Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thị trường chứng khoán ngành xây dựng

THỰC TRẠNG NGÀNH :
Ngành xây dựng có tốc độ tăng trưởng nhanh.
Ngành xây dựng chủ yếu tập trung vào lĩnh vực xây dựng các công trình kiến trúc và cơ sở
hạ tầng. Trung bình trong giai đoạn 1995-2008, tốc độ phát triển của ngành đạt 8,6%/năm
(tính theo giá so sánh 1994), nếu tính theo giá thực tế thì tốc độ phát triển của ngành xây
dựng đạt 14,9%/năm. Nếu chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000-2008 thì tốc độ phát triển
còn cao hơn và đạt tới 19,1%/năm.
Tốc độ tăng trưởng ngành xây dựng giai đoạn 1996-2008
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Vốn đầu tư vào ngành xây dựng theo giá thực tế (tỷ đồng)
Nguồn: GSO, BVSC
Trong thời gian qua, Việt Nam cũng là nước thu hút khá lớn nguồn vốn FDI, vốn FDI cam
kết tập trung chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng và công nghiệp- chiếm trên 60% tổng số vốn
cam kết. Do vậy, việc tiếp tục giải ngân các dự án đầu tư và những dự án đầu tư dài hạn sẽ
góp vần đáng kể vào tốc độ tăng trường chung của ngành công nghiệp xây dựng.
Nguồn vốn FDI cung
cấp theo lĩnh vực 2008
Tỉ lệ
FDI qua các năm
( Tổng cục thống kê)
Năm 2007 là năm phát
triển vượt bậc của
ngành xây dựng với mức tăng trưởng 12%. Nhưng đến năm 2008, hoạt động kinh doanh
của ngành xây dựng liên tục phải đối diện với nhiều trở ngại. Nửa đầu năm 2008, diễn biến
lạm phát trong nước làm giá các nguyên vật liệu chủ chốt như thép; xi măng; gạch, kính,
đá tăng mạnh. Tính toán của công ty tài chính châu Á Morgan Stanley Hoa Kỳ (chi nhánh
châu Á) cho biết, các chi phí xây dựng tại thời điểm tháng 5/2008 đã tăng hơn 40% so với
cuối năm 2007. Nhiều công ty xây dựng cũng điêu đứng vì phí lãi vay tăng cao, trên
20%/năm. Khó khăn chưa qua, từ cuối tháng 4/2008, ngành xây dựng tiếp tục phải chịu
ảnh hưởng từ sự đóng băng của ngành bất động sản làm cho ngành xây dựng trở thành duy
nhất tăng trưởng âm -0,4% do chính sách tiền tệ thắt chặt. Nền kinh tế sau cơn suy thoái đã
có dấu hiệu hồi phục trong năm 2009 khi có quyết định điều chỉnh giảm lãi suất ngân hàng,
cộng với giá nhiều loại vật liệu xây dựng quan trọng tụt dốc theo giá thế giới, đã có tác
dụng kích thích nhu cầu xây dựng nhà ở. Hiện nay, lãi suất vay ngân hàng đã xuống thấp
hơn so với trước khi Chính phủ áp dụng các giải pháp thắt chặt tín dụng để chống lạm phát
hồi đầu năm ngoái. Giá thép xây dựng, gạch ngói cũng giảm gần một nửa. Theo các nhà
thầu xây dựng, chi phí xây nhà vào thời điểm hiện nay giảm đến 30-40% so với lúc cao
điểm của năm ngoái. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, giá trị sản xuất, kinh doanh của
ngành trong 8 tháng qua đạt 74.840 tỷ đồng, bằng 63% kế hoạch năm và tăng 9,5% so với
cùng kỳ năm 2008. Trong đó, giá trị xây lắp 33.596 tỷ đồng, tăng 11%; giá trị sản xuất
công nghiệp 24.850 tỷ đồng, tăng 8,6% so với cùng kỳ.
Bước sang năm 2009, triển vọng kinh doanh của ngành xây dựng cũng chẳng mấy sáng sủa
khi nền kinh tế toàn cầu và trong nước suy giảm, thị trường bất động sản vẫn chưa thoái
khỏi tình trạng ảm đạm. Đây là điều không có gì lạ vì ở các nước trên thế giới như Mỹ,
Anh…, ngành xây dựng cũng đang vật lộn để sinh tồn do nhu cầu xây dựng nhà cửa giảm
sút.

Những khó khăn trên được phản ánh trong kết quả kinh doanh năm 2008 của các công ty
niêm yết. Thống kê cho thấy, tăng trưởng doanh số của ngành là 32.3% nhưng do giá vốn
hàng bán tăng 36.3%; chi phí tài chính tăng 1.1 lần khiến lợi nhuận sau thuế giảm 14.11%
so với năm 2007. ROEA của ngành giảm mạnh từ mức 25.4% vào năm 2007 xuống còn
12.5% trong năm 2008. Đồng thời, chỉ số ROAA của ngành giảm nhẹ từ mức 5.73% xuống
còn 3.08% và thấp hơn so với toàn thị trường.
TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH :
Theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới tại Hội Nghị giữa kỳ Nhóm tư vấn các nhà tài trợ
cho Việt Nam ngày 8-9 tháng 6 năm 2009, Ngành xây dựng Việt Nam sẽ tăng trưởng 2 con
số.
Trong bối cảnh mà các ngành nông nghiệp, chế tạo, dịch vụ đang khó khăn hơn bao giờ
hết thì kết quả hoạt động tốt của ngành xây dựng có thể đem lại mức tăng trưởng
GDP khoảng 6,3% cho Việt Nam trong năm 2009, thay vì mức dự báo 5%.
Năm 2008, bong bóng bất động sản phát nổ, lãi suất leo thang do thực hiện chính sách bình
ổn kinh tế cùng với giá xi măng, sắt thép tăng vọt đã làm cho GDP của ngành xây dựng
sụt giảm. Mặc dù con số tuyệt đối không lớn (-0,4%), song đây là lần đầu tiên ngành xây
dựng có tăng trưởng âm kể từ đầu cuộc khủng hoảng Đông Á một thập niên về trước.
Sang năm 2009, khi lãi suất ngân hàng đã thấp hơn nhiều nhờ vào các biện pháp kích thích
nền kinh tế của các Chính phủ và giá xi măng, sắt thép giảm mạnh, ngành xây dựng đã
phục hồi rõ rệt. Quý I/2009, GDP của ngành tăng trưởng 6,9%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế vẫn ở mức thấp - chỉ đạt 3.1 %- tuy nhiên , lĩnh vực xây dựng đã bắt đầu có
nhiều dấu hiệu cả thiện do tác động của gói kích cầu của chính phủ được đưa ra vào đầu
năm 2009 bắt đầu phát huy tác dụng. Những dấu hiệu tích cực từ chính sách kinh tế vĩ mô
của Nhà nước như cắt giảm lãi suất, giải ngân cho vay bất động sản, tập trung đầu tư phát
triển hệ thống cơ sở hạ tầng…đã làm cho tăng trưởng của lĩnh vực xây dựng trong quý
1/2009 đạt mức 6.9%- cao hơn mức 3.3% cùng kỳ năm 2008. Hiện nay, theo thống kê của
bộ kế hoạch – đầu tư, thì trong 10 tháng đâu năm 2009 ngành xây dựng Việt Nam đã tăng
trưởng 11%.Thời gian tới chính phủ dự kiến sẽ bổ sung thêm nhiều nguồn vốn để thự hiện
các dự án đầu tư với triển vọng kinh tế ở mức 4,5 %/ năm. Dự kiến ngành xây dựng năm
2009 có thể tăng trưởng 11,3 %.


Số liệu bán xi măng trên thị trường trong nước và nhập khẩu sắt thép đã cho thấy
các hoạt động xây dựng đã tăng mạnh so với 6 tháng trước.
Nguồn: GSO và ước tính của WB.
Ông Tom Tobin, Giám đốc điều hành của HSBC Việt Nam trong buổi gặp mặt ngày 6
tháng 6/2009 cũng đã nhận định: “Mặc dù, khu vực công nghiệp, dịch vụ đang suy giảm,
ngành xây dựng đang có chuyển biến tích cực, và tăng trưởng trở lại. Nguyên nhân là do
giá vật liệu xây dựng đã giảm, lãi suất thấp nên đây là thời điểm tốt cho các công trình xây
dựng đang triển khai kể cả các dự án FDI”.
Bên cạnh đó, Bộ kế hoạch đầu tư hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước năm
2009 chưa thực hiện và Thủ tướng đã phê duyệt chương trình nâng cấp đô thị quốc gia giai
đoạn từ năm 2009 đến năm 2020 với khoản đầu tư lên đến 175 nghìn tỷ đồng nhằm nâng
cấp đô thị được triển khai từ loại IV trở lên trên toàn quốc, tập trung cải tạo nâng cấp các
khu dân cư thu nhập thấp và các khu đô thị chưa đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật,
nhà ở và khu vực dự báo đến năm 2020 có mật độ xây dựng cao.
Ngoài ra, việc triển khai các dự án tạm đình hoãn năm 2008, và các dự án mới dự báo sẽ
đem lại tốc độ phát triển mạnh mẽ và tiềm năng lớn trong lĩnh vực xây dựng.
ĐIỂM MẠNH , ĐIỂM YẾU CỦA NGÀNH :
Điểm mạnh Điểm yếu
- Nhân công đầy đủ, chi phí rẻ.
- Biết tiếp thu các công nghệ, khoa học-kĩ
- Phụ thuộc nhiều vào giá nguyên vật liệu,
nhiên liệu
thuật của các nước như Nhật Bản, Hàn
Quốc… để áp dụng cho nền xây dựng trong
nước
- Nguồn nhân lực chất lượng cao được đầu
tư phát triển
- Lực lượng tư vấn nước ta còn yếu trong
khâu chuẩn bị đầu tư và khâu giám sát, quản
lý dự án.
- Nhà thầu xây dựng với khả năng tài chính
còn yếu đã và đang hạn chế khả năng cạnh
tranh của nhà thầu.
- Mới phần nào tiếp cận được công nghệ
hiện đại thông dụng chứ chưa phải đỉnh cao,
đối với công trình xây dựng phổ thông thì
công nghệ còn thô sơ
- Công nghệ hoàn thiện nhất là với chung cư
cao tầng còn nhiều mặt yếu. Công nghệ duy
tu, bảo dưỡng và sửa chữa nâng cấp công
trình hạ tầng chưa được chú ý đúng mức.
CƠ HỘI , THÁCH THỨC VÀ NHỮNG RỦI RO
Cơ hội Thách thức
- Việt Nam với dân số trẻ, tỷ lệ dân thành
thị thấp và xu hướng đô thị hoá đang tăng
mạnh mẽ , nhu cầu xây dựng nhà ở, đường
xá, cầu cống, khu công nghiệp , trung tâm
thường mại ngày 1 tăng.
- Thị trường xây dựng, bất động sản thời
gian qua đang ấm dần lên là cơ hội lớn cho
các doanh nghiệp trong nghành.
- Sau nhiều lần tăng giá kể từ đầu năm,
thời gian gần đây Tổng Công Ty Thép Việt
Nam liên tục hạ giá thép nội theo xu hướng
giảm giá thép thế giới giữa mùa cao điểm
hoạt động xây dựng – thì đây là một cơ hội
tốt với các hợp đồng xây dựng đang triển
khai của các doanh nghiệp trong nghành
nhằm giảm thiểu giá vốn, tăng lợi nhuận
hoạt động.
- Các doanh nghiệp xây dựng ngày càng gia
tăng về số lượng và đòi hỏi của các chủ đầu
tư ngày càng cao.Do đó, đòi hỏi các doanh
nghiệp trong nghành cần không ngừng nâng
cao năng lực hoạt động để cạnh tranh, đứng
vững và tạo uy tín trên thị trường.
- Mặc dù từ nay đến cuối năm giá cả VLXD
dự kiến sẽ ít biến động, tuy nhiên trong thời
gian tới sự biến động là khó kiểm soát, do đó
vấn đề kiểm soát chi phí, hạ giá thành công
trình là 1 thách thức lớn với các doanh
nghiệp trong ngành.
- Theo dự báo thì từ nay đến cuối năm giá
xi măng không có xu hướng tăng, do đó
đây là điều kiện thuận lợi trong việc tìm
kiếm nguyên liệu đầu vào.
Rủi ro
Đầu tư vào các công ty xây dựng hiện nay là một xu hướng mới của các nhà đầu tư trong
và ngoài nước. Có nhiều lý do giải thích cho xu hướng này, như thị trường bất động sản
Việt Nam đã ấm lại, nhu cầu nhà ở của người dân, nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng trong
nước đang gia tăng mạnh ”
Tuy vậy, cổ phiếu xây dựng không đơn thuần chỉ toàn màu hồng mà cũng ngầm chứa
nhiều rủi ro như cổ phiếu của bất động sản. Đa số các công ty xây dựng đều có những dự
án địa ốc riêng cho mình, do đó, việc giá đất lên xuống thất thường sẽ tác động trực tiếp
đến cổ phiếu của công ty. Vấn đề chính yếu là nhà đầu tư cần sáng suốt để nhận biết được
đâu là cơn sốt ảo, sốt thật để bỏ tiền đầu tư đúng chỗ, không nên theo tâm lý đầu tư kiểu
bầy đàn.
Còn theo ông Huy Nam, chuyên viên đầu tư tài chính và chứng khoán, thì rủi ro của cổ
phiếu xây dựng luôn gắn liền với vấn đề giải toả đền bù, quy hoạch Chỉ cần một dự án
địa ốc bị vướng thủ tục giải toả, hay quy hoạch thì đồng vốn của công ty xây dựng sẽ bị
chôn ngay. Mà việc chôn vốn lâu trong ngành xây dựng, địa ốc luôn tác động xấu đến cổ
phiếu của công ty.
Ngoài ra, tình trạng xây dựng cẩu thả, rút ruột các công trình gần đây cho thấy đây là
ngành có tính minh bạch không cao.
Cuối cùng, một rủi ro khác mà các nhà đầu tư cần lưu ý là năng lực và tiềm năng tài chính
thực sự của các công ty xây dựng. Một công ty xây dựng có rất nhiều dự án địa ốc nhưng
điều đó không có nghĩa là tất cả các dự án đó đều khả thi. Hơn nữa, cũng không có gì đảm
bảo sau khi thực hiện xong các dự án địa ốc đó, công ty sẽ còn hàng để bán tiếp.
CỔ PHIẾU NGÀNH XÂY DỰNG
Cổ phiếu niêm yết ngành xây dựng hiện nay trên hai sàn có rất nhiều, nhất là sàn Hà Nội
với nhiều mã có liên quan đến thương hiệu Sông Đà. Ở TP. HCM ít hơn nhưng so với cổ
phiếu các ngành nghề khác thì vẫn còn vượt trội.
Nửa đầu năm 2008, diễn biến lạm phát trong nước làm giá các nguyên vật liệu chủ chốt
như thép; xi măng; gạch, kính, đá tăng mạnh. Tính toán của công ty tài chính châu Á
Morgan Stanley Hoa Kỳ (chi nhánh châu Á) cho biết, các chi phí xây dựng tại thời điểm
tháng 5/2008 đã tăng hơn 40% so với cuối năm 2007. Nhiều công ty xây dựng cũng điêu
đứng vì phí lãi vay tăng cao, trên 20%/năm. Các chủ công trình buộc phải trì hoãn tiến độ
dự án để tránh bị lỗ. Khó khăn chưa qua, từ cuối tháng 4/2008, ngành xây dựng tiếp tục
phải chịu ảnh hưởng từ sự đóng băng của ngành bất động sản Thống kê cho thấy, tăng
trưởng doanh số của ngành là 32.3% nhưng do giá vốn hàng bán tăng 36.3%; chi phí tài
chính tăng 1.1 lần khiến lợi nhuận sau thuế giảm 14.11% so với năm 2007. ROEA của
ngành giảm mạnh từ mức 25.4% vào năm 2007 xuống còn 12.5% trong năm 2008. Đồng
thời, chỉ số ROAA của ngành giảm nhẹ từ mức 5.73% xuống còn 3.08% và thấp hơn so
với toàn thị trường.

Trong khi hoạt động kinh doanh đang gặp nhiều khó khăn, khả năng tài chính của ngành
xây dựng khá cao do tỷ số tổng nợ/vốn chủ sở hữu là 2.9 lần, cao hơn mức 1.35 của toàn
thị trường. Thậm chí một số công ty có tỷ mức độ đòn bẩy rất cao như: SDS (11.1 lần);
VCG (11.1 lần): SDJ (6.7 lần); VM C (6.5); STL (6.3 lần). Việc sử dụng nhiều nợ cộng
thêm tỷ số thanh toán giảm từ 1.36 lần vào năm 2007 xuống còn 1.26 lần vào năm 2008 có
thể gây nên những lo ngại về khả năng thanh toán của ngành.
Nguồn: VietstockFinance
Trong những chỉ tiêu được nhiều nhà đầu tư quan tâm khi đầu tư vào một cổ phiếu, đó là
chỉ tiêu ROE (tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu). Mức ROE trung bình của các doanh
nghiệp xây dựng đang niêm yết trên thị trường chứng khoán hiện nay là 16%.Tức là nếu
đầu tư 100 đồng vào các doanh nghiệp xây dựng đang niêm yết trên thì trung bình nhà đầu
tư có thể thu được 16 đồng lợi nhuận. Đây không phải là mức cao so với các ngành khác
trên thị trường. Trong khi đó thì ROA, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng thấp chỉ đạt
4,3%.
Số lượng công ty thuộc tổng công ty xây dựng sông đà chiếm tỉ lệ lớn trên thị trường
chứng khoán ngành xây dựng với 22 công ty. Biến động giá tương đối đồng đều nhau,
đồng loạt tăng và đồng loạt giảm và 2 đợt sóng gần đây đều được dẫn dắt bởi cổ phiếu
SD6. các chỉ số hiệu quả hoạt động thị trường của nhóm sông đà ở mức trung bình. Chỉ
tiêu ROE quý II năm2009 đạt mức 8% bằng mức ROE của các công ty chứng khoán, dự
kiến cả năm 2009 đạt mức 20%. EPS 4 quý gần đây nhất 4121 dồng bằng mức trung bình
của thị trường là 4078 đồng . P/E của các công ty sông đà là 11(thấp hơn mức P/E toàn thị
trường: 13).
Cổ phiếu ngành xây dựng hiện là một trong ưu tiên lựa chọn của các nhà đầu tư bên cạnh
các cổ phiếu bluechip bởi đây là các cổ phiếu có tính thanh khoản cao và có khối lượng
giao dịch khá lớn trên thị trường. Theo nhận định của ông Trần Vũ Anh, Trưởng phòng
đầu tư địa ốc của tập đoàn VinaCapital, hầu hết các nhà đầu tư đều nhìn thấy ở các công ty
xây dựng nhiều lợi thế trong việc hợp tác và kinh doanh. Đa số các công ty xây dựng đều
có những dự án địa ốc cho riêng mình, đây chính là một trong những yếu tố quan trọng để
thu hút vốn đầu tư.
Ngoài ra, khi đầu tư vào các công ty này, nhà đầu tư sẽ được hưởng một quy trình trọn gói
từ khâu tư vấn , thiết kế, thẩm định đến quản lý vận hành dự án. Đó là chưa kể, các công ty
xây dựng luôn có đầy đủ công ty con hỗ trợ (sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, kinh
doanh BĐS ), nên chi phí bỏ ra sẽ giảm đi rất nhiều thay vì nhà đầu tư phải thuê mướn
nhiều công ty khác nhau.
Điểm mặt các cổ phiếu ngành xây dựng tăng kịch trần thì phần lớn là các cổ phiếu của các
công ty xây dựng chuyên ngành bất động sản và có nhiều dự án bất động sản đang triển
khai. Trong khi đó, việc thị trường bất động sản “nóng lên” tại nhiều thành phố lớn như Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… cũng là một lực kéo quan trọng khiến các nhà
đầu tư “đặt niềm tin” vào các mã cổ phiếu này.
Cùng quan điểm với các chuyên gia, nhiều nhà đầu tư chứng khoán tại Hà Nội cho rằng:
Hiện giá bất động sản tại các thành phố lớn đã tăng trên 20%; trong đó, một số dự án như
Bắc An Khánh (Splendora) đã có mức chênh lệch so với giá gốc lên tới 1,3 tỷ đồng/căn. Vì
vậy, các nhà đầu tư quan tâm đặc biệt tới các cổ phiếu ngành xây dựng bởi kỳ vọng vào lợi
nhuận từ các dự án bất động sản mà các Tổng Công ty này đang triển khai và sắp triển khai
như: N05 (Trung Hòa Nhân Chính), Sudico An Khánh (Thanh Hóa), khu dân cư Tân Tạo
(thành phố Hồ Chí Minh), khu dân cư Vĩnh Thanh-Nhơn Trạch-Đồng Nai…
BẢNG TỔNG HỢP CÁC CHỈ SỐ CƠ BẢN CỦA CÁC CÔNG TY TRONG NGÀNH TRÊN 2 SÀN :
( Số liệu cập nhật ngày 21/11/2009)

Hiện nay thì trên 2 sàn : HNX, HOSE theo thống kê của website :
cophieu68.com thì có tất cả 65 mã niêm yết của các công ty xây
dựng .
ST
T

CK
Tên công ty EPS
(nghìn
đồng)
PE KLGD
Khớp
lệnh TB
10
phiên
KL cổ
phiếu lưu
hành
Vốn hóa
thị
trường
(tỉ đồng)
BVPS
(nghìn
đồng)
PB ROA ROE
1. B82 Công ty cổ phần 482 4,25 8,43 20.880 1.500.000 53,7 15,25 249,10 5% 28%
2. CDC Công ty cô phần đầu tư và
xây lắp chương dương
4,31 13,42 145.620 6.465.715 373,72 24,28 380,24 5% 15%
3. C92 Công ty cổ phần đầu tư và
xây dựng 492
1,2 22 11.390 1.200.000 31,68 12,53 385,94 1% 14%
4. CIC Công ty cổ phần đầu tư và
xây dựng cotec
1,75 12,42 33.820 2.718.596 58,99 19,89 127,09 2% 9%
5. CID Công ty cổ phần xây dựng và
phát triển cơ sở hạ tầng
1,18 21,15 3.030 1.082.000 27,05 13,37 187.61 4% 9%
6. CNT Công ty cổ phần xây dựng và
kinh doanh vật tư
2,41 11,22 160.127 7.944.300 214,5 22,83 126,83 2% 19%
7. CTN Công ty cổ phần xây dựng
công trình ngầm
1,93 16,08 99.390 4.814.400 149,25 21,71 153,75 2% 9%
8. DCC Công ty cổ phần xây dựng
công nghiệp Descon
1,79 14,26 163.238 9.900.000 252,45 20,33 136,64 5% 9%
9. DIC Công ty cổ phần đầu tư và
thương mại DIC
1,41 26,68 201.405 15.199.54
0
566,98 36,68 203,29 2% 6%
10. DIG tổng công ty cổ phần đầu tư
phát triển xây dựng
1,44 20,1 107.650 5.500.000 158,95 12,14 684,22 15% 37%
11. FPC Công ty cổ phần Full Power 3,01 10,75 532.460 15.000.00
0
486 12,46 165,91 - 5% -7%
12. HBC Công ty cổ phần xây dựng và
kinh doanh địa ốc Hòa bình
3,39 6,64 24.503 8.900.000 200,25 13,81 108,29 2% 4%
13. HUT Công ty cổ phần Tasco 3,45 9,58 43.170 3.500.000 115,5 20,36 264,32 2% 20%
14. ICG Công ty cổ phần xây dựng
song hồng
3,89 6,79 20.310 3.500.000 92,4 19,98 287,99 6% 17%
15. L10 Công ty cô phần Lilama 10 3,39 6,96 23.512 8.900.000 210,04 13,81 177,22 7% 22%
16. L18 Công ty cổ phần đầu tư và
xây dựng số 18
3,45 10,1 39.490 3.500.000 121,8 20,36 173,81 3% 17%
17. L61 Công ty cổ phần Lắp máy 69-
1
1,83 12,01 30.940 7.015.000 154,33 14,58 157,38 5% 13%
18. L62 Công ty cổ phần Lilama 69-2 3,91 5,96 15.990 3.000.000 69,9 19,15 121,7 7% 19%
19. LCG Công ty cổ phần LICOGI 16 10,64 7,99 709.884 20.400.00
0
1,734 32,49 261,6 18% 32%
20. LUT Công ty cổ phần Đầu tư Xây
dựng Lượng Tài
0,98 23,45 13.560 5.550.000 127,65 23,45 206,16 3% 9%
21. MCG Công ty cổ phần Cơ điện và
Xây dựng Việt Nam
2,48 18,54 808.604 14.520.00
0
667,92 14,87 292,22 5% 9%
22. MEC Công ty cổ phần Someco
Sông Đà
4,06 10,32 39.030 4.000.000 167,6 20,36 201,37 3% 20%
23. PVA Công ty cổ phần Xây dựng
dầu khí Nghệ An
1,58 13,21 47.640 10.000.00
0
209 13,21 397,85 2% 21%
24. QTC Công ty cổ phần Công trình
giao thông Vận tải Quảng
Nam
4,57 5,14 2.600 1.200.000 28,2 20,02 119,5 3% 12%
25. S12 Công ty cổ phần Sông Đà 12 1,57 21,9 62,240 5.000.000 171,5 13,40 280,17 2% 12%
26. S55 Công ty cổ phần Sông Đà 505 5,1 9,91 59.540 2.496.000 126.05 37,15 144,21 7% 14%
27. S64 Công ty Cổ phần Sông Đà
6.04
3,66 10,21 29.800 2.000.000 74,8 24,31 158,95 8% 15%
28. S74 Công ty cổ phần Sông Đà
7.04
5,93 7,62 29.680 4.000.000 180,8 15,18 323,99 7% 24%
29. S91 Công ty Cổ phần Sông Đà
9.01
2,08 19,23 20.310 1.500.000 60 14,57 300,97 3% 14%
30. S96 Công ty cổ phần Sông Đà
9.06
2,33 34,84 95.420 2.500.000 202,5 13,49 694.91 5% 17%
31. S99 Công ty Cổ phần Sông Đà
909
4,57 12,57 78.190 4.447.940 255,31 15,57 401,13 15% 29%
32. SD2 Công ty cổ phần Sông Đà 2 3,1 14,17 107.500 4.853.500 213,55 22,32 207,99 3% 14%
33. SD3 Công ty Cổ phần Sông Đà 3 2,96 13,16 79.910 7.999.678 311,99 26,32 150,45 5% 11%
PHÂN TÍCH CÁC CÔNG TY TRÊN
Tổng quan :
Công ty cổ phần Sông Đà 5 thành lập năm1993. Năm 2004 chuyển sang hoạt động theo mô
hình cổ phần. Hoạt động kinh doanh chính của Công ty là xây lắp. Công ty đã và đang đầu
tư dây chuyền sản xuất bê tông đầm lăn, đây là công nghệ hoàn toàn mới và phức tạp, lần
đầu được áp dụng tại Việt Nam. Cùng với lợi thế là thành viên của Tổng Công ty Sông Đà,
Công ty đều có ưu thế về tất cả các mặt như thương hiệu, quy mô, công nghệ trình độ tay
nghề và kinh nghiệm của người lao động, thị trường, chiến lược phát triển. Ban lãnh đạo
Công ty đã thực hiện khoán đến từng đội sản xuất do đó tiết kiệm được chi phí dẫn đến
tăng lợi nhuận. Công ty được Tông công ty Sông Đà giao các hạng mục công trình xây lắp
thủy điện và các công trình giao thông, xây dựng khác trên khắp các tỉnh thành như: Lai
Châu, Tuyên Quang, Sơn La. Ngoài ra, Công ty còn đang mở rộng thị trường sang các
nước bạn như Lào.
Lịch Sử hình thành :
 Công ty cổ phần Sông Đà 5 tiền thân là Công ty xây dựng thuỷ điện Vĩnh Sơn trực
thuộc Tổng công ty Sông Đà được thành lập lại theo Quyết định số 134A BXD/TCLD
ngày 26/3/1993.
SD5 : Công ty Cổ phần Sông Đà 5 (HNX)
Nhìn vào bảng tổng hợp các mã cố phiếu ở trên, ta thấy một số cố phiếu có chỉ số EPS cao và P/E thấp
như là : SD5, LCG, SNG . EPS cao nghĩa là lợi nhuận ( thu nhập ) trên mỗi cổ phiếu cao, còn P/E
càng thấp đồng nghĩa với việc nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập càng thấp .Theo đó,
SNG giữ vị trí cao nhất khi có EPS là 12,72 trong khi P/E là 6,65; tiếp đó là LCG với EPS 10,64 khi
P/E 7.99; SD5 có EPS là 9,3 trong khi P/E là 7,64. Nhìn chung theo thống kê từ các chỉ số P/E, EPS,
ROA, ROA thì 3 mã LCG ; SNG; SD5 chiếm ưu thế nhất. Và vì thế đặt trong mối tương quan giữa
các chỉ số này, nên nếu chọn để đầu tư tôi sẽ chọn các công ty trên : SNG, LCG, SD5.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét