mối quan hệ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất
nội địa”, thì tại Hội nghị Trung ương lần thứ 3 khoá VII đã có bước tiến trong
xác định nội dung cụ thể của hội nhập quốc tế, trong dó khẳng định phải khai
thông quan hệ với các tổ chức kinh tế quốc tế. Tư tưởng này được khẳng định lại
tại hội nghị Trung ương 7 khóa VII là “từng bước tham gia các hội, các tổ chức
kinh tế, thương mại thế giới và khu vực”.
Đại hội VIII của Đảng tiếp tục phát triển và khẳng định về sự cần thiết
cũng như làm rõ thêm nội dung và tiến trình hội nhập. Nghị quyết Đại hội nhấn
mạnh “xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu vực vào thế giới, hướng
mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng sản phẩm trong nước sản
xuất có hiệu quả”.
Để làm rõ thêm tính tất yếu về vấn đề Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế,
chúng ta phải tính đến những tác dụng to lớn mà quá trình hội nhập đem lại cho
đất nước.
2. Những tác dụng to lớn mà kinh tế đối ngoại đem lại cho Việt Nam
Ngày nay, quá trình kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho chúng ta tiếp cận với
nguồn vốn và công nghệ kỹ thuật cũng như công nghệ quản lý. Quan hệ trao đổi
buôn bán hàng hóa và dịch vụ giữa nước ta với các nước khác gia tăng mạnh
mẽ. Đặc biệt là sự chu chuyển của các dòng vốn: Tính đến tháng 9 năm 1999
chúng ta đã thu hút được 35,9 tỷ USD FDI của hơn 70 quốc gia và lãnh thổ trên
thế giới, trong đó đầu tư vào công nghiệp và xây dựng là gần 51%. Cùng với
vốn FDI chúng ta còn tiếp nhận một lượng không nhỏ nguồn vốn qua kênh
ODA. Nguồn ODA thực sự có ý nghĩa quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng,
cả phần cứng và phần mềm đối với Việt Nam. Tính ra mức vốn nước ngoài hiện
nay chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ đóng góp của khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài trong GDP đều tăng lên qua các năm. Năm 1993
đạt ,6% đến năm 1998 đạt 9%, năm 1999 đạt khoảng 10,5%. Nguồn thu ngân
sách từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 370 USD.
5
Đây còn là môi trường mở ra giúp cho nước chúng ta tìm và thực hiện
được các dự án đầu tư từ nước ngoài vào. Nó thực sự có ý nghĩa quan trọng
trong phát triển cơ sở hạ tầng, cả phần cứng lẫn phần mềm đối với Việt Nam.
Bên cạnh cơ hội tận dụng khả năng sử dụng các nguồn vốn, nước ta còn
được thụ hưởng những thành quả tiến bộ của kỹ thuật và công nghệ sản xuất
mới. Ngày nay, tốc độ phổ cập tri thức mới, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến diễn
ra nhanh chóng, đa dạng thông qua nhiều hình thức và các kênh truyền thông
khác nhau, mà chuyển giao công nghệ là một đặc trưng, một yêu cầu đối với
chúng ta trong sự phát triển. Thông qua tiếp nhận và chuyển giao công nghệ,
Việt Nam có thể nhanh chóng tiếp cận, bám đuổi và thu hẹp khoảng cách tụt hậu
so với các nước đi trước, nhất là với các ngành công nghệ mới, công nghệ mũi
nhọn hay các lĩnh vực thuộc lợi thế của mỗi quốc gia, nhờ đó nâng dần sức sản
xuất và năng lực khoa học trong nước.
Việt Nam được xếp vào các nước có tốc độ phát triển hạ tầng công nghệ
thông tin nhanh nhất thế giới, là bằng chứng cho tốc độ và sự chủ động hội nhập
của chúng ta.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sẽ làm cho quá trình cạnh
tranh giữa nước ta và các nước khác trên thế giới thêm gay gắt, thị trường mở
rộng không ngừng, do đó thúc đẩy chuyên môn hoá sản xuất, kích thích tăng
năng xuất lao động. Nhờ hợp lý hoá sản xuất và áp lực cạnh tranh, chúng ta tạo
được sự tiết kiệm trong sản xuất, hạ giá thành, tăng hiệu quả cũng như chất
lượng của các mặt hàng. Từ đó sẽ tạo được sức hút hấp dẫn với các sản phẩm
của chúng ta. Hiện nay ở nước ta chính phủ cũng như doanh nghiệp đang hết sức
nỗ lực chuẩn bị cho sự hội nhập vào AFTA vào năm 2006.
Quá trình Việt Nam gia nhập kinh tế đối ngoại sẽ nhanh chóng góp phần
nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nền tảng cho dân chủ phát triển. Giao lưu
kinh tế giữa các nước đưa lại điều kiện hội nhập giữa con người của những nền
văn hoá, góp phần nâng cao giá trị văn hoá truyền thống, xoá bỏ hủ tục phi nhân
văn, mở ra điều kiện cho con người phát triển và cho sự chung sống hoà bình
6
của các nền văn hoá trong không gian toàn cầu. Đồng thời, nó sẽ giải quyết được
những vấn đề về việc làm và gia tăng thu nhập. Sự chuyển dịch lao dộng đang
diễn ra theo nhiều phương diện, Việt Nam có cơ hội xuất khẩu lao động sang
các nước phát triển để thu được ngoại tệ từ bên ngoài vào. Ngoài ra, lao động có
trình độ cao sẽ tập trung vào các ngành, lĩnh vực kinh tế mới, như các hoạt động
dịch vụ, thương mại, công nghiệp chế biến… Sự phát triển của các ngành này
tạo thêm nhiều việc làm mới, do đó tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống và chất
lượng nguồn nhân lực sẽ tăng dần thích ứng với quá trình xã hội hoá lao động.
II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA QUAN HỆ KINH TẾ
ĐỐI NGOẠI
1. Nguyên tắc bình đẳng
Đây là nguyên tắc làm nền tảng cho việc thiết lập quan hệ giữa các quốc
gia nói chung và cho việc thiết lập quan hệ quốc tế giữa các quốc gia cũng như
giữa các đối tác kinh tế. Nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu phải coi mỗi quốc
gia trong cộng đồng quốc tế là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Từ yêu cầu
này, sự hình thành và phát triển của thị trường thế giới mà mỗi quốc gia là một
thành viên, với tư cách là thành viên, mỗi quốc gia có quyền kinh doanh tự do tự
chủ như mọi quốc gia khác. Vì thế phải đảm bảo tư cách pháp nhân của mỗi
quốc gia trước luật pháp và cộng đồng quốc tế.
2. Nguyên tắc cùng có lợi
Đây là cơ sở kinh tế để thiết lập và mở rộng quan hệ kinh tế giữa các quốc
gia. Mỗi quốc gia cần biết sử dụng lợi thế của mình trong quan hệ kinh tế cụ thể.
Nguyên tắc này được cụ thể hóa thành các điều khoản được ký kết giữa các đối
tác kinh tế với nhau.
Mỗi một quốc gia, theo lý thuyết của A. Smith, đều có lợi thế tuyệt đối
với các quốc gia khác. Điều đó được hiểu rằng, họ có nguồn lực khan hiếm được
phân bổ và sử dụng để sản xuất ra một hàng hoá nào đó với ưu thế hơn hẳn các
quốc gia khác cùng sản xuất ra mặt hàng đó. Hay theo lý thuyết lợi thế so sánh
7
của Dicardo, mỗi quốc gia có lợi thế để sản xuất sản phẩm với ưu thế tuyệt đối
hơn hẳn khi sản xuất các mặt hàng khác…
Sử dụng các lợi thế, các quốc gia khi tham gia vào quan hệ đối ngoại sẽ
tận dụng được nhiều cơ hội thu về những món lợi lớn cho đất nước.
3. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc
nội bộ của mỗi quốc gia
Trong đời sống của cộng đồng quốc tế, quốc gia có tính độc lập, có chủ
quyền về các mặt kinh tế, chính trị xã hội và địa lý. Nguyên tắc này bắt đầu từ
nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia với nhau. Nó
cũng bắt đầu từ nguyên tắc cùng có lợi, mà xét đến cùng là cùng có lợi về mặt
kinh tế với tư cách là cơ sở để cùng có lợi ích khác về chính trị, quân sự, xã
hội… Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi bên, trong hai hoặc nhiều bên phải thực hiện
đúng các vấn đề như :
Tôn trọng các điều khoản trong nghị định thư và trong hợp đồng kinh tế
đã ký kết.
Không đưa ra những điều kiện có phương hại đến lợi ích của hau.
Không được dùng các thủ đoạn có tính chất can thiệp vào nội bộ của quốc
gia có quan hệ, nhất là dùng thủ đoạn kinh tế kỹ thuật và kích động can thiệp
vào đường lối chính trị của quốc gia đó.
4. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải nhằm thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế và phát triển kinh tế – xã hội
Trong cộng đồng quốc tế, đứng về trình độ kinh tế kỹ thuật mà xét, giữa
các quốc gia có điểm xuất phát và trình độ phát triển không đều nhau. Có thể
phân thành hai loại : nước có nền kinh tế phát triển và nước có nền kinh tế đang
phát triển hay kém phát triển.
Ở những nước có nền kinh tế đang kém phát triển, nhiều vấn đề gay cấn
đặt ra, trong đó mắt xích của cái vòng luẩn quẩn là trình độ kỹ thuật lạc hậu do
thiếu vốn. Vì vậy, đối với các nước này, việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế,
nhằm đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đạt tốc độ tăng
8
trưởng và phát triển kinh tế – xã hội cao, sao cho thu nhập quốc dân tính trên
đầu người vượt qua mức của loại nước nghèo nàn trên thế giới, từ đó tạo ra đà
phát triển ở giai đoạn sau.
Bốn nguyên tắc nói trên có liên quan mật thiết với nhau, đều có vai trò
và ý nghĩa quan trọng. Xa rời những nguyên tắc đó sẽ không thực hiện được
hoặc làm hạn chế tốc độ và hiệu quả của việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc dân
của mỗi quốc gia.
PHẦN II: CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. THỰC TRẠNG CHUNG CỦA KINH TẾ VIỆT NAM VÀ QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
1. Thực trạng kinh tế Việt Nam
Năm 2001, trong tình hình có nhiều khó khăn hơn dự kiến, nền kinh tế
Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao 6,8%, cao
hơn mức của năm 2000. Cơ cấu kinh tế theo GDP đang chuyển dịch theo chiều
hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp trong
GDP, tỷ trọng công nghiệp đạt 38%, dịch vụ 39% và nông – lâm – thuỷ – hải –
sản chiếm 23% so với các con số tương ứng của năm 2000 là 36,6%; 39,1% và
24,3%. Xét về sự đóng góp của các ngành trong việc thực hiện tốc độ tăng
trưởng 6,8% GDP thì khu vực công nghiệp đóng góp quan trọng chiếm 3,7%,
khu vực dịch vụ đóng góp 2,5% và nông – lâm – thuỷ – hải – sản đóng góp
0,6%. Sự đóng góp nổi bật của các ngành công nghiệp vào tốc độ tăng trưởng và
cơ cấu GDP của nền kinh tế nước ta đánh dấu bước tiến mới về chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong năm 2001.
Đối chiếu với các chỉ tiêu đã đề ra trong Nghị quyết của Quốc hội về
nhiệm vụ năm 2001, thì còn 4 chỉ tiêu chưa đạt kế hoạch, trong đó có 2 chỉ tiêu
quan trọng về kinh tế là mức tăng trưởng GDP đạt 6,8%, cao hơn mức của năm
2000 nhưng thấp hơn so với kế hoạch là 7,5%. Kim ngạch xuất khẩu tuy có tăng
về lượng song bị thua thiệt về giá khoảng 1,5 tỷ USD nên chỉ tăng 4,5% ( so với
9
mức đề ra là 16% ). Mặc dù chưa thực hiện được các chỉ tiêu đề ra, song trong
bối cảnh kinh tế khu vực và thế giới đang có chiều hướng xấu đi, suy giảm
mạnh, có nước tăng trưởng âm thì đạt được kết quả như trên là điều đáng khích
lệ.
Năm 2001, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục ổn định, nước ta được công
nhận là nơi có môi trường đầu tư ổn định nhất khu vực sau sự kiện 11/9, đó là
những thuận lợi cơ bản mà ta phải tận dụng và phát huy. Công nghiệp nước ta có
vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục phát triển và tăng trưởng ổn định với tốc độ tăng
13,8% Những thành tựu của năm 2001 đã tạo ra thế và lực mới để nước ta tiếp
tục phát triển, thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005.
Tuy nhiên điểm nổi bật kinh tế của nước ta nói chung là chất lượng tăng
trưởng và sức cạnh tranh của các sản phẩm, của doanh nghiệp còn thấp. Theo
đánh giá của tổ chức diễn đàn kinh tế thế giới ( WEF ) chỉ số cạnh tranh của
Việt Nam năm 1997 đứng thứ 49/53 quốc gia, năm 1998 cải thiện thêm 10 bậc
do các nước trong khu vực bị lâm vào khủng hoảng tài chính tiền tệ, thì đến năm
2001 lại lùi xuống vị trí 62/75 quốc gia xếp hạng.
Đánh giá lại tình hình kinh tế trong nước sẽ cho phép chúng ta đưa ra
những quyết định đúng đắn trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
2. Tình hình thực tế hội nhập của Việt Nam với các tổ chức kinh tế và
các nước trên thế giới
Năm 1992, hệ thống danh mục hàng xuất nhập khẩu chịu thuế tương đối
thống nhất và hài hoà, được đưa vào áp dụngnăm 1992. Cũng trong năm này,
hiệp định thương mại ưu đãi giữa Việt Nam và EEC ( nay là EU ) đã cung cấp
các hạn ngạch xuất khẩu cho hàng dệt và quần áo may sẵn của Việt Nam vào
Châu Âu, chúng ta dành các ưu đãi về thuế cho một số mặt hàng nhập từ EEC.
Hiệp định thương mại quan trọng với khu vực thị trường cao cấp và rộng lớn
này đã giải quyết được phần nào vấn đề thiếu hụt thị trường xuất khẩu của Việt
Nam, đồng thời mở ra và thúc đẩy tích cực một số mặt hàng xuất khẩu, tận dụng
được ưu thế về nguồn lực nội địa của quốc gia.
10
Cũng trong năm này, Việt Nam có quan hệ với Nhật Bản và Nhật Bản là
nguồn cung cấp ODA lớn nhất, là một trong 3 nhà đầu tư hàng đầu ở Việt Nam.
Năm 1994, Việt Nam giành được vị trí là người quan sát của hiệp định
chung về thuế quan và thương mại ( GATT ) sau đổi thành tổ chức thương mại
thế giới WTO. Tuy vậy, tiến trình gia nhập vào tổ chức này còn rất nhiều khó
khăn, đòi hỏi nỗ lực toàn diện của Việt Nam trong cải cách kinh tế và pháp lý.
Trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam luôn tỏ ra thiện chí. Năm 1994 Mỹ đã
xoá bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam. Đây là một điều kiện quan trọng để
chúng ta thúc đẩy mối quan hệ kinh tế với một môi trường rộng lớn và đầy sôi
động.
Năm 1995 là một năm hết sức quan trọng khi Việt Nam gia nhập vào tổ
chức ASEAN ( vào ngày 28 tháng 7 năm 1995 ) – một hiệp hội trọng yếu của
khu vực. Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh từ năm 1995 đến năm 1996 : kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào các nước ASEAN năm 1995 là 23,9% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, năm 1996 là 33,4%. Kim ngạch xuất
khẩu 1996 so với 1995 tăng 129,3%. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với
các nước ASEAN từ 1995 đến 1999 tăng bình quân 11,2%. Mặt hàng nhập khẩu
chủ yếu từ các nước ASEAN vào Việt Nam là máy móc, thiết bị phụ tùng chiếm
khoảng 10 – 12% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN,
khoảng 60 – 65% là nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất và công nghệ lắp ráp.
Cũng trong năm này Việt Nam trở thành thành viên của AFTA, cũng có
nghĩa Việt Nam bắt đầu tham gia vào các cam kết giảm quan thuế cho các hàng
nhập khẩu nông – công nghiệp cho các nước ASEAN.
Năm 1996, Việt Nam ban hành tiếp danh mục các hàng hoá với các mức
thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung dành cho AFTA, sẽ được áp dụng rộng rãi
vào năm 1997. Nhìn chung mức thuế nhập khẩu tối đa giảm xuống còn 80%.
Chính sách nhập khẩu tiếp tục giảm số lượng hàng hoá quản lý bằng hạn ngạch
nhập khẩu xuống còn 6.
11
Năm 1998, vào tháng 11 Việt Nam đã trở thành thành viên đầy đủ của
Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương ( APEC ). Việt Nam đã
trình kế hoạch hành động về các lịch trình ngắn, trung và dài hạn cho việc thực
thi các biện pháp thuế quan, phi thuế quan, thương mại, dịch vụ, v.v…
Năm 1999, chúng ta chứng kiến nhiều thay đổi của Việt Nam theo hướng
hội nhập, tự do hoá nền kinh tế. Ngân hàng Trung Ương điều chỉnh linh hoạt lãi
xuất trần cho vay của các ngân hàng thương mại. Việc này tiếp tục thúc đẩy việc
sử dụng tín dụng trên cơ sở rủi ro có liên quan, phù hợp với yêu cầu của thực
tiễn khách quan.
Năm 2000, trước hết phải kể đến một thành tựu quan trọng của Việt Nam
là Việt Nam đã tiến tới ký kết được Hiệp định thương mại với Mỹ – cường quốc
lớn nhất thế giới. Hiệp định khẳng định bước tiến mới trong tiến trình bình
thường hoá quan hệ nói chung và thương mại nói riêng giữa hai nước. Sau khi
Hiệp định có hiệu lực, Việt Nam sẽ được hưởng và ngược lại, sẽ dành cho Mỹ
quy chế tối huệ quốc và đối xử bình đẳng. Như vậy, các bên của Hiệp định
thương mại sẽ có nền tảng pháp lý để xúc tiến các hoạt động quốc tế thương mại
song phương.
Qua đó chúng ta thấy rằng : từ năm 1990 đến 1999 tổng giá trị xuất khẩu
của Việt Nam tăng 4,5 lần khi đó, tổng giá trị nhập khẩu tăng hơn 4 lần. Trong
thực tế kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu gần như ngang bằng. Trong cơ cấu
hàng hoá cũng có chuyển biến tích cực theo hướng đa dạng hoá mặt hàng, tăng
dần những hàng hoá qua chế biến như chè, cà phê…
Trong những năm qua, Việt Nam cũng gia tăng quan hệ với Liên Hợp
Quốc, IMF, WB. Tính cho đến nay, đã hơn 20 năm Việt Nam tham gia Liên
Hợp Quốc. Sự tham gia này cho phép Việt Nam nhận được sự giúp đỡ của Liên
Hợp Quốc trong nhiều lĩnh vực, đồng thời qua đó Việt Nam cũng đóng góp vào
sự phát triển của chính tổ chức này. Ghi nhận vào sự đóng góp đó, năm 1997 lần
đầu tiên Việt Nam được bầu vào Hội đồng kinh tế xã hội Liên Hợp Quốc. Đây là
điều kiện quan trọng cho phép mở rộng và phát triển quan hệ của Việt Nam với
12
Liên Hợp Quốc cũng như với các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác. Ngày
nay, chúng ta đã tham gia khá tích cực vào các hoạt động của Liên Hợp Quốc.
Các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc như : UNDP, UNFPA, UNICEF, UNHCR,
UNDCP… Việt Nam đều có quan hệ chặt chẽ.
Nói tóm lại, hơn 10 năm đổi mới vừa qua, nhìn từ góc độ kinh tế đối
ngoại thì đúng là thập kỷ hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực của Việt
Nam. Thời gian đó tuy chưa dài nhưng cùng với những kết quả đạt được, đó là
bài học kinh nghiệm cả thành công và thất bại trên bước đường hội nhập, đó là
hành trang để chúng ta vững bước đi vào giai đoạn mới - đẩy nhanh hơn nữa hội
nhập quốc tế.
II. NHỮNG THUẬN LỢI CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ KHU VỰC
1. Những yếu tố ổn định về chính trị
Chúng ta bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện đất
nước hoà bình, chính trị xã hội ổn định. Đây là một nhân tố quan trọng trong
giao lưu hội nhập đảm bảo chúng ta chỉ hoà nhập chứ không hoà tan. Phân tích
tình hình thực tế, hội nghị Trung Ương khoá VI đã khẳng định tính tất yếu lịch
sử của chủ nghĩa xã hội, khẳng định tính khách quan và phương hướng xã hội
chủ nghĩa của qua trình cải cách đổi mới. Đại hội VII cũng khẳng định : “Nhân
dân ta quyết không chấp nhận con đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ
nghĩa”. Trên thực tế gắn liền với sự vận động hiện thực của cuộc sống, Đảng ta
đã từng bước hoàn thiện, bổ sung cụ thể hoá thêm đường lối đổi mới, mở cửa
hội nhập. Trong quá trình đó, Đảng ta đã được củng cố về chính trị và tổ chức,
vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội được tăng cường. Đảng xác định đường
lối ở tầm vĩ mô “xu thế không thể tránh khỏi đối với sự phát triển” của việc
tham gia kinh tế đối ngoại. Từ nhận thức này, Việt Nam đã có những bước
chuyển lớn trong chính sách phát triển kinh tế nói chung, kinh tế đối ngoại nói
riêng. Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá, tất nhiên ở các tầng cấp
khác nhau, phụ thuộc vào thực lực cụ thể ở mỗi lĩnh vực
13
2. Những yếu tố thuận lợi về kinh tế
Một yếu tố thuận lợi là nền kinh tế có trình độ và chất lượng phát triển
cao hơn. Thể chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đã được thay
thế hoàn toàn bằng thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
tính chất tự cung tự cấp và khép kín trong nền kinh tế, đời sống xã hội được thay
thế bằng xu hướng mở cửa và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp nội lực và
ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp. Cơ chế thị trường là hạt nhân của quỹ đạo
phát triển kinh tế mới theo nghĩa nó định hình một phương thức mới gắn kết nền
kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới. Cơ chế thị trường cũng tạo ra một lớp
chủ thể kinh tế mới về chất. Đó là, các chủ thể kinh doanh độc lập, trình độ bản
lĩnh cạnh tranh thị trường ngày càng được nâng cao. Qua đó, sự hiện diện của cơ
chế thị trường thực sự tạo ra trạng thái xuất phát mới của nền kinh tế nước ta.
Điều mấu chốt là cơ chế phân bổ nguồn lực xuất hiện động lực kinh tế trên cơ sở
hệ thức đo mới ( thước đo giá trị ).
3. Những yếu tố về nguồn nhân lực
Yếu tố quan trọng hơn nữa mà chúng ta cần phải kể đến là nguồn nhân
lực của đất nước. Việt Nam hiện nay tuy là quốc gia đang phát triển, là một
trong những nước nghèo nhất của thế giới, song nước ta được đánh giá cao về
chỉ số nguồn nhân lực. Với thị trường gần 80 triệu dân, trong đó tỷ lệ người lao
động chiếm 35,9 triệu người, số người trong độ tuổi từ 16 – 34 chiếm 60%.
Nguồn bổ sung hàng năm là 3%, tức khoảng 1,24 triệu người. Tỷ lệ người lớn
biết chữ khá cao 88%. Số năm đi học trung bình của một người dân là 5 năm.
Trình độ dân trí được xếp loại trung bình khá trong khu vực.
Người Việt Nam có truyền thống cần cù, thông minh, ham học hỏi, cầu
tiến bộ, có ý chí và tinh thần tự lực tự cường. Chúng ta là một dân tộc phát triển
khá về thể lực và trí lực, có tính động cơ cao để tiếp thu nhanh kiến thức khoa
học công nghệ hiện đại. Có thể nói đây là một trong số các lợi thế so sánh của ta
trong quá trình hội nhập. Bởi vì ngày nay lợi thế so sánh của sự phát triển nhanh
chóng đang chuyển dần từ yếu tố giàu tài nguyên, tiền vốn… sang lợi thế về
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét