Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Hải Phòng

: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trờng và trực tiếp thu lợi
nhuận trên các khoản đầu t đó.
1.2.3. Nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM.
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản đợc nêu trên, trong hoạt động kinh doanh, các
NHTM còn tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị trờng nh : kinh
doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ t vấn, dịch vụ ngân quỹ,
nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong hoạt động cung ứng chứng khoán ra thị trờng
và hàng loạt những dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng nh : dịch vụ
bảo quản giấy tờ có giá, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ cầm đồ Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế hàng hoá đặc biệt là trong nền kinh tế theo cơ chế thị tr-
ờng, hoạt động thu - chi hộ, chuyển tiền qua Ngân hàng ngày càng đợc mở rộng và
phát triển. Các Ngân hàng đã không ngừng áp dụng những tiến bộ, thành tựu khoa
học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh doanh của ngân hàng làm cho nghiệp vụ
này ngày càng đợc thay đổi về chất.
2. vốn của ngân hàng thơng mại :
2.1. Khái niệm và đặc điểm vốn kinh doanh của NHTM:
Khi nói đến thuật ngữ Trung gian tài chính ngời ta thờng hay nghĩ tới hai
loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao gồm các Ngân hàng
thơng mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các trung gian đầu t (bao gồm các
công ty tài chính, các quỹ tơng trợ, các công ty bảo hiểm ). Nhng cho dù có đợc
hiểu thế nào đi chăng nữa thì NHTM, xét về khối lợng tài sản cũng nh những đóng
góp đối với nền kinh tế, vẫn luôn giữ một vai trò quan trọng. Các NHTM có thể đ-
ợc tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau, chẳng hạn nh Ngân hàng t nhân, Ngân
hàng cổ phần, Ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng liên doanh. Dới bất kỳ
hình thức nào, các NHTM vẫn luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu
và để làm đợc điều đó, công cụ duy nhất mà các Ngân hàng phải có đó là vốn.
Các nhà kinh tế đa ra định nghĩa về vốn của NHTM nh sau:
Vốn của Ngân hàng thơng mại là những giá trị tiền tệ do bản thân Ngân
hàng thơng mại tạo lập hoặc huy động đợc, dùng để cho vay, đầu t hoặc thực
hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Theo nh định nghĩa trên thì nguồn vốn mà Ngân hàng tạo lập đợc sẽ là một
phần thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và
tiêu dùng, đợc ngời chủ sở hữu của khoản vốn đó gửi vào Ngân hàng để thực hiện
các mục đích khác nhau. Nói cách khác, họ chuyển quyền sử dụng khoản vốn tiền
tệ đó cho Ngân hàng để rồi nhận đợc một khoản thu nhập từ phía ngân hàng. Nh
vậy, NHTM đã thực hiện vai trò tập trung và phân phối lại vốn cho nền kinh tế dới
hình thức tiền tệ, kết quả là làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, phục vụ và
5
kích thích mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh phát triển. Nhng đồng thời cũng
chính các hoạt động đó lại là yếu tố mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và
phát tiển hoạt động kinh doanh của chính Ngân hàng.
Vốn nói chung của Ngân hàng thơng mại bao gồm:
_ Vốn tự có.
_ Vốn huy động .
_ Vốn đi vay.
_ Vốn khác.
Mỗi loại vốn đều có những tính chất, vai trò riêng trong tổng nguồn vốn
hoạt động của Ngân hàng và đều có những tác động ít nhiều đến hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng thơng mại.
2.1.1 Vốn tự có.
Vốn tự có của NHTM là vốn thuộc sở hữu của ngân hàng. Vốn tự có chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt
buộc khi bắt đầu thành lập ngân hàng. Do tính chất thờng xuyên ổn định của vốn
tự có mà Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau nh: mua sắm
máy móc trang thiết bị phục vụ cho bản thân ngân hàng, cho vay và tham gia
đầu t góp vốn liên doanh. Mặt khác, với chức năng bảo vệ, vốn tự có đợc coi là tài
sản đảm bảo, gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trờng
hợp Ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn tự có của NHTM bao gồm:
_Vốn tự có cơ bản:
Vốn tự có cơ bản gồm có vốn pháp định và vốn điều lệ. Theo quyết
định số 327/QĐ- NH5 ban hành ngày 04/10/1997 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nớc Việt Nam thì: Vốn pháp định của NHTM là mức vốn tối thiểu phải có để
thành lập Ngân hàng, còn Vốn điều lệ của NHTM là vốn do các cổ đông đóng
góp và đợc ghi vào điều lệ hoạt động của Ngân hàng. Cũng theo quy định này,
để đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế thị trờng cũng nh tạo điều kiện
thuận lợi cho các Ngân hàng hoạt động kinh doanh thì vốn điều lệ của ngân hàng
phải luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định và có thể đợc hình thành từ nhiều
nguồn khác nhau tuỳ thuộc vào hình thức sở hữu, ví dụ: Đối với các Ngân hàng cổ
phần, vốn điều lệ là vốn do các cổ đông đóng góp dới hình thức mua cổ phiếu; còn
đối với các Ngân hàng quốc doanh, vốn điều lệ là vốn ban đầu do ngân sách cấp
_ Vốn tự có bổ sung:
Vốn tự có bổ sung là một bộ phận trong nguồn vốn tự có của NHTM, nó
tồn tại dới dạng các quỹ chuyên dụng cũng nh các quỹ đặc biệt của ngân hàng nh:
quỹ dự trữ bổ sung, quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ phúc lợi, quỹ khen thởng , các
6
khoản lợi nhuận cha phân phối. Và nhờ có nguồn vốn này mà vốn tự có của Ngân
hàng không ngừng đợc gia tăng cả về quy mô lẫn số lợng theo thời gian.
2.1.2 Vốn huy động.
Vốn huy động của NHTM đợc xem là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng
huy động đợc từ các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua việc
thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn và đợc dùng làm vốn kinh doanh. Trong
thực tế, ngân hàng có thể sử dụng nhiều công cụ huy động vốn khác nhau nhng
nhìn chung vẫn tập chung chủ yếu vào các công cụ sau:
a) Nhận tiền gửi:
Tiền gửi tại NHTM bao gồm có tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ
hạn. Trong đó:
_ Tiền gửi không kỳ hạn: là tiền gửi mà ngời gửi có thể rút ra sử dụng bất cứ
lúc nào và ngân hàng có trách nhiệm phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng.
Do tính lỏng cao nh vậy nên loại tiền gửi này thờng đợc ngân hàng trả lãi thấp
hoặc không đợc trả laĩ và bao gồm hai loại đó là: Tiền gửi thanh toán và tiền gửi
thanh toán thuần tuý.
_ Tiền gửi có kỳ hạn: khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn là
loại tiền gửi có sự thoả thuận trớc giữa khách hàng và Ngân hàng về thời gian rút
tiền. Phần lớn nguồn tiền gửi này có nguồn gốc từ tích luỹ và xét về bản chất
chúng đợc gửi vào Ngân hàng với mục đích hởng lãi.
b) Nhận tiền gửi tiết kiệm:
Về bản chất, tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận thu nhập của ngời lao động
cha sử dụng cho tiêu dùng, họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích luỹ tiền một
cách an toàn và hởng lãi trên khoản tiền gửi đó. Trên thực tế, trong nền kinh tế thị
trờng tiền gửi tiết kiệm đợc phát triển dới hai hình thức đó là: Tiền gửi tiết kiệm
không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
_ Tiền gỉ tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà ngời gửi có thể rút ra
bất cứ lúc nào song không đợc sử dụng cho việc thanh toán.
_ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi có sự thoả thuận giữa Ngân
hàng và ngời gửi về thơì gian rút tiền (thờng có lãi suất cao hơn tiền gửi không kỳ
hạn).
c) Các nguồn huy động khác:
Bên cạnh nghiệp vụ nhận tiền gửi, các NHTM còn sử dụng một số
nghiệp vụ trên thị trờng mở để huy động vốn nh: phát hành chứng chỉ tiền gửi và
trái phiếu Thực chất các nghiệp vụ này là ngân hàng huy động vốn từ nền kinh
7
tế bằng việc phát hành các chứng từ có giá. Trong đó, chứng chỉ tiền gửi là công
cụ nợ ngắn hạn và trái phiếu là công cụ nợ trung và dài hạn. Việc phát hành hai
loại phiếu nợ này tuỳ thuộc vào mục đích huy động vốn của Ngân hàng cũng nh sự
chấp thuận của Ngân hàngTrung ơng.
2.1.3. Vốn đi vay.
Đây là vốn đợc hình thành trên quan hệ vay mợn giữa Ngân hàng thơng mại
với Ngân hàng Trung ơng hoặc với các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn này th-
ờng đợc sử dụng khi Ngân hàng đã sử dụng hết lợng vốn khả dụng mà vẫn không
đủ vốn hoạt động kinh doanh (hay thiếu vốn khả dụng). Thông thờng, NHTM sẽ u
tiên việc vay từ các tổ chức tín dụng trong nền kinh tế trớc, sau đó mới đến vay
Ngân hàng Trung ơng, có nghĩa là NHTM chỉ vay Ngân hàng Trung ơng khi đã
thực hiện các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn đáp ứng
cho nhu cầu sử dụng của ngân hàng.
2.1.4. Vốn khác.
Ngoài các hình thức huy động và vay vốn nh trên, NHTM còn có thể tạo lập
vốn kinh doanh cho mình thông qua việc thực hiện một số nghiệp vụ nh: làm trung
gian thanh toán, làm nghiệp vụ đại lý qua đó Ngân hàng có thể sử dụng một lợng
vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ
hoặc chi hộ khách hàng.
Tóm lại, trong cơ cấu vốn kinh doanh của NHTM, vốn huy động có thể nói
là chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, điều này hoàn
toàn phù hợp về mặt cơ sở lý luận vì Ngân hàng thơng mại luôn đợc xem là doanh
nghiệp kinh doanh đồng vốn, lấy vốn vay để cho vay. Nh vậy, vốn huy động là
công cụ chính trong hoạt kinh doanh của các NHTM, giữ vị trí quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, quyết định trực tiếp tới những nguồn lợi
cũng nh uy tín của Ngân hàng.
2.2. Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.
2.2.1. Vốn là cơ sở nền tảng để NHTM hoạt động kinh doanh.
Nh đã biết, vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp duy trì và
phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và đánh giá hiệu
quả các hoạt động kinh tế. Đối với Ngân hàng, vốn còn là cơ sở nền tảng để tiến
hành tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Thật vậy, với đặc trng của Ngân hàng là
tổ chức kinh doanh loại hàng hoá đặc biệt trên thị trờng tiền tệ và thị trờng vốn thì
vốn không còn đơn thuần là phơng tiện kinh doanh mà nó còn là đối tợng kinh
doanh chính của NHTM, trực tiếp quyết định tới quy mô hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng. Nh vậy, những Ngân hàng có vốn lớn sẽ có nhiều thế mạnh trong
8
kinh doanh, ngợc lại những Ngân hàng không có hoặc có ít vốn cũng đồng nghĩa
với việc gặp nhiều khó khăn khi tiến hành kinh doanh.
2.2.2.Quyết định khả năng cạnh tranh của NHTM.
Những NHTM có quy mô lớn, trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên
cao cũng nh trang bị phơng tiện kỹ thuật hiện đại là tiền đề quan trọng cho việc
thu hút vốn. Đồng thời khả năng vốn lớn lại là điều kiện thuận lợi đối với Ngân
hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các tổ chức kinh tế xã hội trong nền
kinh tế. Khi đó, Ngân hàng sẽ thu hút đợc ngày càng nhiều khách hàng đến với
ngân hàng, kết quả là doanh số hoạt động của Ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng
và Ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Mặt khác, vốn lớn sẽ
giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa dạng trên thị tr-
ờng, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh nh: kinh doanh chứng khoán, kinh doanh
dịch vụ thuê mua chứ không chỉ dừng lại ở dịch vụ cho vay đơn thuần. Và chính
các hình thức kinh
doanh đa dạng này đã góp phần phân tán giảm thiểu rủi ro, tạo thêm vốn cũng nh
tăng sức cạnh tranh cho NHTM trên thị trờng.
2.2.3. Đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của NHTM.
Trong hoạt động Ngân hàng, uy tín có thể nói là yếu tố quan trọng, quyết
định trực tiếp đến sự sống còn của Ngân hàng. Uy tín của ngân hàng trong kinh
doanh đợc thể hiện trớc hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách
hàng. Khả năng thanh toán chi trả của Ngân hàng càng cao thì uy tín cũng nh vốn
khả dụng của ngân hàng càng lớn. Hay nói cách khác, khả năng thanh toán của
Ngân hàng tỷ lệ thuận với lợng vốn của Ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của
Ngân hàng nói riêng.
Nh vậy, với khả năng cung ứng vốn lớn, các NHTM có thể tiến hành hoạt
động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, cạnh tranh có hiệu quả nhng
đồng thời lại giữ đợc chữ tín và nâng cao danh tiếng của Ngân hàng.
2.2.4. Quyết định quy mô hoạt động kinh doanh của NHTM.
Thực tế đã chứng minh, những Ngân hàng có vốn lớn thờng có khoản mục
đầu t và cho vay đa dạng hơn rất nhiều so với những Ngân hàng có quy mô vốn
nhỏ, phạm vi và khối lợng cho vay của các Ngân hàng này cũng lớn hơn. Thật vậy,
trong khi các NHTM lớn có thể cho vay tại thị trờng trong nớc thậm chí là cả thị
trờng quốc tế thì các NHTM nhỏ lại bị giới hạn trong phạm vi hẹp, thờng là thị tr-
ờng khu vực, thị trờng địa phơng. Hơn nữa, do lợng vốn hạn hẹp nên các NHTM
nhỏ sẽ không phản ứng nhanh nhạy trớc những tình huống biến động về lãi suất thị
trờng, từ đó tác động đến khả năng thu hút vốn đầu t từ các tầng lớp dân c và các
thành phần kinh tế. Vì vậy, khi khả năng vốn của NHTM dồi dào thì chắc chắn
9
ngân hàng sẽ mở rộng và đáp ứng đợc nhu cầu vay vốn, có điều kiện để mở rộng
thị trờng tín dụng, tăng đều khả năng thanh toán và dịch vụ Ngân hàng.
3. Các hình thức huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trờng:
Sau khi đã sử dụng hết lợng vốn tự có nhng vẫn cha đáp ứng đủ nhu cầu
giao dịch, thanh toán của khách hàng thì các NHTM phải tiến hành huy động vốn
từ bên ngoài. Thông thờng nguồn vốn huy động này chiếm một tỷ trọng tơng đối
lớn trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng, nó rất cần thiết và không thể thiếu,
đảm bảo cho Ngân hàng có thể hoạt động một cách bình thờng. Quá trình huy
động vốn của NHTM chủ yếu dới các hình thức sau:
3.1. Huy động vốn bằng tiền gửi không hỳ hạn.
Nh trên đã trình bày, tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà chủ sở hữu của
khoản tiền này có thể rút tiền hoặc trả cho đối tác kinh doanh của họ bằng hình
thức phát séc. ở những nớc có hệ thống Ngân hàng phát triển hoạt động dựa trên
công nghệ cao, thì việc rút tiền từ tài khoản này phần lớn đợc thực hiện bằng điện
thoại hoặc thực hiện qua các máy rút tiền tự động ATM đợc lắp đặt rộng rãi.
Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu là
thanh toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát
sinh một cách thờng xuyên. Nên việc dễ dàng chuyển nhợng, dễ dàng thanh toán
đợc xem là yếu tố rất quan trọng , còn việc hởng lãi đối với khoản tiền gửi này
chỉ là thứ yếu. Do đó, loại tiền gửi này còn đợc gọi là tiền gửi theo yêu cầu, nó
không đem lại lợi tức cao cho ngời gửi. Ngợc lại, đối với NHTM thì đây lại là một
khoản vốn huy động với mức chi phí thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy
động đợc khác. Ngân hàng chỉ phải bỏ ra những khoản chi phí nhỏ về quản lý tài
khoản hoặc trả lãi (nếu có thì nó cũng rất nhỏ) bù lại là đợc sử một phần lớn làm
vốn kinh doanh.
Tuy nhiện, vốn tiền gửi không kỳ hạn lại là khoản vốn có sự biến động
nhiều nhất, số d của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất
kinh doanh của ngời gửi tiền. Do vậy, NHTM chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn
vốn này khi và chỉ khi đa ra đợc các dự đoán về sự biến động số d trên tài khoản
tiền gửi này một cách chính xác.
3.2. Huy động vốn bằng tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là
hai loại tiền gửi có tính ổn định hơn, chi phí huy động và quản lý cao
hơn, hơn nữa hai loại tiền gửi này lại có độ nhạy cảm cao về lãi suất nên trong quá
trình huy động cũng có những điểm khác biệt.
10
3.2.1. Huy động tiền gửi có kỳ hạn.
Đây là loại tiền gửi trong đó đã có sự thoả thuận giữa ngời gửi tiền và Ngân
hàng về lãi suất và thời hạn rút tiền. Về cơ bản, các khoản tiền gửi này thờng có kỳ
hạn tơng đối dài và không đợc sử dụng để tiến hành thanh toán nh các khoản chi
trả bằng vốn trên tài khoản vãng lai. Chính vì vậy, mức lãi suất đối với loại tiền gửi
này có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của khách hàng với
Ngân hàng. Đối với các khoản tiền gửi có lãi suất linh hoạt, khách hàng có thể gửi
thêm tiền trớc hạn định.
Hiện nay, để thu hút ngời gửi tiền, các NHTM đã liên tục đa ra các hình
thức nhận tiền gửi hấp dẫn, theo đó ngoài việc nhận đợc một khoản lợi tức tiền
gửi, khách hàng còn có thể chuyển nhợng đợc chứng chỉ tiền gửi của mình. Bằng
hình thức này, Ngân hàng có thể thu hút vốn từ các nhà đầu t lớn mà lẽ ra các nhà
đầu t này đã có thể dùng vốn đó đầu t vào trái phiếu kho bạc hay thị trờng tiền tệ.
ở nớc ta hiện nay, các Ngân hàng cũng đã bắt đầu đa ra nhiều hình thức gửi
tiền có kỳ hạn bằng các chứng chỉ tiền gửi với kỳ hạn 3, 6, 9, 12 tháng hoặc kỳ
phiếu Ngân hàng có mục đích. Và chỉ sau một thời gian ngắn hình thức huy động
vốn này đã phát huy tác dụng và ngày càng chiếm tỷ trọng vốn huy động cao trong
quá trình huy động vốn của NHTM.
3.2.2. Huy động tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã đợc coi là công cụ huy động vốn truyền thống
của các NHTM. Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thờng chiếm một tỷ trọng tơng
đối trong cơ cấu tiền gửi vào Ngân hàng, ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM
Việt nam chiếm khoảng 60- 70% tổng tiền gửi, còn ở Mỹ là khoảng 25%. Tiền gửi
tiết kiệm bao gồm các loại chủ yếu sau:
_ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức gửi tiền mà ngời gửi có
thể đến Ngân hàng rút tiền bất kỳ lúc nào mà không phải báo trớc. Số d trên tài
khoản tiền gửi này thờng không lớn, nhng nó lại có u điểm hơn hẳn so với các tài
khoản tiền gửi giao dịch đó là: số d trên tài khoản này thờng ít biến động. Do đó,
chi phí để huy động đợc nguồn vốn này là tơng đối cao.
_ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Đây là loại tiền đợc gửi vào Ngân hàng trên cơ sở có sự thoả thuận về thời
hạn, lãi suất giữa khách hàng với Ngân hàng. Nh vậy, về nguyên tắc thì một khi
khách hàng đã gửi tiền vào Ngân hàng, họ sẽ không đợc rút tiền ra trừ khi đến hạn
rút tiền. Tuy nhiên, để khuyến khích ngời dân gửi tiền, Ngân hàng vẫn cho phép
11
khách hàng rút tiền trớc thời hạn. Khi đó, khách hàng thờng chỉ đợc hởng một
mức lãi suất thấp hơn so với mức lãi suất đã thoả thuận ban đầu.
Mục đích chính của ngời gửi khi gửi tiền theo hình thức này là tìm kiếm lợi
tức nên vấn đề lãi suất tiền gửi là rất quan trọng. Đối với Ngân hàng, đây là nguồn
vốn khá ổn định. Nhằm mục đích phục vụ cho các nhu cầu khác nhau của khách
hàng cũng nh các nhu cầu về vốn của ngân hàng, các Ngân hàng thờng áp dụng
các loại tiết kiệm với kỳ hạn 3, 6, 9, 12 tháng hay kỳ hạn 1, 2 năm và ứng với nó là
các mức lãi suất thích hợp theo nguyên tắc thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao.
_ Tiền gửi tiết kiệm có bảo đảm:
Đây là một trong những hình thức hấp dẫn để huy động vốn trung và dài
hạn vì nó loại bỏ tâm lý lo sợ đồng tiền bị mất giá của ngời dân. Vì vậy, nó có tác
dụng với việc thu hút tiền gửi trung và dài hạn.
Theo hình thức này, số tiền khách hàng gửi vào ngân hàng sẽ đợc quy ra giá
trị vàng hoặc ngoại tệ mạnh với trị giá tơng đơng. Khi hết hạn, khách hàng sẽ nhận
lại số tiền tơng đơng với giá trị vàng hoặc ngoại tệ đó cộng thêm phần tính lãi trên
số tiền gửi. Hình thức này có u điểm ở chỗ ngời gửi đợc đảm bảo về giá trị vốn
gốc của mình, đồng thời vẫn có lãi. Có thể nói, loại hình tiết kiệm này không chỉ
tốt đối với ngời gửi tiền mà còn tốt đối với cả NHTM. Do vậy, NHTM cần phải
đặc biệt quan tâm đến hình thức huy động vốn này nhằm tạo ra những nguồn vốn
có tính ổn định cao phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn trung và dài hạn của mình.
3.3. Huy động vốn qua đi vay.
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng nh vị trí đặc biệt quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thơng mại không chỉ về mặt
quy mô đơn thuần mà còn mang ý nghĩa nh là một biện pháp quản lý các danh
mục trng tài sản nợ. Vốn vay của Ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau nhng chủ yếu vẫn bao gồm những nguồn cơ bản sau:
3.3.1. Vay từ Ngân hàng trung ơng.
Để tồn tại và phát triển thì NHTM phải cho vay, nó cho vay tới mức mà
Ngân hàng Trung ơng (NHTƯ) cho phép để tối đa hoá lợi nhuận. Thế nhng không
phải lúc nào hoạt động của nó cũng thuận buồm xuôi gió. Dẫu có thận trọng đến
mức nào đi nhăng nữa trong hoạt cho vay thì Ngân hàng cũng khó tránh khỏi
những lúc thiếu khả năng chi trả hay thanh toán cho khách hàng. Trong những tr-
ờng hợp đó, giải pháp cuối cùng sau khi đã thực hiện các biện pháp tài chính cần
thiết mà vẫn không tìm kiếm đủ vốn là đi vay NHTƯ. NHTƯ với t cách là ngân
hàng của các ngân hàng sẽ trở thành vị cứu tinh cho các NHTM trong trờng hợp
thiếu vốn thanh toán.
12
Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều cho phép NHTM và các tổ chức tài
chính khác trong nớc mình đợc phép vay tiền từ NHTƯ trong những trờng hợp cấp
thiết nh: thiếu hụt dự trữ hoặc quá kẹt về vốn. Tuy nhiên để giữ ổn định giá trị
đồng bản tệ cũng nh ngăn chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc vay vốn,
NHTƯ thờng không muốn cho các NHTM vay quá nhiều, khi đó nó có thể nâng
mức lãi suất chiết khấu, lãi suất phạt lên cao hoặc đa ra những điều kiện vay mà
hiếm NHTM nào có thể chịu đợc.
ở nớc ta hiện nay, các Ngân hàng thơng mại vay vốn từ Ngân hàng Trung -
ơng chủ yếu dới các hình thức sau:
_ Vay vốn ngắn hạn bổ sung: Đây là hình thức các NHTM xin vay vốn bổ
sung cho vốn ngắn hạn của mình. Trong hình thức vay này, các Ngân hàng thơng
mại chỉ đợc vay khi còn hạn mức tín dụng và trong hạn mức tín dụng mà Ngân
hàng đã thoả thuận.
_ Vay để thanh toán: Là khoản vay có thời hạn tơng đối ngắn, đợc NHTM sử
dụng để bù đắp những thiếu hụt tạm thời trong thanh toán.
_ Tái cấp vốn: NHTƯ cho các ngân hàng thơng mại vay trên cơ sở những chứng
từ có giá. Các chứng từ này phải là những chứng từ có chất lợng, có thể chuyển đổi
thành tiền khi cần thiết. Tái cấp vốn đợc thực hiện dới hai hình thức: Cho vay tái
chiết khấu và cho vay có đảm bảo. Trong đó:
* Vay tái chiết khấu là hình thức NHTƯ nhận các chứng từ có giá mà các
NHTM đã chiết khấu trớc đây và thực hiện các nghiệp vụ giống nh NHTM
đã làm.
* Vay có bảo đảm là hình thức NHTM đem các chứng từ có giá đến
NHTƯ để làm đảm bảo xin vay vốn.
Nh vậy, dù vay ít hay vay nhiều, một năm đôi ba lần hoặc thậm chí không
đi chăng nữa thì dịch vụ vay từ NHTƯ vẫn là khoản mục hiển nhiên trong tài sản
nợ của NHTM. Bởi vì cho đến giờ không một NHTM nào là cha hề vay tiền từ
NHTƯ từ khi thành lập và vì đây còn là nguồn vốn vay mạnh nhất, đảm bảo nhất
giúp NHTM có thể vợt qua khó khăn trong trờng hợp xấu nhất.
3.3.2. Vay từ các tổ chức tín dụng khác.
Cũng giống nh trên, trong quá trình hoạt động của mình có những lúc
NHTM phải đối đầu với những tình huống khó khăn về tài chính nh: thiếu hụt dự
trữ bắt buộc, mất khả năng thanh toán những khoản tiền lớn và để tránh nguy cơ
mất khách hàng, bảo đảm uy tín cho Ngân hàng thì giải pháp tốt nhất là đi vay.
NHTM có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau và một trong số đó là đi vay từ
13
các tổ chức tín dụng khác trên thị trờng liên Ngân hàng hay thị trờng tiền tệ trong
và ngoài nớc.
Việc vay mợn vốn giữa các NHTM, giữa NHTM với các tổ chức tín dụng
khác đợc diễn ra liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nó
hình thành nên một loại tài sản nợ khá thờng xuyên trong bảng cân đối tài sản.
Mặt khác nó còn đảm bảo cho Ngân hàng có những mối quan hệ tốt với các Ngân
hàng khác trong cùng hệ thống, đồng thời tạo ra cơ hội cho các Ngân hàng giúp đỡ
lẫn nhau trong quá trình kinh doanh.
3.4. Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ.
Để đa dạng hoá các kênh khai thác nhằm tập trung vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế, Ngân hàng không những chỉ đi vay của Ngân hàng Nhà nớc hay
của các tổ chức tín dụng, các NHTM khác mà còn chú trọng nguồn vốn hình thành
từ nghiệp vụ phát hành công cụ nợ ra thị trờng.
Các NHTM có thể phát hành các loại công cụ nợ ra thị trờng để huy động
vốn nh: chứng chỉ tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn, trái phiếu, kỳ phiếu
Trong đó, việc huy động vốn bằng các công cụ nợ ngắn hạn (gồm có chứng chỉ
tiền gửi, giấy thoả thuận mua lại ) lại có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài
sản nợ bên cạnh việc huy động vốn, bởi vì nó có thể đợc sử dụng mọi lúc khi cần
thiết.
Mức lãi suất đợc trả cho loại công cụ nợ ngắn hạn này thờng đợc quy định
bằng cách thỏa thuận trực tiếp giữa Ngân hàng và ngời gửi tiền hoặc đợc quy định
ở mức mà ngời gửi có thể chấp nhận đợc. Có thể nói, những ngời mua chứng chỉ
tiền gửi này rất nhạy cảm với những biến động của lãi suất trên thị trờng. Do vậy,
để có thể làm chủ đợc nguồn vốn này đòi hỏi các NHTM phải đa ra mức lãi suất
cao hơn so với mức lãi suất của các loại chứng chỉ tiền gỉ khác hoặc cũng có thể
cao hơn cả mức lãi suất của trái phiếu.
Khác với các công cụ nợ ngắn hạn, trái phiếu đợc coi là những công cụ nợ
dài hạn trên thị trờng vốn, đợc NHTM tung ra nhằm mục đích huy động những
khoản vốn nhàn rỗi đủ lớn trong thời gian tơng đối dài để thực hiện các dự án đầu
t dài hạn. Vốn đợc huy động bằng trái phiếu thờng có tính ổn định cao về thời gian
sử dụng và lãi suất. Với những nớc có ngành ngân hàng phát triển, thì hầu hết các
trái phiếu Ngân hàng đều đợc đa vào giao dịch chính thức hay giao dịch tự do trên
thị trờng chứng khoán. Vì vậy tính lỏng của chứng khoán Ngân hàng là khá cao,
ngời nắm giữ chứng khoán có thể thu hồi vốn bất cứ lúc nào mà họ muốn. Điều đó
không chỉ tạo thuận lợi cho Ngân hàng trong việc thu hút vốn mà còn thuận lợi
đáng kể cho cả khách hàng.
3.5. Các hình thức huy động vốn khác.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét