Mở đầu
ở nớc ta hiện nay, nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần, phát
triển bình đẳng, theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong việc xây dựng và
thực hiện kế hoạch của mình, các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế
đều phải dựa vào các quan hệ hợp đồng kinh tế. Hợp đồng kinh tế chính là
quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ hợp pháp tất yếu mà tất cả các đơn vị kinh
tế thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải thực hiện.
Để thực hiện chức năng kinh tế của mình, Nhà nớc ta luôn luôn chú ý
đến việc điều chỉnh pháp lý các hoạt động kinh tế của các đơn vị kinh tế,
trong đó việc điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế là một nội dung hết
sức quan trọng.
Với công cuộc đổi mới nền kinh tế nh hiện nay cũng nh đổi mới pháp
luật về hợp đồng kinh tế, em đã chọn đề tài: "Trình bày đặc điểm một bản
hợp đồng kinh tế và chứng minh những đặc điểm đó qua một bản hợp
đồng cụ thể ".
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tiểu luận của em gồm 2 phần
chính sau:
Phần I. Đặc điểm của một bản hợp đồng kinh tế
Phần II. Trình bày một bản hợp đồng cụ thể mà em biết.
Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu nhng đây là một
đề tài khó, đòi hỏi ngời nghiên cứu phải có trình độ hiểu biết rộng về mọi
lĩnh vực liên quan đến hợp đồng kinh tế. Với trình độ còn hạn hẹp của một
sinh viên, chắc chắn bài tiểu luận của em sẽ còn nhiều thiết sót, em kính
mong các thầy cô giáo và các bạn sẽ bổ sung thêm ý kiến để bài tiểu luận của
em đợc hoàn thành tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Phần I
Những vấn đề lý luận chung về
hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm hợp đồng kinh tế
Trong khoa học pháp lý, kết hợp hợp đồng kinh tế đợc hiểu theo hai
nghĩa:
Theo nghĩa khách quan, hợp đồng kinh tế là tổng hợp những quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh
tế (còn gọi là chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế hay pháp luật về hợp đồng
kinh tế).
Là một chế định đặc thù của pháp luật về kinh doanh, chế độ hợp
đồng kinh tế qui định: Các nguyên tắc ký kết hợp đồng kinh tế, điều kiện
chủ thể hợp đồng kinh tế, thủ tục và trình tự ký kết hợp đồng kinh tế, các
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế, các nguyên tắc và nội dung thực
hiện hợp đồng kinh tế, các điều kiện và giải quyết hậu quả của việc thay đổi,
hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng kinh tế, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế
v.v
Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn
bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản
xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kéo dài với sự qui định rõ ràng về
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình
(Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/09/1989).
2. Chủ thể của hợp đồng kinh tế
Chủ thể của hợp đồng kinh tế là các bên tham gia quan hệ hợp đồng
kinh tế hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện thỏa thuận để xác lập và thực hiện
những quyền và nghĩa vụ đối với nhau.
2
Theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế đợc ký kết
giữa các bên sau đây:
a- Pháp nhân với pháp nhân
b- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của
pháp luật
Nh vậy, chủ thể của hợp đồng kinh tế ít nhất một bên phải là đơn vị
có t cách pháp nhân, còn bên kia có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng
ký kinh doanh.
Pháp nhân là một tổ chức có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có tài sản riêng và chịu trách nhiệm một cách độc lập bằng các tài
sản đó;
- Tự nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật, có thể trở thành
nguyên đơn, bị đơn trớc tòa án;
- Tồn tại độc lập và đợc pháp luật công nhận là một tổ chức độc lập.
Cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật là ngời
đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nớc chính sách thẩm quyền theo đúng
thủ tục pháp luật qui định và đã đợc cấp giấy phép kinh doanh (giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh).
Ngoài ra, theo các qui định tại Điều 42,43, Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế, những ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia
đình, hộ nông dân, ng dân cá thể, tổ chức và cá nhân nớc ngoài tại Việt Nam
khi ký kết hợp đồng với một pháp nhân Việt Nam cũng đợc áp dụng các qui
định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
Về chủ thể của hợp đồng kinh tế, trong khoa học pháp lý hiện có
quan điểm cho rằng, hợp đồng kinh tế là những hợp đồng có mục đích kinh
doanh, vì vậy, nó phải đợc thiết lập giữa các chủ thể kinh doanh - chủ yếu là
giữa các doanh nghiệp với nhau.
Khi tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế, mỗi bên tham gia quan hệ hợp
đồng chỉ cần cử một đại diện để ký vào hợp đồng kinh tế. Nếu là pháp nhân
thì ngời ký hợp đồng phải là ngời đợc bổ nhiệm hoặc đợc bầu vào chức vụ
đứng đầu của pháp nhân và hiện đang giữ chức vụ đó. Nếu là cá nhân có
3
đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật thì ngời ký hợp đồng phải là
ngời đứng tên trong giấy phép kinh doanh (đã đăng ký kinh doanh theo đúng
qui định của pháp luật và đợc cấp giấy phép kinh doanh).
Trong trờng hợp một bên là ngời làm công tác khoa học, kỹ thuật,
nghệ nhân thì ngời ký hợp đồng kinh tế phải là ngời trực tiếp thực hiện công
việc trong hợp đồng (nếu có nhiều ngời cùng làm thì ngời ký vào bản hợp
đồng kinh tế phải do những ngời làm cùng làm cử bằng văn bản có chữ ký
của tất cả những ngời đó, văn bản này phải kèm theo hợp đồng kinh tế).
Khi một bên là hộ kinh tế gia đình nông dân, ng dân cá thể thì đại
diện ký hợp đồng kinh tế phải là chủ hộ. Khi một bên là tổ chức nớc ngoài tại
Việt Nam thì đại diện tổ chức đó phải đợc ủy nhiệm bằng văn bản, nếu là cá
nhân nớc ngoài ở Việt Nam thì bản thân họ phải là ngời ký kết các hợp đồng
kinh tế.
Đại diện ký kết hợp đồng kinh tế nh trên cũng chính là đại diện đơng
nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế và trong tố tụng trớc cơ
quan tài phán.
Tuy nhiên, ngời đại diện đơng nhiên của các chủ thể hợp đồng kinh tế
có thể ủy quyền cho ngời khác thay mình ký kết, thực hiện hợp đồng kinh tế.
Việc ủy quyền có thể theo vụ việc hoặc thờng xuyên nhng phải đợc thể hiện
dới hình thức bằng văn bản. Việc ủy quyền thờng xuyên có thể áp dụng trong
trờng hợp ngời đại diện đơng nhiên ủy quyền cho cấp phó của mình (hoặc
cho ngời đứng đầu chi nhánh trực thuộc, có t cách pháp nhân không đầy đủ)
theo kỳ hạn cần ủy quyền. Văn bản ủy quyền phải ghi rõ họ, tên, chức vụ của
ngời ủy quyền, ngời đợc ủy quyền, số giấy chứng minh th của ngời đợc ủy
quyền; tính chất và nội dung ủy quyền, thời hạn ủy quyền và phải có chữ ký
xác nhận của cả hai ngời này. Ngời đợc ủy quyền chỉ đợc phép hành động
trong phạm vi đợc ủy quyền và không đợc ủy quyền lại cho ngời khác. Trong
phạm vi ủy quyền, ngời ủy quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi của ngời
đợc ủy quyền nh hành vi của chính mình.
Quy định trên đây có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc vì nó vừa giúp cho các
đơn vị kinh tế có thể linh hoạt trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế
lại vừa ràng buộc trách nhiệm theo nguyên tắc "chịu trách nhiệm cá nhân"
đối với ngời đứng đầu các đơn vị kinh tế.
4
3. Phân loại hợp đồng kinh tế
Hợp đồng kinh tế đợc chia thành nhiều loại khác nhau, dựa trên
những căn cứ khác nhau nh sau:
a) Căn cứ vào tính chất hàng hóa - tiền tệ của mối quan hệ kinh tế,
hợp đồng kinh tế đợc chia làm hai loại, đó là:
* Hợp đồng kinh tế mang tính chất đền bù: Là loại hợp đồng mà
theo đó quyền và nghĩa vụ của các bên tơng xứng với nhau trong trao đổi
hàng hóa, thực hiện dịch vụ và thanh toán. Bản chất của quan hệ hàng hóa -
tiền tệ là quan hệ ngang giá, vì vậy, trong loại hợp đồng này tính chất cân đối
về quyền và nghĩa vụ của các bên luôn đợc thể hiện. Loại hợp đồng này phản
ánh trực tiếp mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ và thờng xuyên đợc sử dụng
trong các lĩnh vực mua bán vật t, tiêu thụ sản phẩm, nghiên cứu khoa học,
vận chuyển hàng hóa, xây dựng cơ bản và các lĩnh vực kinh doanh khác.
* Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức: Là loại hợp đồng mà theo đó,
trên cơ sở sự đồng ý của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền, các chủ thể kinh tế
thỏa thuận thành lập ra một tổ chức kinh tế mới để thực hiện mục đích chung
của họ. Tổ chức kinh tế mới này chỉ hoạt động trong phạm vi thỏa thuận giữa
các chủ thể.
Hợp đồng kinh tế mang tính tổ chức không phản ánh trực tiếp mối
quan hệ hàng hóa - tiền tệ, nó đợc ký kết nhằm thực hiện các mục tiêu của
liên kết kinh tế. Với tính chất tổ chức của nó, loại hợp đồng này không chỉ có
hai bên chủ thể mà có nhiều chủ thể cùng tham gia. Các chủ thể này không
có sự phân biệt về quan hệ sở hữu và quan hệ quản lý.
Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra mối quan hệ kinh tế ổn định.
Thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các qui chế hoạt động của từng tổ chức
liên kết, các bên ký kết tiến hành phân công sản xuất, chuyên môn hóa và
hợp tác hóa nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị liên kết, góp phần
nâng cao năng suất, chất lợng sản phẩm, hiệu quả kinh tế hoặc tạo ra thị tr-
ờng chung nhằm bảo vệ lợi ích của nhau, tạo cho nhau có khoản thu nhập cao
nhất, đồng thời tăng thu cho ngân sách nhà nớc.
b) Căn cứ vào thời hạn thực hiện, hợp đồng kinh tế đợc chia làm
hai loại:
5
* Hợp đồng kinh tế dài hạn: Là những hợp đồng kinh tế có thời hạn
thực hiện trên một năm. Những hợp đồng này không chỉ liên quan đến kế
hoạch của một năm mà có thể liên quan đến kế hoạch của nhiều năm.
* Hợp đồng kinh tế ngắn hạn: Là những hợp đồng kinh tế có thời
hạn thực hiện từ một năm trở xuống. Một hợp đồng kinh tế dài hạn có thể đ-
ợc cụ thể bằng nhiều hợp đồng kinh tế ngắn hạn (năm, quý, tháng hoặc một
số ngày nhất định) nhằm thực hiện từng phần kế hoạch của các đơn vị kinh
tế.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, để đảm bảo tính ổn định trong
quan hệ với bạn hàng, việc ký kết các hợp đồng kinh tế dài hạn là đòi hỏi đặt
ra đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên, sự biến động của giá cả và các điều
kiện kinh doanh khác cũng buộc các doanh nghiệp phải chú ý đúng mức đến
việc xác lập các hợp đồng kinh tế ngắn hạn.
c) Căn cứ vào tính kế hoạch của hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế
đợc chia thành hai loại, đó là:
* Hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh: Là loại hợp đồng kinh tế
đợc ký kết theo những chỉ tiêu pháp lệnh đợc Nhà nớc giao. Ký kết và thực
hiện các hợp đồng kinh tế loại này là nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế đối với
nhau và đối với nhà nớc. Ký kết hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh là
kỷ luật nhà nớc. Loại hợp đồng kinh tế này mang tính kế hoạch rất cao. Do
tính kế hoạch cao nên tính chất tự nguyện của các chủ thể trong loại hợp
đồng này có phần bị hạn chế. Trong cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung,
các hợp đồng kinh tế đều đợc ký kết theo chỉ tiêu pháp lệnh, vì vậy, quyền tự
chủ của các đơn vị kinh tế không đợc phát huy. Trong cơ chế kinh tế thị trờng
hiện nay, nguyên tắc tự do bình đẳng, tự nguyện của các chủ thể trong quan
hệ kinh tế rất đợc coi trọng. Số lợng các hợp đồng theo chỉ tiêu kế hoạch
pháp lệnh có xu hớng ngày càng giảm.
* Hợp đồng kinh tế không theo chỉ tiêu pháp lệnh: Là loại hợp đồng
kinh tế đợc ký kết theo nguyên tắc tự nguyện giữa các chủ thể. Việc ký kết và
thực hiện loại hợp đồng này là quyền tự do ý chí của các đơn vị kinh tế,
không một tổ chức, cá nhân hay cơ quan nào đợc áp đặt ý chí của mình đối
với các chủ thể hợp đồng. Việc ký kết loại hợp đồng này không phải căn cứ
vào các chỉ tiêu pháp lệnh nhng nó vẫn là cơ sở để xây dựng kế hoạch và là
6
công cụ để thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của mỗi đơn vị kinh tế,
vì vậy nó vẫn mang tính kế hoạch nhng ở tầm vĩ mô.
d) Căn cứ vào nội dung cụ thể của mối quan hệ kinh tế, hợp đồng
kinh tế bao gồm rất nhiều loại khác:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa ;
- Hợp đồng liên doanh liên kết ;
- Hợp đồng vận chuyển (vận tải) ;
- Hợp đồng xây dựng cơ bản ;
- Hợp đồng nghiên cứu khoa học, triển khai kỹ thuật ;
- Các hợp đồng sản xuất và dịch vụ khác
4. Vai trò của hợp đồng kinh tế
Với tính chất là một chế định pháp luật, chế độ hợp đồng kinh tế có
vai trò hết sức quan trọng trong quản lý nền kinh tế quốc dân, là công cụ
pháp lý quan trọng của nhà nớc trong xây dựng và phát triển nền kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Hợp đồng kinh tế góp phần quan trọng trong kế hoạch hóa nền
kinh tế quốc dân, củng cố chế độ hạch toán kinh tế, tăng cờng quản lý kinh
tế, làm cho lợi ích của các đơn vị kinh tế phù hợp với lợi ích chung của nền
kinh tế quốc dân, gắn liền công tác quản lý của nhà nớc với sự tự chịu trách
nhiệm của các đơn vị kinh tế. Hợp đồng kinh tế xác lập và gắn chặt mối quan
hệ hợp tác giữa các đơn vị kinh tế, tạo nên sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa
các thành phần kinh tế, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên ký kết, giúp
đỡ các bên xây dựng kế hoạch một cách vững chắc, thực hiện thắng lợi kế
hoạch của nhà nớc va đơn vị mình với hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với tính chất là một quan hệ kinh tế trong kinh doanh, hợp đồng kinh
tế có vai trò cực kỳ quan trọng, không thể thiếu đợc đối với các chủ thể kinh
doanh:
* Hợp đồng kinh tế là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của
mỗi đơn vị kinh tế, là cầu nối giữa kế hoạch sản xuất kinh doanh với quan hệ
thị trờng.
7
Thông qua việc ký kết các hợp đồng kinh tế, các chủ thể kinh doanh
xác lập đợc căn cứ để xây dựng kế hoạch của mình. Kế hoạch ấy chỉ trở
thành phơng án hiện thực khi nó đợc bảo đảm bằng những cam kết hợp đồng.
Ngợc lại, hợp đồng kinh tế cụ thể hóa, chi tiết hóa nội dung kế hoạch sản
xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, các chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nớc
thành những quyền và nghĩa vụ cụ thể đó chính là việc thực hiện từng phần
kế hoạch. Mặt khác, hợp đồng kinh tế với nội dung là quan hệ hàng hóa - tiền
tệ luôn luôn phản ánh mối quan hệ thị trờng, nó làm cho thị trờng vừa là căn
cứ, vừa là đối tợng của kế hoạch.
* Hợp đồng kinh tế góp phần quan trọng vào việc củng cố công tác
hạch toán kinh tế.
Hạch toán kinh tế là phơng pháp kinh doanh dựa trên cơ sở dùng tiền
tệ làm thớc đo những hao phí và kết quả hoạt động kinh tế, lấy thu bù chi và
đảm bảo sản xuất có lãi, dựa trên sự khuyến khích vật chất và chịu trách
nhiệm vật chất.
Hạch toán kinh tế phải lấy quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm tiền đề, bởi
vì trong quan hệ đó tiền tệ phản ánh giá trị của hàng hóa, tức là lợng lao động
đã kết tinh trong hàng hóa và đợc thể hiện thông qua giá cả của hàng hóa đó.
Thông qua giá cả của hàng hóa mà đánh giá đợc kết quả của lao động, tính
toán đợc những chi phí bỏ ra và kết quả thu về trong hoạt động kinh tế. Xuất
phát từ lợi ích kinh tế, các đơn vị tiến hành xác lập với nhau những quan hệ
hợp đồng kinh tế mà nội dung của nó chính là các quan hệ hàng hóa - tiền tệ
làm cơ sở cho hạch toán kinh tế.
Thông qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế, các tổ chức
kinh tế thực hiện quyền chủ động sản xuất kinh doanh của mình. Quyền chủ
động đó biểu hiện sự độc lập về tài sản và nghiệp vụ của chúng, một trong
những nguyên tắc quan trọng và là điều kiện để hạch toán kinh tế.
Thông qua chế độ trách nhiệm vật chất, hợp đồng kinh tế củng cố
nguyên tắc khuyến khích vật chất và chịu trách nhiệm vật chất trong hạch
toán kinh tế. Việc áp dụng các hình thức trách nhiệm vật chất bao gồm phạt
hợp đồng và bồi thờng thiệt hại sẽ làm giảm lợi ích hạch toán của bên vi
phạm hợp đồng, đồng thời khôi phục lợi ích hạch toán cho bên bị vi phạm.
Việc áp dụng các hình thức thởng, phạt trong quan hệ hợp đồng sẽ nâng cao
8
đợc tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động sáng tạo của các đơn vị
kinh tế trong sản xuất kinh doanh, đồng thời bảo đảm tuân thủ pháp luật về
quản lý kinh tế của nhà nớc.
Tóm lại, nghiên cứu vai trò của hợp đồng kinh tế, chúng ta có thể
khẳng định rằng hợp đồng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng trong đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế, đổi mới kế hoạch hóa, đảm bảo quyền tự chủ sản
xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế, củng cố chế độ hạch toán kinh tế,
tăng cờng quản lý kinh tế, quản lý thị trờng
9
Phần II
Đặc điểm và nội dung của
hợp đồng kinh tế
1. Đặc điểm của một hợp đồng kinh tế
Qua định nghĩa ta thấy, thực chất hợp đồng kinh tế là mối quan hệ
kinh tế giữa các chủ thể ký kết, đó là mối quan hệ ý chí đợc xác lập một cách
tự nguyện, bình đẳng thông qua hình thức bằng văn bản. Nhng, khác hẳn với
hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế có những đặc điểm riêng sau đây:
a) Về nội dung, hợp đồng kinh tế đợc ký kết nhằm phục vụ hoạt động
kinh doanh. Đó là nội dung thực hiện các công việc sản xuất, trao đổi hàng
hóa, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật và thỏa thuận khác do
các chủ thể tiến hành trong một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình tái sản xuất, từ khi đầu t vốn đến khi tiêu thụ sản phẩm hoặc hoàn thành
dịch vụ nhằm sinh lợi hợp pháp. Kinh doanh là chức năng, nhiệm vụ, là mục
tiêu của các đơn vị kinh tế. Vì vậy, mục đích kinh doanh luôn đợc thể hiện
hàng đầu trong các hợp đồng mà các chủ thể kinh doanh ký kết, nhằm xây
dựng và thực hiện kế hoạch của mình.
b) Về chủ thể của hợp đồng, theo Điều 2 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
thì hợp đồng kinh tế đợc ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, hay pháp nhân
với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật. Nh vậy,
trong mối quan hệ hợp đồng kinh tế, ít nhất phải có một bên là pháp nhân,
còn phía bên kia có thể là pháp nhân, cũng có thể là cá nhân có đăng ký kinh
doanh theo qui định của pháp luật và phải ký kết trong phạm vi nghề nghiệp
kinh doanh đã đăng ký. Ngoài ra, pháp lệnh còn qui định những ngời làm
công tác khoa học kỹ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ng
dân cá thể, các tổ chức và cá nhân nớc ngoài ở Việt Nam cũng có thể trở
thành chủ thể của hợp đồng kinh tế khi họ ký kết hợp đồng với một pháp
nhân.
Trên thực tế hiện nay và xu hớng trong nền kinh tế thị trờng, chủ thể
chủ yếu của hợp đồng kinh tế là các doanh nghiệp.
10
c) Về hình thức, hợp đồng kinh tế phải đợc ký kết bằng văn bản. Đó
là bản hợp đồng hay các tài liệu giao dịch mang tính văn bản có chữ ký của
các bên xác nhận nội dung trao đổi, thỏa thuận nh công văn, đơn chào hàng,
đơn đặt hàng, giấy chấp nhận v.v
Ký kết hợp đồng kinh tế bằng văn bản là một qui định bắt buộc mà
các chủ thể của hợp đồng hợp đồng phải tuân theo. Văn bản này là sự ghi
nhận rõ ràng về quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận với nhau, là cơ
sở pháp lý để các bên tiến hành thực hiện các điều đã cam kết, để các cơ
quan nhà nớc có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp của mỗi quan hệ kinh tế
và giải quyết các tranh chấp, xử lý các vi phạm nếu có.
d) Hợp đồng kinh tế còn mang tính kế hoạch và phản ánh mối quan
hệ giữa kế hoạch với thị trờng. Hợp đồng kinh tế đợc ký kết dựa trên định h-
ớng kế hoạch của nhà nớc, nhằm vào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch
của các đơn vị kinh tế. Trong đó có những hợp đồng kinh tế mà việc ký kết
và thực hiện nó phải hoàn toàn tuân theo các chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của
nhà nớc. Trong cơ chế quản lý theo phơng pháp kế hoạch hóa tập trung thì
tính kế hoạch là đặc tính số một của hợp đồng kinh tế. Mặc dù trong giai
đoạn hiện nay, Nhà nớc ta đã có những thay đổi lớn trong công tác kế hoạch
hóa, nhng tính kế hoạch của hợp đồng kinh tế vẫn tồn tại: "Hợp đồng kinh tế
giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch,
vừa là công cụ pháp lý bảo đảm việc thực hiện kế hoạch" (Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam).
2. Nội dung của hợp đồng kinh tế
Nội dung của hợp đồng kinh tế là toàn bộ những điều khoản mà các
bên đã thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ ràng buộc giữa các bên với
nhau. Về phơng diện khoa học pháp lý, căn cứ vào tính chất, vai trò của các
điều khoản, nội dung của hợp đồng kinh tế đợc chia thành ba loại điều khoản
nh sau:
* Điều khoản chủ yếu: Là những điều khoản cơ bản, quan trọng nhất
của một hợp đồng. Khi xác lập hợp đồng, các bên phải thỏa thuận và ghi các
điều khoản chủ yếu vào văn bản hợp đồng, nếu không ghi vào hợp đồng thì
hợp đồng không có giá trị.
11
Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán, những điều khoản chủ yếu là đối t-
ợng, số lợng, chất lợng, giá cả.
* Điều khoản thờng lệ: Là những điều khoản đã đợc pháp luật ghi
nhận, nếu các bên không ghi vào văn bản hợp đồng thì coi nh các bên đã mặc
nhiên công nhận và có nghĩa vụ thực hiện những qui định đó. Nếu các bên
thỏa thuận ghi vào văn bản hợp đồng thì không đợc ghi trái với những điều
đã qui định đó.
Ví dụ: Điều khoản về bồi thờng thiệt hại, về khung phạt vi phạm hợp
đồng kinh tế.
* Điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản do các bên tự thỏa
thuận với nhau khi cha có qui định của nhà nớc hoặc đã có quy định nhng các
bên đợc phép vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh thực tế của mình mà không
trái pháp luật. Điều khoản này các bên cũng phải ghi vào văn bản hợp đồng.
Ví dụ: Điều khoản thởng vật chất, điều khoản áp dụng mức phạt cụ
thể khi vi phạm các điều khoản của hợp đồng trong khung phạt mà pháp luật
đã qui định.
Theo Điều 12 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, nội dung của hợp đồng
kinh tế bao gồm những điều khoản cụ thể nh sau:
a- Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng kinh tế; tên, địa chỉ, số tài
khoản và ngân hàng giao dịch của các bên; họ tên ngời đại diện, ngời đứng
tên đăng ký kinh doanh;
b- Đối tợng của hợp đồng kinh tế tính bằng số lợng, khối lợng hoặc
giá trị quy ớc đã thỏa thuận;
c- Chất lợng, chủng loại, quy cách phẩm chất, tính đồng bộ của sản
phẩm hàng hóa hoặc yêu cầu kỹ thuật của công việc;
d- Giá cả;
đ- Bảo hành;
e- Điều kiện nghiệm thu, giao nhận;
g- Phơng thức thanh toán;
h- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế;
12
i- Thời hạn, hiệu lực của hợp đồng;
k- Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng kinh tế;
l- Các thỏa thuận khác.
Trong tất cả các điều khoản trên thì bốn điều khoản a, b, c, d là
những điều khoản chủ yếu, bắt buộc phải có trong bất cứ hợp đồng kinh tế
nào. Những điều khoản còn lại tùy theo từng loại hợp đồng kinh tế mà chúng
có thể là điều khoản chủ yếu hoặc không là điều khoản chủ yếu. Có điều
khoản là chủ yếu đối với loại hợp đồng này nhng lại không phải là chủ yếu
đối với loại hợp đồng khác.
13
Phần III
Trình bầy một bản hợp đồng cụ thể
Hợp đồng này đã đợc sự nhất trí của các bên:
Bên bán: Công ty XNK Tổng Hợp I
Địa chỉ: 46 Ngô Quyền Hà Nội
Điện thoại: (04) 9717918
Đại diện bởi: Giám đốc
bên mua: công ty trách nhiệm hữu hạn quyết thắng
Địa chỉ: 50 Nguyễn Hữu Huân Hà Nội
Điện thoại: (04) 8214965
Đại diện bởi: Giám đốc
về những điều khoản sau đây:
Điều 1: tên hàng - số lợng - giá cả
sản phẩm gỗ mỹ nghệ
đợc làm bằng gỗ loại I & loại II: Hơng, trắc, mun
Tên hàng Số lợng
đơn vị
Đơn giá
FOB HCMC
Thành tiền
USD
Bàn hình chữ nhật và bàn vuông
Bàn làm việc hình chữ nhật
Ghế
Ghế gỗ cẩn đá (bộ 6 cái)
Bộ bàn ghế cẩn (bộ 9 cái)
Bộ bàn ghế cẩn rồng
Ghế cẩn
4
2
25
3
1
1
1
30
40
10
150
400
900
600
120
80
250
450
400
900
600
Tổng cộng 37 2800
Hai ngàn tám trăm Đô la chẵn
Điều 2: chất lợng: Nh mẫu đã đợc thỏa thuận
Điều 3: bao gói: Nh lời yêu cầu của bên mua
Điều 4: giao hàng: Bằng ô tô tải vào tháng 10 và tháng 11/2002
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét