Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

235 Giải pháp hoàn thiện mối quan hệ giữa Công ty chứng khoán và khách hàng

Công ty chứng khoán là một chủ thể kinh doanh chứng khoán nên cũng
có những đặc điểm tơng đồng với tổ chức và hoạt động của công ty khác nói
chung. Cũng cần hiểu rằng, tiến hành hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng
khoán không chỉ có công ty chứng khoán mà còn bao hàm cả những loại hình
khác nh công ty quản lý quỹ, công ty t vấn đầu t
Công ty chứng khoán đợc hiểu là một tổ chức đợc thành lập theo
pháp luật, tiến hành các hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán. Theo
quy định của pháp luật Việt Nam, công ty chứng khoán là công ty cổ phần
hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn đợc thành lập để hoạt động kinh doanh,
dịch vụ chứng khoán với các loại hình (hay nghiệp vụ) kinh doanh chính: môi
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, quản lý danh mục đầu t chứng
khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, t vấn tài chính và đầu t chứng
khoán. Nhng do tính chất đặc thù của hàng hoá trong kinh doanh chứng
khoán (chứng khoán) nên chủ thể kinh doanh (công ty chứng khoán) phải tuân
theo những yêu cầu đặc biệt nh phải có tiềm lực về tài chính, cơ sở vật chất
phục vụ hoạt động kinh doanh, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.
Vai trò của công ty chứng khoán:
TTCK không thể hoạt động nếu không có chủ thể kinh doanh chứng
khoán mà cụ thể là các công ty chứng khoán tham gia. Điều đó cũng đồng
nghĩa với vai trò hết sức quan trọng của công ty chứng khoán, đợc coi nh
một nguyên lý khi tổ chức và vận hành TTCK.
Trớc hết, công ty chứng khoán có vai trò quan trọng trong việc huy
động vốn, có nghĩa là các tổ chức này chính là chiếc cầu nối và là kênh dẫn
vốn từ một bộ phận nào đó của nền kinh tế có sự d thừa vốn đến các bộ phận
khác của nền kinh tế đang thiếu vốn và có nhu cầu huy động vốn. Quá trình
đó diễn ra không phải theo một quy ớc nh là một lẽ tự nhiên: khi doanh
nghiệp cần huy động vốn để đầu t phát triển sản xuất, kinh doanh, họ sẽ và
có thể phát hành chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu). Nhng họ không thể
làm hoàn hảo việc đó bởi không có bộ máy chuyên nghiệp. Công ty chứng

5
khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, cơ chế huy động
và bộ máy tổ chức thích hợp sẽ đóng vai trò trung gian, môi giới mua bán,
phát hành chứng khoán, t vấn đầu t và thực hiện các dịch vụ khác không chỉ
cho ngời phát hành mà cho cả ngời đầu t. Nhờ các công ty chứng khoán
mà các cổ phiếu và trái phiếu đợc lu thông, mua bán trên TTCK và qua đó,
một lợng vốn ngày càng lớn đợc tập hợp từ những nguồn nhỏ, lẻ để đa vào
đầu t phát triển doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Đánh giá chung sau 4 năm ra đời và phát triển của TTCK có thể nói
rằng, Việt Nam đã xây dựng và vận hành đợc TTCK có tổ chức, về cơ bản đã
hình thành khá đầy đủ các chủ thể tham gia thị trờng, bớc đầu đã thực hiện
huy động vốn đầu t cho doanh nghiệp thông qua TTCK, cung cấp cho nền
kinh tế một kênh đầu t tài chính mới. Trong đó, không thể không nói đến vai
trò công ty chứng khoán với t cách là một chủ thể không thể thiếu trên
TTCK.
Vai trò quan trọng tiếp theo của công ty chứng khoán là cung cấp một
cơ chế giá cả trong giao dịch, mua bán chứng khoán. Công ty chứng khoán
thông qua Trung tâm giao dịch chứng khoán (Sở giao dịch chứng khoán), có
chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp các nhà đầu t (khách hàng
của công ty) có đợc sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản
đầu t của mình. Ngoài ra, công ty chứng khoán còn có chức năng quan trọng
là can thiệp trên thị trờng, góp phần điều tiết giá chứng khoán. Vai trò này
đợc thể hiện rõ hơn ở các TTCK phát triển, còn đối với TTCK mới hình
thành hoặc TTCK mới nổi ở các nớc đang phát triển, vai trò này còn phụ
thuộc vào các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội khác.
Công ty chứng khoán còn cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các
nhà đầu t, giúp cho các nhà đầu t giảm thiểu rủi ro, thiệt hại khi tiến hành
đầu t. Các nhà đầu t luôn muốn có đợc khả năng chuyển tiền mặt thành
chứng khoán có giá và ng
ợc lại trong một môi trờng đầu t ổn định. Để đảm
bảo quyền và lợi ích đó, công ty chứng khoán sẽ giúp họ.

6
Trong hoạt động kinh doanh, công ty chứng khoán không chỉ thực hiện
mệnh lệnh của khách hàng (mua, bán chứng khoán) mà còn tham gia vào
nhiều dịch vụ t vấn khác thông qua việc nghiên cứu thị trờng để cung cấp
thông tin và hớng dẫn khách hàng của mình tham gia đầu t trên thị trờng.
Vai trò t vấn đầu t ngày càng có ý nghĩa khi tích luỹ của nền kinh tế quốc
dân tăng lên bởi lẽ việc tích luỹ và nhu cầu đầu t ngày càng đa dạng sẽ khiến
nhu cầu t vấn của khách hàng và nhu cầu quản lý tài sản của họ cũng ngày
càng tăng lên.
Hoạt động của công ty chứng khoán còn tạo ra sản phẩm mới, góp phần
quan trọng trong sự phát triển năng động của TTCK. Vai trò này càng thể hiện
rõ hơn trong những năm gần đây trong bối cảnh các công cụ chứng khoán
phát triển với tốc độ rất nhanh do dung lợng thị trờng và biến động thị
trờng ngày càng lớn, các nhà đầu t nhận thức rõ ràng hơn và tiếp cận nhiều
hơn với thị trờng tài chính cùng với sự nỗ lực trong tiếp thị của công ty chứng
khoán. Ngoài cổ phiếu, trái phiếu thông thờng, nhiều sản phẩm mới thông
qua công ty chứng khoán đã đợc mua bán, giao dịch nh trái phiếu chính
phủ, chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng lựa chọn, hợp đồng tơng lai và
các sản phẩm lai tạo đa dạng khác đã làm cho TTCK ngày càng sôi động và
phát triển mạnh mẽ.
Với TTCK Việt Nam, tuy quy mô còn nhỏ bé nhng đã đợc hình thành
đồng bộ và từng bớc phát triển, trong đó các công ty chứng khoán đảm
đơng vai trò không thể thiếu trên TTCK. Từ con số ít ỏi khi mới thành lập
TTCK với 7 công ty chứng khoán, đến nay đã có 13 công ty chứng khoán
đợc cấp phép hoạt động với xuất xứ từ nhiều lĩnh vực quan trọng nh ngân
hàng, bảo hiểm, Các công ty chứng khoán này có sự phát triển tốt, thể hiện ở
số lợng tài khoản giao dịch của khách hàng tăng liên tục qua các năm, từ
khoảng 500 tài khoản ban đầu và đến tháng 5/2004 đã có 18.777 tài khoản của
các nhà đầu t
mở tại các công ty chứng khoán để giao dịch, mua bán chứng
khoán. Tuy cha thể so sánh với các TTCK phát triển nhng điều đó chứng tỏ

7
trong sự khởi đầu và hoàn toàn mới mẻ, các công ty chứng khoán đã tạo đợc
sự tin cậy đối với khách hàng của mình mà đa số là nhà đầu t cá nhân, nhỏ
lẻ, điều này tạo tiền đề cho sự phát triển của TTCK Việt Nam.
1.1.2. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của công ty chứng khoán
và khách hàng của công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán có thể khác nhau, tuỳ theo loại hình dịch vụ
hay sản phẩm cung cấp và cách tạo ra doanh thu (các loại phí hay thu nhập).
Theo những điểm khác biệt này, các công ty chứng khoán có thể thực hiện 5
loại hình nghiệp vụ chính:
- Môi giới
- Tự doanh
- Quản lý doanh mục đầu t
- Bảo lãnh phát hành
- T vấn đầu t
Đối với mọi nghiệp vụ kinh doanh, công ty chứng khoán đều có các đối
tợng khách hàng của mình với những nhu cầu dịch vụ khác nhau.
1.1.2.1. Nghiệp vụ môi giới
Vai trò chính của các nhà môi giới là giúp cho khách hàng của họ mua
hoặc bán chứng khoán. Nhìn chung, khách hàng có thể đợc phân thành 2
nhóm sau:
- Khách hàng có tổ chức: là các quỹ tơng hỗ hoặc công ty bảo hiểm
huy động những nguồn vốn từ những ngời đầu t khác nhau và thay mặt họ
tiến hành các hoạt động đầu t.
- Khách hàng cá nhân là những ngời đầu t cá nhân mua bán chứng
khoán cho bản thân.
Doanh thu từ nghiệp vụ môi giới là phí hoa hồng môi giới đợc tính
theo theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị giao dịch.

8
Một công ty môi giới chứng khoán cũng tơng tự nh một công ty sản
xuất, sản phẩm của công ty là dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Quá trình
thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán bao gồm: mở tài khoản cho khách
hàng, nhận lệnh giao dịch (mua, bán) chứng khoán của khách hàng, chuyển
lệnh giao dịch của khách hàng đến đại diện của công ty tại các thị trờng phù
hợp để thực hiện, xác nhận kết quả giao dịch và thanh toán giao dịch với
khách hàng. Quá trình này thể hiện mối quan hệ gắn bó hết sức chặt chẽ giữa
công ty chứng khoán với khách hàng. Trong mối quan hệ này, công ty chứng
khoán không chỉ cung cấp dịch vụ mua, bán chứng khoán cho khách hàng một
cách đơn thuần mà còn là sự hợp tác nhân quả cho cả công ty lẫn khách hàng
trong hoạt động kinh doanh - đầu t chứng khoán.
Có thể đa ra thí dụ cụ thể: các nhân viên marketing có nhiệm vụ phải
tìm hiểu và quyết định về loại chứng khoán mà công chúng đang quan tâm
dựa trên điều kiện kinh tế, xu hớng tăng trởng kinh tế dự toán, điều kiện thị
trờng hiện tại, những vấn đề mà các khách hàng đang tìm hiểu và bàn tán
Nếu họ sai lầm trong việc đánh giá, công ty có thể mất cơ hội phục vụ khách
hàng và hiển nhiên là có thể mất khách hàng hoặc nhân viên của bộ phận hỗ
trợ khi vào sổ, lên cân đối và hoàn tất các bút toán một cách thành thục thì tạo
ra một cảm giác suôn sẻ và thoả mãn cho các khách hàng, xử lý giao dịch một
cách chuyên nghiệp để tạo lòng tin cho họ, tạo dựng hình ảnh tốt đối với họ
sao cho khách hàng vui lòng tiếp tục hoạt động kinh doanh với công ty. Bên
cạnh đó, phần lớn các nguyên tắc trong quan hệ khách hàng và công ty môi
giới cũng do bộ phận ký quỹ (hay tín dụng) thực hiện; bộ phận này theo dõi
các tài khoản của khách hàng để đảm bảo rằng mọi tài khoản đều hoạt động
trong khuôn khổ quy định. Theo đặc điểm này, khách hàng phân loại thành:
khách hàng giao dịch thông thờng và khách hàng giao dịch ký quỹ.
- Khách hàng giao dịch thông thờng:
+ Đối với mọi giao dịch đợc thực hiện thông qua ngời môi giới,
khách hàng phải trả cho ngời môi giới số tiền phải thanh toán hoặc giao cho

9
ngời môi giới số lợng chứng khoán dới hình thức đợc chấp nhận hoặc
đảm bảo rằng ngời môi giới đã nhận đợc số tiền hoặc số lợng chứng khoán
đó (điều này không áp dụng trong trờng hợp ngời môi giới đang giữ tiền
hoặc chứng khoán để thay mặt khách hàng thanh toán giao dịch).
+ Tuy nhiên, nếu khách hàng không tuân thủ quy định trên, ngời môi
giới có thể bán số lợng chứng khoán đã mua trong trờng hợp giao dịch mua
chứng khoán và vay, mua chứng khoán để thanh toán cho giao dịch bán chứng
khoán.
- Khách hàng giao dịch ký quỹ:
+ Ngời môi giới quản lý tài khoản có thể yêu cầu khách hàng đặt cọc
hay ký quỹ bằng tiền mặt, chứng khoán hoặc tài sản khác theo quy định.
+ Đối với tài khoản ký quỹ, khách hàng thờng đợc vay tín dụng tối đa
bằng một tỷ lệ nhất định trên tổng giá trị thị trờng tài sản thế chấp với công
ty môi giới.
+ Nếu khách hàng không thanh toán khoản ký quỹ nêu trên hoặc bất kỳ
khoản phải trả nào khác thì ngời môi giới có quyền khóa tài khoản ký quỹ,
bán đi số lợng chứng khoán đang giữ và dùng số tiền thu đợc và khoản ký
quỹ bằng tiền mặt để trang trải cho các khoản nợ của khách hàng.
+ Trong trờng hợp khách hàng giao dịch ký quỹ không trả tiền hoặc
giao chứng khoán để thực hiện thanh toán, khách hàng sẽ phải chịu trách
nhiệm nh khách hàng giao dịch thông thờng.
Tóm lại, công ty môi giới chứng khoán phải coi việc cung cấp các dịch
vụ cho khách hàng nh một phần quan trọng trong sản phẩm của công ty khi
thực hiện các quy trình hoạt động. Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng
khoán, công ty chứng khoán có hai nhiệm vụ chính nh sau:
Một là cung cấp thông tin và t vấn cho khách hàng: thông qua nhân
viên hành nghề, công ty chứng khoán cung cấp cho khách hàng các báo cáo
nghiên cứu và các khuyến nghị đầu t;

10
Hai là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính, giúp khách hàng
thực hiện giao dịch theo yêu cầu và vì lợi ích khách hàng. Với nhiệm vụ này,
nhân viên môi giới nhận đơn đặt hàng từ khách hàng và thực hiện giao dịch
cho họ. Quá trình này bao gồm các tác nghiệp từ hớng dẫn khách hàng mở
tài khoản tại công ty, tiến hành truyền lệnh, xác nhận giao dịch, thanh toán và
chuyển kết quả giao dịch cho khách hàng.
Không chỉ dùng lại ở đó, sau khi giao dịch đợc thực hiện, ngời môi
giới còn phải tiếp tục quản lý tài khoản của khách hàng, đa ra những khuyến
cáo và cung cấp thông tin, theo dõi để nắm bắt những thay đổi trong đời sống,
công việc của khách hàng mà có thể dẫn đến những thay đổi trong tình trạng
tài chính và thái độ chấp nhận rủi ro của khách hàng, từ đó đề xuất chiến lợc
đầu t mới thích hợp hơn. Trên thị trờng sơ khai, khi sản phẩm hàng hoá còn
đơn giản, nhà đầu t có thể cha có nhu cầu sử dụng dịch vụ t vấn. Tuy
nhiên, ngày nay, hoạt động môi giới đầu t chứng khoán đồng thời chứa đựng
hàm lợng t vấn đầu t khá cao. Ngời đầu t trông chờ ngời môi giới cho
biết khi nào thì nên mua chứng khoán, lúc nào thì nên bán chứng khoán và
cung cấp thông tin về tình hình diễn biến trên thị trờng.
Ngời môi giới giỏi nghề dờng nh có một năng lực tiềm ẩn trong việc
biến những dòng thông tin liên tục này thành những khuyến nghị đầu t đúng
áp dụng cho mục tiêu của từng khách hàng riêng biệt. Những ngời môi giới
luôn đại diện cho công ty chứng khoán trong mọi hành động của mình, do
vậy, đạo đức nghề nghiệp của ngời môi giới luôn là vấn đề đợc quan tâm
hàng đầu. Chính những ngời môi giới giỏi, có uy tín là yếu tố thu hút khách
hàng cho công ty. Đạo đức nghề nghiệp của ngời môi giới đợc quy định rõ
trong quy chế quản lý nội bộ của từng công ty, thông qua quy chế này, ng
ời
môi giới thực hiện việc kiếm thu nhập, làm giàu và bảo vệ quyền lợi cho
khách hàng, đảm bảo rằng mọi khách hàng đều đợc đối xử bình đẳng trong
mọi hoàn cảnh. Một thị trờng chứng khoán không có sự bình đẳng giữa các

11
khách hàng thì ngành công nghiệp chứng khoán sẽ mất đi lòng tin từ công
chúng.
1.1.2.2. Nghiệp vụ tự doanh
Đây là nghiệp vụ của công ty chứng khoán khi công ty tự mua hoặc bán
chứng khoán cho chính mình để tạo ra thu nhập từ những giao dịch có lãi.
Công ty đóng vai trò của những nhà tạo lập thị trờng trên thị trờng chứng
khoán. Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà
đầu t có tổ chức trên thị trờng. Hoạt động tự doanh của công ty chứng
khoán có thể đợc thực hiện trên các thị trờng giao dịch tập trung (Trung tâm
giao dịch chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán) hoặc trên thị trờng OTC
với mục đích thu lợi cho chính mình với các nghiệp vụ: mua, bán chứng khoán
cho chính công ty để thu lợi nhuận từ chênh lệch giá qua các lần mua, bán
chứng khoán; tạo lập thị trờng (mua vào khi giá chứng khoán giảm và bán ra
khi giá chứng khoán tăng nhằm giữ giá chứng khoán).
Khi công ty chứng khoán vừa thực hiện nghiệp vụ tự doanh, vừa thực
hiện nghiệp vụ môi giới có thể phát sinh xung đột lợi ích giữa công ty chứng
khoán và khách hàng. Vì vậy, khi tiến hành nghiệp vụ này, công ty chứng
khoán phải tuân thủ một số quy định nh: không đợc mua bán cùng loại
chứng khoán trong một ngày giao dịch, u tiên thực hiện lệnh của khách hàng
trớc lệnh của công ty, không đợc lợi dụng các thông tin và quyết định đầu
t của khách hàng để mua bán trớc, không đợc xúi giục khách hàng mua
chứng khoán mà công ty muốn bán, không đợc sử dụng tài sản của khách
hàng để kinh doanh cho chính mình, không đợc tiến hành các giao dịch trá
hình là các giao dịch làm dịch chuyển quyền sở hữu làm ảnh hởng đến giá
chứng khoán và đặc biệt phải cung cấp thông tin đầy đủ và trung thực về các
chứng khoán mà công ty đang giao dịch cho khách hàng
1.1.2.3. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t
Công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t có
nghĩa là thay mặt khách hàng quản lý một tập hợp tài sản đầu t. Nh vậy,

12
thực tế là khách hàng (tổ chức và cá nhân) ủy thác công ty chứng khoán đa ra
các quyết định đầu t cho họ và khách hàng trả phí cho dịch vụ này của công
ty.
Có thể nói, khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán vừa bảo
quản hộ chứng khoán, vừa đầu t hộ chứng khoán cho khách hàng. Muốn vậy,
họ phải tìm hiểu rõ về khách hàng: tổ chức hay cá nhân, số tiền và nguồn gốc
tiền định đầu t, mục đích đầu t, thời hạn đầu t Đồng thời công ty cũng
phải cho khách hàng biết về khả năng chuyên môn và khả năng kiểm soát nội
bộ của mình để vừa có thể mang lại lợi nhuận cho khách hàng, vừa đảm bảo
an toàn tài sản cho họ.
Quản lý danh mục đầu t gồm các bớc cơ bản sau:
- Tìm hiểu nhu cầu của khách hàng (chủ đầu t), đặc tính khách
hàng, mục tiêu và hạn chế đầu t của khách hàng.
- Định giá chứng khoán - xác định toàn bộ tài sản đầu t đề ớc
tính lợi nhuận và rủi ro có khă năng xảy ra;
- Quyết định phân bổ tài sản phải xác định tài sản sẽ đợc phân
bổ nh thế nào; lựa chọn một trong nhiều phơng án đầu t đợc đa ra, đầu
t vào cổ phiếu, đầu t vào trái phiếu hay đầu t cả 2 loại chứng khoán;
- Tối u hoá danh mục đầu t. Trong bớc này phải cân nhắc rủi ro
và lợi nhuận nhằm lựa chọn chứng khoán đa vào danh mục đầu t, xác định
danh mục đầu t chứng khoán nào sẽ cho lợi nhuận cao nhất ứng với một mức
rủi ro dự kiến;
- Đánh giá kết quả thực hiện. Trong đó phải phân loại kết quả thực
hiện (rủi ro) của từng loại chứng khoán thành loại mang tính hệ thống, loại
liên quan đến thị trờng và loại mang tính đặc trng ngành công nghiệp, của
chứng khoán (phần không mang tính hệ thống).
Tóm lại, thực chất nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t chứng khoán là
quá trình quản lý vốn của khách hàng bao gồm từ việc định giá, phân tích
chứng khoán, lựa chọn đầu t, theo dõi các kết quả đầu t và phân bổ vốn đầu

13
t, và đánh giá kết quả đầu t vì lợi ích của khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký
kết. Từ bản chất này, khi thực hiện nghiệp vụ quản lý danh mục đầu t, các
công ty chứng khoán cần:
- Đảm bảo tính sinh lời và an toàn của danh mục đầu t thông qua
việc đa dạng hoá hợp lý thành phần các tài sản hay chứng khoán trong danh
mục đầu t;
- Đảm bảo đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhóm các nhà đầu t có
mục đích và có độ mạo hiểm khác nhau;
- Đảm bảo an toàn về pháp lý, tuân thủ các quy định của pháp luật
về đầu t, quy định của cơ quan quản lý, Uỷ ban Chứng khoán và các Trung
tâm giao dịch, các cơ quan tự quản nh Hiệp hội kinh doanh chứng khoán và
quyền sở hữu hợp pháp của các nhà đầu t;
- Đảm bảo tính linh hoạt trong đầu t, tính dễ dàng chuyển nhợng
và phản ứng hợp lý trớc những diễn biến của thị trờng cũng nh diễn biến
của các cán cân kinh tế vĩ mô;
- Đảm bảo cơ chế kiểm soát nội bộ và báo cáo thông tin về hoạt
động quản lý danh mục đầu t.
1.1.2.4. Nghiệp vụ bảo lnh phát hành
Khách hàng chủ yếu của nghiệp vụ này là các doanh nghiệp huy động
vốn hoặc tiền thông qua việc phát hành chứng khoán. Công ty chứng khoán
thực hiện nghiệp vụ này thông qua hai hình thực phổ biến: phát hành lần đầu
ra công chúng (IPO) và phát hành riêng lẻ. Công ty chứng khoán phải tổ chức
một mạng lới phân phối chứng khoán bao gồm các công ty chứng khoán
hoặc các công ty môi giới khác nhằm mở rộng thị trờng và chia sẻ rủi ro bảo
lãnh phát hành. Chiến dịch quảng cáo tiếp thị cũng có thể đợc tiến hành
nhằm nâng cao danh tiếng của tổ chức phát hành trớc những ngời đầu t
trong và ngoài nớc, đặc biệt những ngời đầu t có tổ chức là ngời có thể
mua phần lớn khối lợng chứng khoán sắp phát hành. Hoạt động bảo lãnh
phát hành thờng đợc thực hiện theo các hình thức cam kết chắc chắn, bảo

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét