào toàn bộ quá trình
từ giai đoạn chuẩn bị cho đến giai đoạn kết thúc dự án.
3. Các yếu tố cơ bản của một dự án
Trên góc độ quan sát là một kiểm toán viên cần tìm hiểu, xem xét các
yếu tố cơ bản của dự án về chủ đầu t cho dự án, đơn vị thực hiện dự án, sự
chuẩn bị cho quá trình thực hiện dự án, nguồn thu của dự án, đơn vị thực hiện
dự án, việc mua sắm hàng hóa phục vụ cho dự án, vấn đề giải ngân của dự án,
môi trờng kiểm soát của dự án, hệ thống kế toán của dự án.
* Đơn vị chủ đầu t cho dự án
Hiện nay, các dự án ở Việt Nam đợc tài trợ nguồn vốn hoạt động từ:
nguồn vốn Ngân sách Nhà nớc, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA),
nguồn vốn từ chính phủ các nớc, các tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ
(NGO), đầu t vào các lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam nh kinh tế, văn hóa, giáo
dục, y tế
Nguồn vốn từ chính phủ các nớc, các tổ chức xã hội, các tổ chức phi
chính phủ (NGO) tuy khá hạn hẹp nhng là một nguồn quan trọng đối với một số
loại dự án phát triển nhất định, nh các chơng trình tín dụng nhỏ cho các cộng
đồng nghèo. Các tổ chức phi chính phủ có xu hớng chuyên về các dự án rất ít
nhằm mục tiêu lợi nhuận, mà những dự án này có lợi cho ngời nghèo và những
khu vực có nhiều lợi thế khác trong xã hội.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
* Đơn vị thực hiện dự án
Tùy theo từng hình thức tổ chức quản lý dự án, có thể theo hình thức chủ
đầu t trực tiếp quản lý dự án hặc theo hình thức chủ nhiệm điều hành dự án hoặc
theo hình thức chìa khóa trao tay hoặc theo hình thức tự thực hiện.
Riêng đối với các dự án đợc tài trợ bởi các tổ chức xã hội, tổ chức phi
chính phủ (NGO) đó là mối quan hệ giữa đối tác nớc ngoài và chính phủ Việt
Nam. Do đó hầu hết các dự án do các cơ quan hoặc các doanh nghiệp Nhà nớc
thực hiện. Những đơn vị này phải phù hợp với yêu cầu của chính quyền địa ph-
ơng. Hầu hết các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc đều áp dụng hệ thống kế toán
công và sử dụng Ngân sách Nhà nớc. Các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nớc mang
những nét đặc thù riêng về phong cách quản lý. Do đó để thực hiện tốt công tác
kiểm toán thì kiểm toán viên phải tìm hiểu về chế độ kế toán áp dụng tại bên
nhận tài trợ bao gồm cả những thay đổi dới ảnh hởng của các chuẩn mực quốc
tế, xác định các công việc liên quan đến dự án, sự tham gia vào dự án của các
cơ quan quản lý Nhà nớc.
* Sự chuẩn bị cho quá trình thực hiện dự án
Đây chính là khâu thẩm định dự án về tính hiệu quả và khả năng thực thi
của dự án. Cần phải tiến hành đánh giá toàn diện tất cả các mặt.
Về kỹ thuật - công nghệ, mục đích nghiên cứu là lựa chọn đợc công
nghệ, kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của dự án, xác định địa điểm bố trí dự án,
xác định các điều kiện phục vụ dự án phù hợp với các điều kiện hiện có trong n-
ớc nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của dự án.
Về mặt tài chính của dự án bao gồm các vấn đề sau: Xác định tổng vốn
đầu t ban đầu cho dự án, xác định các lợi ích do dự án đem lại, lợi ích ở đây có
thể đợc tính bằng tiền hoặc không tính bằng tiền, các lợi ích đó chính là lãi mà
xã hội thu đợc từ dự án.
Về tính kinh tế của dự án, thực chất là đánh giá các lợi ích và chi phí của
dự án trên góc độ kinh tế để quyết định nên chấp nhận dự án hay loại bỏ dự án,
nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra trong các chơng trình và kế hoạch phát triển kinh
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
tế - xã hội. Nói cách khác cần phải cân nhắc lựa chọn dự án sao cho đạt hiệu
quả kinh tế quốc dân cao nhất.
Về tổ chức quản lý, đánh giá xem chủ đâu t quản lý dự án nh thế nào,
đơn vị thực hiện dự án có đợc tổ chức chặt chẽ, cơ cấu quản lý có đồng bộ, hoạt
động có hiệu quả không, ảnh hởng của các chính sách hoặc những thay đổi về
mặt tổ chức từ bên ngoài đơn vị có thể điều chỉnh đợc không, để đạt mục tiêu
của dự án.
* Nguồn thu của dự án
Chủ yếu là do chủ đầu t của dự án cấp thông qua một ngân hàng do chủ
đầu t lựa chọn, ngoài ra có thể huy động từ các đơn vị, tổ chức trong nớc. Trớc
hết phải xác định đợc quy mô đầu t, tổng nguồn vốn đầu t cho dự án bao gồm
vốn cố định và vốn lu động.
Vốn cố định nh chi phí chuẩn bị là những chi phí trớc khi thực thi dự án,
bao gồm chi phí thành lập, nghiên cứu dự án, lập hồ sơ, trình duyệt, chi phí
quản lý ban đầu, những chi phí này cần có sự nhất trí thông qua thỏa thuận của
các bên tham gia đầu t. Chi phí xây dựng các công trình, chi phí về máy móc,
thiết bị, dụng cụ, chi phí về chuyển giao công nghệ, chi phí đào tạo, chi phí
khác. Các chi phí này sẽ đợc giải ngân theo tiến độ phù hợp với nhu cầu của dự
án.
Vốn lu động nh vốn bằng tiền, chi phí phải trả cho các chuyên gia. Để
khắc phục khó khăn về tiền mặt, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, cần phải thiết lập
hệ thống tài khoản đặc biệt, đây là các tài khoản quay vòng đợc cấp vốn bằng
tiền ứng trớc từ tài khoản của chủ đầu t mở tại ngân hàng, đợc dùng để trang trải
các khoản chi tiêu hợp lý, hợp lệ bằng cả nội tệ và ngoại tệ.
* Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho dự án
Việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho dự án cần tuân thủ theo thỏa thuận
giữa chủ đầu t và đơn vị thực hiện dự án, đảm bảo các hàng hóa dịch vụ mua sử
dụng đúng mục đích, đạt hiệu quả kinh tế. Việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phụ
thuộc chặt chẽ vào công nghệ đã đợc chọn, cần phân ra hàng hóa dịch vụ mua
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
trong nớc và nhập khẩu. Đối với thiết bị nhập khẩu, cần tính đủ và nêu lịch trình
cung cấp phụ tùng thay thế. Danh mục hàng hóa nhập khẩu phải đợc lập riêng.
Chi phí mua sắm hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho dự án thờng chiếm một
khoản lớn trong chi phí dự án, nếu cần cân nhắc và tính toán tỷ mỉ, cụ thể. Đặc
biệt cần quan tâm đầy đủ đến việc xác định chất lợng và đơn giá của các loại
hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu.
Dịch vụ t vấn về kinh tế, quản lý, tài chính, ngân hàng, kiểm toán, kiến
trúc, nghiên cứu và kỹ thuật đợc bên vay chi trả bằng khoản tài chính nhận từ
chủ đầu t. Dịch vụ t vấn phải phù hợp với quy mô công nghệ và chi phí của dự
án.
* Vấn đề giải ngân của dự án
Việc giải ngân đợc thực hiện trong suốt quá trình của dự án phải phù hợp
với nhu cầu tiền mặt của dự án. Việc giải ngân có thể đợc thực hiện theo một
trong hai cách, thứ nhất bên thực hiện dự án định kỳ yêu cầu chủ đầu t giải ngân
khoản tiền hợp lệ dựa trên nhu cầu thực tế của dự án thông qua yêu cầu giải
ngân, chủ đầu t xem xét và quyết định cấp vốn thông qua tài khoản mở tại ngân
hàng đã lựa chọn, thứ hai có thể tiến hành giải ngân theo tỷ lệ % yêu cầu hợp lệ
đã thỏa thuận trong hợp đồng của dự án. Khi vốn đợc giải ngân, chúng đợc
chuyển tới một tài khoản đặc biệt trong ngân hàng, tài khoản này đợc lập riêng
cho dự án, đóng vai trò nh một tài khoản tạm ứng và đợc sử dụng để giải quyết
những khó khăn về tài chính mà đơn vị thực hiện dự án gặp phải trong qúa trình
thực hiện dự án. Kiểm toán viên phải thu thập tất cả các báo cáo chi tiêu trong
kỳ kiểm toán.
* Môi trờng kiểm soát của dự án
Công việc kiểm soát dự án đợc thực hiện thông qua ban quản lý dự án.
Quản lý dự án là việc áp dụng các hiểu biết, kỹ năng, công cụ, kỹ thuật vào dự
án nhằm đạt đợc các yêu cầu và mong muốn từ dự án. Quản lý dự án là quá
trình lập kế hoạch tổng thể, điều phối và kiểm soát một dự án từ khi bắt đầu đến
khi kết thúc nhằm đạt đợc những mục tiêu về thời gian, chi phí, kỹ thuật, chất l-
ợng. Ban quản lý dự án bao gồm giám đốc dự án, phó giám đốc dự án, giám đốc
chuyên môn dự án, giám đốc kỹ thuật dự án, tổng kiểm soát dự án. Môi trờng
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
kiểm soát là thái độ, nhận thức và hoạt động của Ban quản lý dự án, cơ cấu
kiểm soát đối với dự án, thể hiện nh sau:
+ Sự liêm chính, đạo đức và năng lực của các nhà quản lý.
+ Sự đầy đủ của các hệ thống đợc sử dụng nhằm xác định và giải quyết
các mâu thuẫn với lợi ích liên quan tới các bên.
+ Sự thích hợp của dự án và cơ cấu tổ chức của đơn vị thực hiện dự án.
+ Phơng pháp quản lý về ủy quyền và trách nhiệm.
+ Chức năng kiểm soát nội bộ đối với dự án.
+ Sự thích hợp của hoạt động và chính sách nhân sự trong đơn vị thực
hiện dự án, sự phân công phân nhiệm.
Kiểm toán viên phải có sự hiểu biết đầy đủ, rõ ràng về hệ thống kiểm
soát nội bộ của dự án, đây là bớc đi đầu tiên quan trọng của quá trình kiểm
toán. Không phải tất cả các hoạt động tại đơn vị thực hiện dự án đều liên quan
đến dự án, môi trờng dự án có thể bao gồm cả những hoạt động bên ngoài đơn
vị.
Mục đích của kiểm toán viên khi xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ của
dự án là để xác định, kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn, thích hợp về cách thức tổ
chức của hệ thống này. Qúa trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ bắt đầu
bằng việc xác định các yếu tố của hệ thống này. Đây là những yếu tố đảm bảo
cho nghiệp vụ kinh tế phát sinh đợc ghi nhận, tập hợp vào báo cáo. Các yếu tố
của hệ thống kiểm soát nội bộ cũng cần phải xem xét, trên khía cạnh an toàn
của tài sản và trách nhiệm pháp lý. Để đánh giá các yếu tố kiểm soát hay bất kỳ
một sự yếu kém tiềm tàng nào, kiểm toán viên phải xác định mức độ ảnh hởng
của việc kiểm soát tới báo cáo và quản lý tài chính của dự án. Trong khi tìm
hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên nên tập trung vào các yếu tố
liên quan đến chức năng kiểm soát tài chính và kế toán.
* Hệ thống kế toán của dự án
Hệ thống kế toán phải phù hợp với hệ thống quản lý tài chính của dự án,
đảm bảo việc cung cấp các thông tin tài chính chính xác, kịp thời, đầy đủ cho
việc ra quyết định.
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Luận văn tốt nghiệp
Thông qua hệ thống kế toán để kiểm soát chi phí của dự án, đối chiếu
giữa chi phí thực tế và dự toán. Chi phí và thu nhập của dự án cần phải đợc tập
hợp để khớp đúng với việc thu chi của dự án. Hệ thống kế toán của dự án phải
tuân thủ các chuẩn mực kế toán đã ban hành tại Việt Nam. Việc giải ngân của
dự án cần phải đợc ghi chép chính xác, rõ ràng.
Sản phẩm của hệ thống kế toán thể hiện ở các Báo cáo tài chính của dự
án. Báo cáo tài chính của dự án trình bày về nguồn vốn và việc sử dụng nguồn
vốn kể từ khi bắt đầu thực hiện dự án. Báo cáo tài chính của dự án bao gồm:
Báo cáo thu chi dự án, đơn vị thực hiện dự án phải lập báo cáo thu chi
cho tất cả các khoản thu chi của dự án.
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp phản ánh tình hình tài chính của
một đơn vị tại một thời điểm nhất định. Bảng cân đối kế toán thờng đợc lập vào
cuối kỳ kế toán, báo cáo cung cấp các thông tin về nguồn vốn, số d tài khoản
tiền gửi ngân hàng, các tài sản của dự án, công nợ,
Báo cáo chi tiêu của dự án, phơng pháp sao kê chi tiêu đợc sử dụng để
hoàn lại tiền cho đơn vị thực hiện dự án khi các chứng từ quá nhiều và cồng
kềnh. Theo thủ tục sao kê chi tiêu, định kỳ đơn vị thực hiện dự án yêu cầu rút
vốn thông qua việc đa ra một bản sao kê các khoản chi phí cho các khoản mục
hợp lệ trong hợp đồng. Báo cáo chi tiêu chỉ phản ánh các chi phí phát sinh phục
vụ cho các hoạt động của dự án và đợc rút ra từ tài khoản đặc biệt của dự án.
Báo cáo chi tiêu đợc lập theo đồng đôla hoặc theo đồng tiền thỏa thuận trong
hợp đồng. Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành kiểm tra các sao
kê chi tiêu, kiểm toán viên có thể sử dụng phơng pháp kiểm tra mẫu, kiểm soát
nếu thấy cần thiết trong mỗi trờng hợp cụ thể.
Báo cáo tài khoản đặc biệt, tài khoản đặc biệt là tài khoản cấp vốn bằng
tiền ứng trớc để trang trải cho các chi tiêu hợp lệ bằng cả nội và ngoại tệ. Tài
khoản đặc biệt đợc lập sao cho việc thực hiện dự án có hiệu quả hơn, khắc phục
vấn đề về lu chuyển tiền tệ. Thông thờng Bộ tài chính hay đơn vị thực hiện dự
án quản lý tài khoản đặc biệt trên sổ sách kế toán thích hợp để kiểm tra và xác
định các thay đổi trên tài khoản đặc biệt, đồng thời hàng tháng phải đệ trình
Nguyễn Thị Thảo Kiểm toán 42C
Bước đầu tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng.pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
miền núi, qua đó góp phần quan trọng vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết
văn học thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Trong những năm qua, các tác phẩm của Vi Hồng chưa được giới ngôn
ngữ học quan tâm đúng mức. Đã có khá nhiều bài viết cũng như công trình
nghiên cứu về các tác phẩm của ông nhưng các bài viết hay công trình này
mới chỉ dừng lại dưới dạng đánh giá chung hoặc phê bình một vài tác phẩm
cụ thể. Việc tìm hiểu ngôn ngữ nói chung, đặc biệt nghiên cứu về lời thoại nói
riêng trong tiểu thuyết của Vi Hồng đến nay dường như còn để ngỏ.
1.3. Tiếp cận tiểu thuyết Vi Hồng để tìm hiểu đặc điểm lời thoại trong
thể loại này của ông không chỉ giúp ta thấy được phong cách nghệ thuật của
văn xuôi Vi Hồng mà còn giúp ta thấy được lối nói riêng của người miền núi
Cao Bằng, thấy được sự đa dạng của lời thoại, từ đó góp phần củng cố lý
thuyết hội thoại nói riêng và lý thuyết ngữ dụng nói chung.
Thiết nghĩ, những điều trình bày trên đây cho thấy việc tìm hiểu lời
thoại trong văn xuôi Vi Hồng là công việc cần thiết và nên làm. Đó cũng
chính là những lý do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về nghiên cứu lý thuyết hội thoại
Từ lâu, hội thoại đã trở thành lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ đặc biệt quan tâm. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
hội thoại.
Trên thế giới, hội thoại được các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như
C.K.Orecchioni, H.P.Grice, G.Leech, D.Wilson khai thác khá toàn diện về
các vấn đề như: cấu trúc hội thoại, các quy tắc hội thoại hay sự vận động hội
thoại v.v
Ở Việt Nam, những vấn đề lý thuyết hội thoại đã được các nhà ngôn
ngữ học tiêu biểu như GS.TS Đỗ Hữu Châu, GS.TS Nguyễn Đức Dân,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
GS.TS Nguyễn Thiện Giáp đi sâu nghiên cứu. Trong công trình "Đại cương
Ngôn ngữ học" (Tập II, Ngữ dụng học), Đỗ Hữu Châu đã trình bày một cách
hệ thống và phân tích trên cứ liệu tiếng Việt về lý thuyết hội thoại với các nội
dung chủ yếu: vận động hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời các quy tắc
hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại và ngữ pháp hội thoại.
Cũng bàn về hội thoại, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn "Dụng học Việt
ngữ" đã đề cập đến các yếu tố của cấu trúc hội thoại, cặp thoại, câu đáp được
ưu tiên, sự trao đáp và thương lượng hội thoại, những lời ướm thử và những
yếu tố phi lời trong hội thoại,v.v
Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ cũng bước đầu tìm hiểu về lý thuyết hội
thoại như hai luận án tiến sĩ: "Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc
thoại, đoạn thoại" của Nguyễn Thị Đan, Trường Đại Sư phạm Hà Nội I, 1995
và "Đề tài diễn ngôn: Sự cộng tác hội thoại để hình thành đề tài diễn ngôn và
các hành vi dẫn nhập đề tài diễn ngôn" của Chu Thị Thanh Tâm, Trường Đại
Sư phạm Hà Nội I, 1995.
Lý thuyết hội thoại còn được soi sáng trong từng tác phẩm văn chương
cụ thể qua một số bài nghiên cứu, luận văn tiến sĩ hay luận văn cử nhân như:
luận án tiến sĩ "Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao" của Mai Thị Hảo Yến,
ĐHSP Hà Nội I, 2000; luận văn cử nhân"Tìm hiểu thoại dẫn trong tác phẩm
Tắt đèn của Ngô Tất Tố" của Vũ Thị Quyên, ĐHSP Thái Nguyên, 2003.
Trong hai công trình này, các giả đều chú ý tìm hiểu về thoại dẫn - một bộ
phận quan trọng của hội thoại chứ không đi sâu vào lời thoại.
Tóm lại, các công trình đã dẫn trên đây cho thấy hội thoại là một mảnh
đất màu mỡ cần được nghiên cứu và khai thác song việc đi sâu tìm hiểu lời
thoại trong từng tác phẩm cụ thể là vấn đề vẫn còn để ngỏ như đã nói ở trên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
2.2. Về nghiên cứu văn xuôi Vi Hồng
2.2.1. Từ góc độ văn chương
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các tác phẩm của nhà văn
Vi Hồng đã được quan tâm và chú trọng. Một số luận văn tốt nghiệp của sinh
viên Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã khai thác các tác phẩm của
nhà văn Vi Hồng dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong luận văn“Tính dân tộc trong tiểu thuyết: Tháng năm biết nói;
Chồng thật vợ giả và Núi cỏ yêu thương của nhà văn Vi Hồng" (Luận văn cử
nhân, ĐHSP Thái Nguyên, 2004), Nông Thị Quỳnh Trâm đã làm sáng tỏ và
khẳng định những đặc sắc của tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng trên
hai phương diện: nội dung (tìm hiểu tính dân tộc qua cảm hứng về thiên
nhiên, về phong tục tập quán, về nhân vật và cốt cách - tâm hồn nhân vật
trong tác phẩm) và hình thức (biện pháp so sánh - liên tưởng, câu văn giàu
hình ảnh, cách xây dựng kết cấu theo lối truyền thống ).
Cũng nghiên cứu về tính dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng, luận văn
thạc sĩ "Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng" (Luận văn thạc sĩ, ĐHSP
Thái Nguyên, 2003) của tác giả Hoàng Văn Huyên được xem là công trình
nghiên cứu công phu nhất về tiểu thuyết Vi Hồng từ trước đến nay. Trong đó,
luận văn đã chỉ ra cốt cách tâm hồn dân tộc Việt Bắc trong hệ thống nhân vật
Vi Hồng, chỉ ra một số phương diện nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc
như: lời văn giản dị, mộc mạc…
Còn tác giả Vi Hà Nguyên thì tìm hiểu "Hình tượng nhân vật thiếu nhi
trong truyện viết cho thiếu nhi của Vi Hồng" (Luận văn cử nhân, ĐHSP Thái
Nguyên, 2004). Trên cơ sở những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân
vật thiếu nhi của Vi Hồng, luận văn đã có được cái nhìn đúng đắn về sự phản
ánh con người miền núi trong sáng tác của nhà văn, thấy được nét độc đáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả, góp phần khẳng định những đóng góp
của Vi Hồng trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Đặc biệt, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng đã được TS Phạm
Mạnh Hùng - Đại học Thái Nguyên nghiên cứu một cách toàn diện trong đề
tài "Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng" (Đề tài khoa học cấp
Bộ năm 2003). Trong khi việc nghiên cứu và tìm hiểu văn xuôi Vi Hồng còn
mới mẻ thì đề tài này có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp những cứ liệu về
các tác phẩm của Vi Hồng.
2.2.2. Từ góc độ ngôn ngữ
Trên phương diện ngôn ngữ, có một số đề tài và luận văn cử nhân của
sinh viên như: "Giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Vi Hồng" (Đề tài nghiên
cứu khoa học, ĐHSP Thái Nguyên, 2005) của Ngô Thu Thuỷ, "Đặc điểm
ngôn ngữ trong tiểu thuyết "Người trong ống" của nhà văn Vi Hồng" (Luận
văn cử nhân, ĐHSP Thái Nguyên, 2007) của Trần Thị Hồng Nhung nghiên
cứu về các tác phẩm của nhà Vi Hồng từ các góc độ như: giọng điệu trần
thuật, cấu trúc ngữ pháp, cách sử dụng từ ngữ nhằm toát lên phong cách của
nhà văn.
Tuy nhiên, nếu xét từ phương diện ngữ dụng học thì hầu như chưa có
công trình nghiên cứu nào tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng một cách
bài bản và có hệ thống.
Tóm lại, các công trình đã dẫn trên cho thấy việc nghiên cứu văn xuôi
Vi Hồng dưới nhiều góc độ bắt đầu có sức thu hút nhiều người nghiên cứu.
Như đã nói ở mục lí do chọn đề tài, dưới góc độ văn chương, các tác phẩm
của nhà văn Vi Hồng đặc biệt được quan tâm bởi những nét độc đáo trong
ngôn ngữ cũng như trong cách xây dựng nhân vật của ông. Nhưng xét từ
phương diện ngữ dụng học, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hệ
thống về hội thoại nói chung và đặc điểm lời thoại nói riêng trong văn xuôi Vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Hồng. Vì thế, tác giả luận văn này đã chọn hướng nghiên cứu đặc điểm lời
thoại trong văn xuôi Vi Hồng từ phương diện ngữ pháp truyền thống, phương
diện ngữ dụng học và phương diện văn hoá. Hy vọng công trình này sẽ góp
phần làm sáng tỏ thêm những nét độc đáo của phong cách nhà văn Vi Hồng -
một trong số những nhà văn dân tộc thiểu số miền núi tiêu biểu của Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng, luận văn nhằm bốn
mục đích chính sau đây:
Thứ nhất: Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của lời thoại trong văn xuôi Vi
Hồng để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của ông.
Thứ hai: Tìm hiểu lời thoại trong văn Vi Hồng để hiểu thêm về ngôn ngữ
của đồng bào dân tộc Tày nói riêng và đồng bào miền núi Việt Bắc nói chung.
Thứ ba: Bước đầu tìm hiểu lý thuyết hội thoại từ góc nhìn văn hóa.
Thứ tư: Làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về ngôn
ngữ trong văn Vi Hồng nói riêng và trong văn xuôi nói về miền núi Việt Bắc
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ như: lý thuyết về ngữ dụng
học, lý thuyết ngữ pháp tiếng Việt (từ, câu ), lý thuyết về cơ sở văn hoá.
- Khảo sát và phân loại lời thoại trong văn Vi Hồng theo các tiêu chí
đặt ra.
- Miêu tả lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng về các phương diện: cấu tạo
ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng học.
- Tìm hiểu những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là lời thoại trong một số tác
phẩm văn xuôi tiêu biểu của Vi Hồng, đó là:
- Chồng thật - vợ giả;
- Đi tìm giàu sang;
- Núi cỏ yêu thương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Có thể nghiên cứu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng từ nhiều phương
diện nhưng luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng về mặt cấu tạo ngữ pháp;
- Tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng về mặt dụng học, cụ thể:
+ Tìm hiểu những lớp hành vi ngôn ngữ được sử dụng trong lời thoại ở
văn xuôi Vi Hồng;
+ Tìm hiểu chủ ngôn của các hành vi ngôn ngữ của lời thoại;
+ Tìm hiểu việc sử dụng hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn
ngữ gián tiếp trong lời thoại.
- Tìm hiểu những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong
văn xuôi Vi Hồng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê – phân loại: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê và phân loại lời thoại trong các tác phẩm văn xuôi của Vi
Hồng.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp nghiên cứu này
được dùng để phân tích lời thoại, tổng kết các kết quả nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
- Phương pháp đối chiếu – so sánh: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để đối chiếu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng với những cách diễn đạt
khác khi cần thiết để làm nổi bật đặc điểm và vai trò của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nguồn trích dẫn,
luận văn gồm 4 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết
Chƣơng 2. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện cấu tạo
ngữ pháp
Chƣơng 3. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện
dụng học
Chƣơng 4. Những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Luận văn này lấy lý thuyết về ngữ dụng học và lý thuyết về ngữ pháp
tiếng Việt là cơ sở chính để tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng.
Chương này chỉ trình bày sơ lược một số vấn đề lý thuyết về ngữ dụng học
như: lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh
và ý nghĩa hàm ẩn vì đó là những mảng lý thuyết còn mới mẻ.
Ngoài ra, chương này cũng điểm qua một vài nét về bản sắc văn hoá
dân tộc nói chung và bản sắc văn hoá Tày nói riêng để hiểu thêm về ngôn ngữ
trong văn xuôi Vi Hồng.
Lý thuyết về ngữ pháp học tiếng Việt mà luận văn sử dụng được trình
bày trong các công trình dẫn ở mục tài liệu tham khảo.
1. 1. Lý thuyết về ngữ dụng học
1.1.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong
đó có một phương tiện đặc biệt là ngôn ngữ. Sử dụng ngôn ngữ trong giao
tiếp nhằm gây ra các hiệu quả, tác động nào đó đối với nhân vật giao tiếp
chính là người nói đã dùng các hành vi ngôn ngữ.
Theo cách hiểu thứ nhất, hành vi ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động
ngôn ngữ, hành động phát ngôn) là một hành động đặc biệt của con người với
phương tiện là ngôn ngữ. Theo cách hiểu thứ hai, hành vi ngôn ngữ là "Một
đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện
nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có
liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó" [54,107].
Khi người nói (người viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người
đọc) trong một ngữ cảnh nhất định là người nói (người viết) đã thực hiện một
hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ có khả năng thay đổi trạng thái, tâm lý,
hành động của người nói, thậm chí của cả người nghe. Do vậy, hành vi ngôn
ngữ có vai trò rất lớn trong hoạt động giao tiếp của con người.
1.1.1.2. Phân loại các hành vi ngôn ngữ
a. Các lớp hành vi ngôn ngữ được phân loại theo quan điểm của
J.L.Austin
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành vi ngôn ngữ lớn đó là: hành vi tạo
lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.
- Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu…để tạo ra một phát ngôn về hình thức
và nội dung. Ví dụ: Để có được hành vi yêu cầu "Ngày mai các bạn phải tập
trung đúng giờ", trước hết người nói phải sử dụng các từ kết hợp với nhau
theo một quy tắc nhất định để tạo được phát ngôn đó.
- Hành vi mượn lời là hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn
là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người
nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ: Khi nghe phát ngôn sai
khiến: Bật quạt lên!, người nghe đứng dậy, đi về phía công tắc điện và bật quạt
lên. Song vì bị sai khiến nên người nghe có thể càu nhàu và tỏ vẻ khó chịu. Hành
động bật quạt, càu nhàu và thái độ khó chịu đều thuộc hành vi mượn lời. Chức
năng hành động của giao tiếp được thực hiện bằng các hiệu quả mượn lời.
- Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Chúng gây ra phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Các
hành vi như: hỏi, khuyên, mời, ra lệnh, hứa…đều là các hành vi ở lời. Ví dụ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Hành vi khuyên "Tôi khuyên bạn không nên hút thuốc lá" được thực hiện
ngay khi người nói phát âm ra phát ngôn và gây ra hiệu quả nhất định đối với
người nghe, đó có thể là sự nghe lời (đồng ý bỏ thuốc lá) hoặc phản đối
(không đồng ý bỏ thuốc lá). Ngữ dụng học chỉ quan tâm đến hiệu lực ở lời do
hành vi ở lời tạo ra.
Dựa vào động từ ngữ vi và một số tiêu chí khác, Austin đã chia hành vi
ở lời thành 05 phạm trù khác nhau như sau:
- Phạm trù thứ nhất là phán xử. Đây là những hành vi đưa ra những lời
phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên
hoặc dựa vào lý lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, v.v
- Phạm trù thứ hai là hành sử. Đây là những hành vi đưa ra những
quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ
huy, biện hộ cho, v.v
- Phạm trù thứ ba là cam kết. Những hành vi này ràng buộc người nói
vào một chuỗi hành động nhất định: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, v.v
- Phạm trù thứ tư là trình bày. Những hành vi này được dùng để trình
bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng
định, phủ định, từ chối,v.v
- Phạm trù thứ năm là ứng xử. Đây là những hành vi phản ứng đối với
các xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là
cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác: xin lỗi,
cảm ơn, khen ngợi,v.v
b. Các lớp hành vi ngôn ngữ theo quan điểm của J.R. Searle
Searle phân loại các hành vi ở lời theo nhiều tiêu chí chứ không chỉ dựa
và các động từ gọi tên chúng. Theo hướng đó, ông liệt kê 12 điểm khác biệt
giữa các hành vi ngôn ngữ có thể dùng làm tiêu chí phân loại đó là:
2
miền núi, qua đó góp phần quan trọng vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết
văn học thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Trong những năm qua, các tác phẩm của Vi Hồng chưa được giới ngôn
ngữ học quan tâm đúng mức. Đã có khá nhiều bài viết cũng như công trình
nghiên cứu về các tác phẩm của ông nhưng các bài viết hay công trình này
mới chỉ dừng lại dưới dạng đánh giá chung hoặc phê bình một vài tác phẩm
cụ thể. Việc tìm hiểu ngôn ngữ nói chung, đặc biệt nghiên cứu về lời thoại nói
riêng trong tiểu thuyết của Vi Hồng đến nay dường như còn để ngỏ.
1.3. Tiếp cận tiểu thuyết Vi Hồng để tìm hiểu đặc điểm lời thoại trong
thể loại này của ông không chỉ giúp ta thấy được phong cách nghệ thuật của
văn xuôi Vi Hồng mà còn giúp ta thấy được lối nói riêng của người miền núi
Cao Bằng, thấy được sự đa dạng của lời thoại, từ đó góp phần củng cố lý
thuyết hội thoại nói riêng và lý thuyết ngữ dụng nói chung.
Thiết nghĩ, những điều trình bày trên đây cho thấy việc tìm hiểu lời
thoại trong văn xuôi Vi Hồng là công việc cần thiết và nên làm. Đó cũng
chính là những lý do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về nghiên cứu lý thuyết hội thoại
Từ lâu, hội thoại đã trở thành lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ đặc biệt quan tâm. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
hội thoại.
Trên thế giới, hội thoại được các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như
C.K.Orecchioni, H.P.Grice, G.Leech, D.Wilson khai thác khá toàn diện về
các vấn đề như: cấu trúc hội thoại, các quy tắc hội thoại hay sự vận động hội
thoại v.v
Ở Việt Nam, những vấn đề lý thuyết hội thoại đã được các nhà ngôn
ngữ học tiêu biểu như GS.TS Đỗ Hữu Châu, GS.TS Nguyễn Đức Dân,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
GS.TS Nguyễn Thiện Giáp đi sâu nghiên cứu. Trong công trình "Đại cương
Ngôn ngữ học" (Tập II, Ngữ dụng học), Đỗ Hữu Châu đã trình bày một cách
hệ thống và phân tích trên cứ liệu tiếng Việt về lý thuyết hội thoại với các nội
dung chủ yếu: vận động hội thoại, các yếu tố kèm lời và phi lời các quy tắc
hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại và ngữ pháp hội thoại.
Cũng bàn về hội thoại, tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn "Dụng học Việt
ngữ" đã đề cập đến các yếu tố của cấu trúc hội thoại, cặp thoại, câu đáp được
ưu tiên, sự trao đáp và thương lượng hội thoại, những lời ướm thử và những
yếu tố phi lời trong hội thoại,v.v
Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ cũng bước đầu tìm hiểu về lý thuyết hội
thoại như hai luận án tiến sĩ: "Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại, cuộc
thoại, đoạn thoại" của Nguyễn Thị Đan, Trường Đại Sư phạm Hà Nội I, 1995
và "Đề tài diễn ngôn: Sự cộng tác hội thoại để hình thành đề tài diễn ngôn và
các hành vi dẫn nhập đề tài diễn ngôn" của Chu Thị Thanh Tâm, Trường Đại
Sư phạm Hà Nội I, 1995.
Lý thuyết hội thoại còn được soi sáng trong từng tác phẩm văn chương
cụ thể qua một số bài nghiên cứu, luận văn tiến sĩ hay luận văn cử nhân như:
luận án tiến sĩ "Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao" của Mai Thị Hảo Yến,
ĐHSP Hà Nội I, 2000; luận văn cử nhân"Tìm hiểu thoại dẫn trong tác phẩm
Tắt đèn của Ngô Tất Tố" của Vũ Thị Quyên, ĐHSP Thái Nguyên, 2003.
Trong hai công trình này, các giả đều chú ý tìm hiểu về thoại dẫn - một bộ
phận quan trọng của hội thoại chứ không đi sâu vào lời thoại.
Tóm lại, các công trình đã dẫn trên đây cho thấy hội thoại là một mảnh
đất màu mỡ cần được nghiên cứu và khai thác song việc đi sâu tìm hiểu lời
thoại trong từng tác phẩm cụ thể là vấn đề vẫn còn để ngỏ như đã nói ở trên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
2.2. Về nghiên cứu văn xuôi Vi Hồng
2.2.1. Từ góc độ văn chương
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các tác phẩm của nhà văn
Vi Hồng đã được quan tâm và chú trọng. Một số luận văn tốt nghiệp của sinh
viên Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã khai thác các tác phẩm của
nhà văn Vi Hồng dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong luận văn“Tính dân tộc trong tiểu thuyết: Tháng năm biết nói;
Chồng thật vợ giả và Núi cỏ yêu thương của nhà văn Vi Hồng" (Luận văn cử
nhân, ĐHSP Thái Nguyên, 2004), Nông Thị Quỳnh Trâm đã làm sáng tỏ và
khẳng định những đặc sắc của tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng trên
hai phương diện: nội dung (tìm hiểu tính dân tộc qua cảm hứng về thiên
nhiên, về phong tục tập quán, về nhân vật và cốt cách - tâm hồn nhân vật
trong tác phẩm) và hình thức (biện pháp so sánh - liên tưởng, câu văn giàu
hình ảnh, cách xây dựng kết cấu theo lối truyền thống ).
Cũng nghiên cứu về tính dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng, luận văn
thạc sĩ "Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng" (Luận văn thạc sĩ, ĐHSP
Thái Nguyên, 2003) của tác giả Hoàng Văn Huyên được xem là công trình
nghiên cứu công phu nhất về tiểu thuyết Vi Hồng từ trước đến nay. Trong đó,
luận văn đã chỉ ra cốt cách tâm hồn dân tộc Việt Bắc trong hệ thống nhân vật
Vi Hồng, chỉ ra một số phương diện nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc
như: lời văn giản dị, mộc mạc…
Còn tác giả Vi Hà Nguyên thì tìm hiểu "Hình tượng nhân vật thiếu nhi
trong truyện viết cho thiếu nhi của Vi Hồng" (Luận văn cử nhân, ĐHSP Thái
Nguyên, 2004). Trên cơ sở những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân
vật thiếu nhi của Vi Hồng, luận văn đã có được cái nhìn đúng đắn về sự phản
ánh con người miền núi trong sáng tác của nhà văn, thấy được nét độc đáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả, góp phần khẳng định những đóng góp
của Vi Hồng trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Đặc biệt, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng đã được TS Phạm
Mạnh Hùng - Đại học Thái Nguyên nghiên cứu một cách toàn diện trong đề
tài "Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng" (Đề tài khoa học cấp
Bộ năm 2003). Trong khi việc nghiên cứu và tìm hiểu văn xuôi Vi Hồng còn
mới mẻ thì đề tài này có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp những cứ liệu về
các tác phẩm của Vi Hồng.
2.2.2. Từ góc độ ngôn ngữ
Trên phương diện ngôn ngữ, có một số đề tài và luận văn cử nhân của
sinh viên như: "Giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Vi Hồng" (Đề tài nghiên
cứu khoa học, ĐHSP Thái Nguyên, 2005) của Ngô Thu Thuỷ, "Đặc điểm
ngôn ngữ trong tiểu thuyết "Người trong ống" của nhà văn Vi Hồng" (Luận
văn cử nhân, ĐHSP Thái Nguyên, 2007) của Trần Thị Hồng Nhung nghiên
cứu về các tác phẩm của nhà Vi Hồng từ các góc độ như: giọng điệu trần
thuật, cấu trúc ngữ pháp, cách sử dụng từ ngữ nhằm toát lên phong cách của
nhà văn.
Tuy nhiên, nếu xét từ phương diện ngữ dụng học thì hầu như chưa có
công trình nghiên cứu nào tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng một cách
bài bản và có hệ thống.
Tóm lại, các công trình đã dẫn trên cho thấy việc nghiên cứu văn xuôi
Vi Hồng dưới nhiều góc độ bắt đầu có sức thu hút nhiều người nghiên cứu.
Như đã nói ở mục lí do chọn đề tài, dưới góc độ văn chương, các tác phẩm
của nhà văn Vi Hồng đặc biệt được quan tâm bởi những nét độc đáo trong
ngôn ngữ cũng như trong cách xây dựng nhân vật của ông. Nhưng xét từ
phương diện ngữ dụng học, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hệ
thống về hội thoại nói chung và đặc điểm lời thoại nói riêng trong văn xuôi Vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Hồng. Vì thế, tác giả luận văn này đã chọn hướng nghiên cứu đặc điểm lời
thoại trong văn xuôi Vi Hồng từ phương diện ngữ pháp truyền thống, phương
diện ngữ dụng học và phương diện văn hoá. Hy vọng công trình này sẽ góp
phần làm sáng tỏ thêm những nét độc đáo của phong cách nhà văn Vi Hồng -
một trong số những nhà văn dân tộc thiểu số miền núi tiêu biểu của Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng, luận văn nhằm bốn
mục đích chính sau đây:
Thứ nhất: Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của lời thoại trong văn xuôi Vi
Hồng để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của ông.
Thứ hai: Tìm hiểu lời thoại trong văn Vi Hồng để hiểu thêm về ngôn ngữ
của đồng bào dân tộc Tày nói riêng và đồng bào miền núi Việt Bắc nói chung.
Thứ ba: Bước đầu tìm hiểu lý thuyết hội thoại từ góc nhìn văn hóa.
Thứ tư: Làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về ngôn
ngữ trong văn Vi Hồng nói riêng và trong văn xuôi nói về miền núi Việt Bắc
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ như: lý thuyết về ngữ dụng
học, lý thuyết ngữ pháp tiếng Việt (từ, câu ), lý thuyết về cơ sở văn hoá.
- Khảo sát và phân loại lời thoại trong văn Vi Hồng theo các tiêu chí
đặt ra.
- Miêu tả lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng về các phương diện: cấu tạo
ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng học.
- Tìm hiểu những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là lời thoại trong một số tác
phẩm văn xuôi tiêu biểu của Vi Hồng, đó là:
- Chồng thật - vợ giả;
- Đi tìm giàu sang;
- Núi cỏ yêu thương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Có thể nghiên cứu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng từ nhiều phương
diện nhưng luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng về mặt cấu tạo ngữ pháp;
- Tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng về mặt dụng học, cụ thể:
+ Tìm hiểu những lớp hành vi ngôn ngữ được sử dụng trong lời thoại ở
văn xuôi Vi Hồng;
+ Tìm hiểu chủ ngôn của các hành vi ngôn ngữ của lời thoại;
+ Tìm hiểu việc sử dụng hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn
ngữ gián tiếp trong lời thoại.
- Tìm hiểu những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong
văn xuôi Vi Hồng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê – phân loại: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê và phân loại lời thoại trong các tác phẩm văn xuôi của Vi
Hồng.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: phương pháp nghiên cứu này
được dùng để phân tích lời thoại, tổng kết các kết quả nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
- Phương pháp đối chiếu – so sánh: phương pháp nghiên cứu này được
dùng để đối chiếu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng với những cách diễn đạt
khác khi cần thiết để làm nổi bật đặc điểm và vai trò của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nguồn trích dẫn,
luận văn gồm 4 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết
Chƣơng 2. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện cấu tạo
ngữ pháp
Chƣơng 3. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện
dụng học
Chƣơng 4. Những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Luận văn này lấy lý thuyết về ngữ dụng học và lý thuyết về ngữ pháp
tiếng Việt là cơ sở chính để tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng.
Chương này chỉ trình bày sơ lược một số vấn đề lý thuyết về ngữ dụng học
như: lý thuyết về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết hội thoại, ý nghĩa tường minh
và ý nghĩa hàm ẩn vì đó là những mảng lý thuyết còn mới mẻ.
Ngoài ra, chương này cũng điểm qua một vài nét về bản sắc văn hoá
dân tộc nói chung và bản sắc văn hoá Tày nói riêng để hiểu thêm về ngôn ngữ
trong văn xuôi Vi Hồng.
Lý thuyết về ngữ pháp học tiếng Việt mà luận văn sử dụng được trình
bày trong các công trình dẫn ở mục tài liệu tham khảo.
1. 1. Lý thuyết về ngữ dụng học
1.1.1. Lý thuyết về hành vi ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong
đó có một phương tiện đặc biệt là ngôn ngữ. Sử dụng ngôn ngữ trong giao
tiếp nhằm gây ra các hiệu quả, tác động nào đó đối với nhân vật giao tiếp
chính là người nói đã dùng các hành vi ngôn ngữ.
Theo cách hiểu thứ nhất, hành vi ngôn ngữ (hay còn gọi là hành động
ngôn ngữ, hành động phát ngôn) là một hành động đặc biệt của con người với
phương tiện là ngôn ngữ. Theo cách hiểu thứ hai, hành vi ngôn ngữ là "Một
đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện
nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có
liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó" [54,107].
Khi người nói (người viết) ra một phát ngôn cho người nghe (người
đọc) trong một ngữ cảnh nhất định là người nói (người viết) đã thực hiện một
hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ có khả năng thay đổi trạng thái, tâm lý,
hành động của người nói, thậm chí của cả người nghe. Do vậy, hành vi ngôn
ngữ có vai trò rất lớn trong hoạt động giao tiếp của con người.
1.1.1.2. Phân loại các hành vi ngôn ngữ
a. Các lớp hành vi ngôn ngữ được phân loại theo quan điểm của
J.L.Austin
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành vi ngôn ngữ lớn đó là: hành vi tạo
lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.
- Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu…để tạo ra một phát ngôn về hình thức
và nội dung. Ví dụ: Để có được hành vi yêu cầu "Ngày mai các bạn phải tập
trung đúng giờ", trước hết người nói phải sử dụng các từ kết hợp với nhau
theo một quy tắc nhất định để tạo được phát ngôn đó.
- Hành vi mượn lời là hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn
là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người
nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ: Khi nghe phát ngôn sai
khiến: Bật quạt lên!, người nghe đứng dậy, đi về phía công tắc điện và bật quạt
lên. Song vì bị sai khiến nên người nghe có thể càu nhàu và tỏ vẻ khó chịu. Hành
động bật quạt, càu nhàu và thái độ khó chịu đều thuộc hành vi mượn lời. Chức
năng hành động của giao tiếp được thực hiện bằng các hiệu quả mượn lời.
- Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Chúng gây ra phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Các
hành vi như: hỏi, khuyên, mời, ra lệnh, hứa…đều là các hành vi ở lời. Ví dụ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Hành vi khuyên "Tôi khuyên bạn không nên hút thuốc lá" được thực hiện
ngay khi người nói phát âm ra phát ngôn và gây ra hiệu quả nhất định đối với
người nghe, đó có thể là sự nghe lời (đồng ý bỏ thuốc lá) hoặc phản đối
(không đồng ý bỏ thuốc lá). Ngữ dụng học chỉ quan tâm đến hiệu lực ở lời do
hành vi ở lời tạo ra.
Dựa vào động từ ngữ vi và một số tiêu chí khác, Austin đã chia hành vi
ở lời thành 05 phạm trù khác nhau như sau:
- Phạm trù thứ nhất là phán xử. Đây là những hành vi đưa ra những lời
phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên
hoặc dựa vào lý lẽ vững chắc như: xử trắng án, xem là, tính toán, v.v
- Phạm trù thứ hai là hành sử. Đây là những hành vi đưa ra những
quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, chỉ
huy, biện hộ cho, v.v
- Phạm trù thứ ba là cam kết. Những hành vi này ràng buộc người nói
vào một chuỗi hành động nhất định: hứa hẹn, bày tỏ lòng mong muốn, v.v
- Phạm trù thứ tư là trình bày. Những hành vi này được dùng để trình
bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng
định, phủ định, từ chối,v.v
- Phạm trù thứ năm là ứng xử. Đây là những hành vi phản ứng đối với
các xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan, chúng cũng là
cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác: xin lỗi,
cảm ơn, khen ngợi,v.v
b. Các lớp hành vi ngôn ngữ theo quan điểm của J.R. Searle
Searle phân loại các hành vi ở lời theo nhiều tiêu chí chứ không chỉ dựa
và các động từ gọi tên chúng. Theo hướng đó, ông liệt kê 12 điểm khác biệt
giữa các hành vi ngôn ngữ có thể dùng làm tiêu chí phân loại đó là:
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)