CTCP là sự hình thành một kiểu tổ chức doang nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng. Nó ra đời không nằm trong ý muốn chủ quan của bất cứ lực l-
ợng nào mà là một quá trình kinh tế khách quan do các nguyên nhân sau:
- Quá trình xã hội hoá t bản tăng cờng tích tụ và tập trung t bản
ngày càng cao là nguyên nhân hàng đầu thúc đẩy CTCP ra đời.
Trong nền sản xuất hàng hoá, qui luật giá trị tác động mạnh nh cạnh
tranh khốc liệt gia các nhà t bản, buộc họ phải tìm cách cải tiến nâng cao trình
độ kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất nhằm sao cho
giá trị hàng hoá cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giá trị hàng hoá xã
hội thì mới có thể tồn tại và phát triển. Để làm đợc điều này các nhà t bản vừa
và nhỏ phải tự tích tụ vốn để mở rộng qui mô sản xuất và hiện đại hoá cao trang
thiết bị, tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Nh
vậy các nhà t bản vừa và nhỏ có thể thoả hiệp, liên minh với nhau, tập trung các
nhà t bản cá biệt của họ lại thành một t bản lớn để đủ sức cạnh tranh với các nhà
t bản khác. Từ hình thức tập trung vốn nh vậy các CTCP dần dần hình thành và
phát triển ngày càng mạnh mẽ.
- Sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí của tiến
bộ kỹ thuật tạo động lực thúc đẩy CTCP ra đời và phát triển. Sự phát triển của
lực lợng sản xuất và do trình độ kỹ thuật ngày càng phát triển cao, đòi hỏi t bản
cố định tăng lên vì thế qui mô tối thiểu mà một t bản cần có để có thể kinh
doanh dù trong điều kiện bình thờng cũng ngày càng lớn hơn. Mặt khác do kỹ
thuật ngày càng phát triển làm xuất hiện ngày càng nhiều lĩnh vực kinh doanh.
Và các mặt hàng mới có hiệu quả hơn đã thu hút các nhà t bản đổ xô vào các
ngành, các lĩnh vực và các mặt hàng mới này, bằng cách di chuyển t bản từ các
ngành, lĩnh vực và các mặt hàng kinh doanh kém hiệu quả. Nhng điều này rất
khó khăn và không thể trong một sớm một chiều có thể làm đợc. Vì thế các nhà
t bản cá biệt phải liên minh với nhau góp vốn xây dựng doanh nghiệp lớn. Cùng
chung mục đích tìm lợi nhuận siêu ngạch, thoả thuận cùng góp vốn thành lập
CTCP cùng kinh doanh.
5
- Sự phân tán t bản để tránh rủi ro trong cạnh tranh và tạo thế mạnh
về quản lý.
Sản xuất càng phát triển, trình độ kỹ thuật càng cao, cạnh tranh càng
khốc liệt thì sự rủi ro trong kinh doanh đe doạ phá sản đối với các nhà t bản
ngày càng lớn. Để tránh gặp phá sản, các nhà t bản đã phải phân tán t bản của
mình để tham gia vào nhiều t bản khác biệt, nghĩa là tham gia đầu t vào nhiều
ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều công ty khác nhau. Với cách làm này một mặt các
nhà t bản chia sẻ sự thiệt hại cho nhiều ngời khi gặp rủi ro. Nhng mặt khác do
cùng một số đông ngời tham gia cùng quản lý, tập trung đợc trí tuệ của nhiều
ngời, CTCP hạn chế đợc rủi ro trong kinh doanh.
Tóm lại CTCP là quá trình kinh tế khách quan do đòi hỏi của sự hình
thành và phát triển kinh tế thị trờng, nó là kết quả tất yếu của quá trình tập trung
t bản. Nó diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ
khí và sự tự do cạnh tranh với CNTB. Mac khẳng định ngày nay sự thu hút lẫn
nhau giữ các nhà t bản riêng lể và xu hớng tập chung tỏ ra mạnh hơn bao giờ
hết. Từ đây đánh dấu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các CTCP, đồng thời
nó trở thành một mô hình tổ chức sản xuất phổ biến ở hầu khắp các nớc trên thế
giới.
1.2.2 Quá trình phát triển:
Trải qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn I: Là giai đoạn mầm mống CTCP đầu tiên xuất hiện mang tên công ty
Đông ấn, do thơng nhân Anh thành lập. Năm 1773 tại Luân Đôn hình thù đầu
tiên của sở giao dịch chứng khoán ra đời vào năm 1801 thì chính thức đợc
thành lập. Thị trờng giao chứng khoán của Mỹ ra đời vào năm 1790.
Giai đoạn II: Là giai đoạn hình thành trớc và sau cuộc cách mạng công
nghiệp chủ yếu là nửa đầu thể kỷ XIX, các CTCP chính thức lần lợt ra đời với
hình thức tổ chức và hình thức phân phối riêng của chúng. Khoảng giữa thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX, công ty cổ phần đã xuất hiện trong lĩnh vực giao thông
vận tải: đờng sông và đờng sắt; đến năm 1837 số công ty cổ phần đã là 46.
6
Giai đoạn III: là giai đoạn phát triển, sau những năm 70 của thế kỷ XIX
các CTCP đã phát triển rất nhanh mọc nên một cách phổ biến ở tất cả các nớc,
các ngành quy mô sản xuất mở rộng mạnh mẽ, tập trung t bản diễn ra với tốc độ
cha từng thấy nh: CacTen, XanhĐiCa, TôRôt. đến năm 1930, số CTCP ở Anh là
86 nghìn và 90% t bản Anh đều chịu sự khống chế của CTCP. ở Mỹ, năm 1909
có tới 262000 CTCP. Đến năm1939, số CTCP ở Mỹ chiếm 51,7% trong số các
xí nghiệp công nghiệp.
Giai đoạn IV: Là giai đoạn trởng thành, sau chiến tranh thế giới thứ II, CTCP
ngày càng trở nên hoàn thiện hơn về cơ cấu tổ chức và phát triển mạnh mẽ trên
quy mô to lớn .
CTCP ra đời trên cơ sở nền sản xuất xã hội hoá đặc biệt là xã hội hoá về
vốn, quan hệ tín dụng phát triển, quan hệ thị trờng hình thành đầy đủ. Trải qua
mấy trăm năm, CTCP đẫ phát triển ở hầu hết tất cả các nớc t bản theo xu hớng
từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô lớn từ một lĩnh vực đến nhiều lĩnh vực, từ
một ngành đến đa ngành, từ một quốc gia đến các công ty xuyên quốc gia.
Đặc điểm và vai trò của công ty cổ phần đối với sự phát triển kinh tế
Đặc đểm của công ty cổ phần
CTCP là một hình thức tổ chức doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trờng nó có các đặc điểm sau:
- CTCP là một tổ chức kinh doanh có t cách pháp nhân vá các cổ
đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần góp vốn của mình. Điều
này cho phép công ty có t cách pháp lý đủ để huy động những lợng vốn lớn nằm
rải rác thuộc nhiều cá nhân trong xã hội.
- Công ty có thể phát triển nhiều loại cổ phần, trong đó phải có cổ
phần phổ thông. Ngoài cổ phần phổ thông, công ty có thể phát hành cổ phần u
đãi: Cổ phần u đãi biểu quyết, cổ phần u đãi cổ tức, cổ phần u đãi hoàn lại và cổ
phần u đãi do điều lệ công ty qui định.
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần của mình cho ng-
ời khác, trừ trờng hợp đó là cổ phần u đãi biểu quyết và cổ phần u đãi của cổ
7
đông sáng lập công ty trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty đợc cấp giấy chứng
nhận kinh doanh. Đặc điểm này của CTCP đã cho phép các nhà đầu t có khả
năng chuyển đổi hình thức và mục tiêu đầu t một cách linh hoạt.
- Công ty đợc phép phát hành chứng khoán ra công chúng. Đặc
điểm này cho thấy khả năng huy động vốn của công ty là rất lớn và rộng rãi
trong công chúng.
- Cổ đông của CTCP tối thiểu là 3 và không hạn chế số lợng tối đa (khác
với công tyTNHH là số thành viên là không quá 50 ngời). Trong quá trình hoạt
động, CTCP đợc phép phát hành chứng khoán và cổ đông đợc quyền tự do
chuyển nhợng cổ phần của mình vì thế số lợng cổ đông của CTCP thờng là rất
đông
3.2. Vai trò:
- Công ty cổ phần thông qua thị trờng chứng khoán có khả năng tập trung
vốn nhanh và nhiều để đủ sức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh với
qui mô khổng lồ mà từng nhà kinh doanh riêng biệt không thể tự mình làm nổi.
Điều này do quan hệ sở hữu trong công ty cổ phần là thuộc
về các cổ đông.
- Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn
thông qua các biểu hiện sau:
+ Đối với công ty cổ phần thì phơng án sản xuất kinh doanh không phải
do Nhà nớc hay ngân hàng quyết định mà do chính xí nghiệp quyết định. Hơn
nữa do hình thức tự cấp phát tài chính bằng huy động các nguồn vốn trong dân
c đã đề cao trách nhiệm của xí nghiệp và nâng cao sự quan tâm của xí nghiệp
đến hiệu quả sử dụng vốn.
+ Công ty cổ phần thông qua việc gọi vốn qua thị trờng chứng khoán đã
rút ngắn đợc khoảng cách giữa việc huy động vốn và sử dụng vốn.
+ Do lợi nhuận của công ty cổ phần khác nhau trong các lĩnh vực khác
nhau thúc đẩy nên có thể dẫn dắt tiền vốn nhàn dỗi từ nhiều kênh khác nhau
trong xã hội vào các lĩnh vực, các ngành có năng xuất lao động và tỷ suất lợi
nhuận cao làm cho vốn đợc phân bố và sử dụng hiệu quả
8
trong nền kinh tế.
+ Công ty cổ phần cho phép xác nhận quyền sở hữu về tài sản của ngời
chủ sở hữu và xác định rõ vốn của mỗi ngời thông qua số lợng cổ phần mà cổ
đông nắm giữ. Thực chất công ty cổ phần đã tách đợc quyền sở hữu ra khỏi
quyền quản lý kinh doanh. Điều đó cho phép ngời giám đốc chủ động linh hoạt
tìm kiếm và thực thi các giải pháp kinh doanh có lợi nhất đối với công ty của
mình.
- Công ty cổ phần có khả năng phối hợp các lực lợng kinh tế khác nhau
duy trì đợc mối quan hệ giữa các thành viên. Các thành viên này cùng tồn tại và
phát huy những thế mạnh riêng do đó làm giảm đến mức thấp nhất sự ngng trệ
của các nguồn vốn và sự đổ vỡ, sự gián đoạn của các hoạt động kinh doanh.
- Công ty cổ phần là hình thức kinh doanh tốt nhất để tranh thủ sự tham
gia đầu t của nớc ngoài. Với một nền kinh tế đặc biệt ở các nớc đang phát triển
việc thu hút vốn, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý thông qua liên doanh liên
kết với nớc ngoài là vô cùng cần thiết để phát triển kinh tế trong nớc.
- Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân bố rủi ro đặc thù đã hạn chế đợc
những tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng
hoảng. Chế độ trách nhiệm hữu hạn đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt
hại của sự rủi ro thua lỗ. Cơ chế phân bố rủi ro này đã tạo điều kiện cho những
ngời có vốn mạnh dạn đầu t, làm cho nền kinh tế phát triển vã có xu hớng ổn
định hơn.
Việc hình thành chứng khoán của công ty cổ phần cùng với việc chuyển
nhợng, mua bán chứng khoán đến một mức độ nhất định sẽ tạo điều kiện cho ra
đời thị trờng chứng khoán - trái tim của thị trờng vốn. ý nghĩa căn bản của việc
ra đời thị trờng chứng khoán là ở chỗ: đó là nơi các nhà kinh doanh có thể tìm
kiếm đợc nguồn tài trợ cho hoạt động đầu t sản xuất kinh doanh, là nơi khai
thông các nguồn tiết kiệm của những ngời tích luỹ đến các nhà đầu t, là cơ chế
phân bổ các nguồn vốn đầu t thích hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trờng và
còn là cơ sở quan trọng để Nhà nớc qua đó sử dụng các chính sách tiền tệ can
thiệp vào hoạt động của nền kinh tế nhằm đạt đợc những mục tiêu đã lựa chọn.
9
Bên cạnh những vai trò lớn nh vậy đối với nền kinh tế, công ty cổ phần
vẫn còn tồn tại những điểm hạn chế sau:
+ Với chế độ trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đã đem lại thuận lợi
cho các cổ đông nhng lại chuyển bớt rủi ro cho các chủ nợ.
+ Công ty cổ phần gồm đông đảo các cổ đông tham gia góp vốn, số vốn
góp khác nhau họ lại không quen biết nhau sẽ dẫn đến tình trạng tranh chấp và
phân hoá lợi ích giữa các nhóm cổ đông. Vì thế việc điều hành các công ty cổ
phần rất phức tạp.
+ Cơ cấu tổ chức quản lý ở công ty cổ phần tơng đối cồng kềnh và phức
tạp vì vậy chi phí cho việc quản lý tơng đối lớn.
Mặc dù còn một số hạn chế, nhng nhìn chung công ty cổ phần là một loại
hình tổ chức kinh doanh phù hợp với quy mô sản xuất lớn, thích ứng đợc những
đòi hỏi của nền sản xuất xã hội hoá cao và sự phát triển nền kinh tế thị trờng
hiện đại
10
Chơng 2 : Công ty cổ phần và vai trò của nó
trong nền kinh tế ở nớc ta hiện nay .
2.1. Quá trình hình thành công ty cổ phần ở Việt nam.
2.1.1. Tính tất yếu khách quan của việc hình thành CTCP ở nớc ta.
- Điều kiện và môi trờng pháp lý: Chúng ta đã có nhiều bộ luật và các bộ
luật này ngày càng đợc bổ sung và hoàn thiện. Ngoài ra còn có một số bộ luật
mới sắp đợc đa vào hệ thống luật để phù hợp với xu thế phát triển xã hội ngày
nay. Những bộ luật đó đã mở ra một môi trờng pháp lý thuận lợi cho việc ra đời
của CTCP. Mặc dù cha thực sự hoàn chỉnh song những bộ luật đó sẽ là nhân tố
mở đầu cho sự ra đời của CTCP.
- Chính phủ đã nhận thức đợc tầm quan trọng trong việc CPH, đây
là nhân tố rất quan trọng. Bởi lẽ không CPH thì hiệu quả làm ăn của các doanh
nghiệp khó đợc nâng cao. Điều đó làm nền kinh tế nớc ta càng tụt hậu so với
các nớc khác. Khi chính phủ đã nhận thức đợc tầm quan trọng của việc CPH thì
sẽ có những chính sách hợp lý để thúc đẩy quá trình CPH.Bởi Chính phủ không
những chỉ có chính sách khuyến khích mà còn có cả chính sách bắt buộc.
- Tình hình kinh tế đất nớc biến đổi theo hớng tích cực. Sau hơn 15 năm
đổi mới nền kinh tế nớc ta đã có những dấu hiệu khả quan. Những thành tựu của
nền kinh tế đã tạo môi trờng thuận lợi cho sự ra đời của CTCP.
- Thu nhập của dân c đợc nâng cao. Do nền kinh tế đã có sự tăng trởng
thu nhập ngời dân đợc cải thiên từ đó ngời dân có điều kiện và sự tự tin để đóng
góp vào CTCP. Làm ăn bằng vốn, trí tuệ và sức lực của mình.
-Nền kinh tế thị trờng đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vì thế đã
xuất hiện đội ngũ quản lý doanh nghiệp có năng lực. Đội ngũ này sẽ là những
ngời năng động sáng, đủ sức đứng vững trên thị trờng khi tham gia vào CTCP.
-Nhà nớc ta đã có luật đầu t nớc ngoài. Khuyến khích các doanh nghiệp
các nhà t bản nớc ngoài đầu t vào Việt nam . Thu hút đợc một lợng vốn đáng kể
để thực hiện quá trình CPH.
11
-Nớc ta có nền kinh tế đang phát triển. Việc đa CTCP vào nền kinh tế còn
mới mẻ đối với Việt nam nhng không mới mẻ với nhiều nớc trên thế giới. Vì thế
nớc ta có đIều kiện học hỏi kinh nghiệm của các nớc trên thế giới. Tránh đợc
những sai lầm, rút ngắn những bớc không cần thiết, học hỏi kinh nhiệm quản lý.
Tóm lại: dù là nhân tố bên trong hay bên ngoài chúng ta đều có nhiều
thuận lợi để hình thành CTCP.Hơn nữa việc hình thành CTCP là một yếu tố
khách quan mà không nền kinh tế thị trờng nào tránh đuợc. Vì thế nh nhiều nớc
trên thế giới CTCP đã hình thành ở Việt nam. Và hy vọng trong tơng lai không
xa đó sẽ là hình thức tổ chức kinh doanh đem lại hiệu quả lớn cho nền kinh tế
Việt nam
Sự hình thành và phát triển CTCP ở Việt nam.
Ngày 21 tháng 12 năm 1990 luật công ty Việt nam ra đời. đến tháng 11
năm 1991 chủ trơng CPH doanh nghiệp nhà nớc ở Việt nam lần đầu tiên đợc
nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ơng khoá VII. Cho
đến ngày 31 tháng 7 nă 1999 nớc ta đã có khoảng 230 CTCP đợc thành lập theo
luật công ty và 206 doanh nghiệp nhà nớc đợc CPH chuyển sang hình thức
CTCP. Quá trình thực hiện có thể chia làm 2 giai đoạn chính:
-Giai đoạn thí đểm (1992 1995 ) : Trong giai đoạn này, Chủ tịch Hội
đồng Bộ trởng ( nay là Thủ tớng Chính phủ ) đã ban hành quyết định số 202/CT
ngày 8 tháng 6 năm 1992 về việc thí đIểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc
thành CTCP và chỉ thị 84/TTg về việc xúc tiến thực hiện thí điểm CPH doanh
nghiệp nhà nớc và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các
doanh nghiệp nhà nớc. Sau 4 năm triển khai quyết định số 202/CT và chỉ thị số
84/TTg của Thủ tớng Chính phủ ( 1992 - 1995 ), đã có 5 doanh nghiệp nhà nớc
chuyển thành CTCP. Đó là:
+ Công ty Đại lý Liên hiệp vận chuyển, thuộc Bộ Giao thông Vận tải
(cổ phần hoá năm 1993 ).
12
+ Công ty Cơ điện lạnh, thuộc Uỷ ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
( cổ phần hoá năm 1993 ).
+ Xí nghiệp Giày Hiệp An, thuộc Bộ Công nghiệp (cổ phần hoá năm
1994 ).
+Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu, thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Long
An (cổ phần hoá năm 1995 ).
+Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc, thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn (cổphần hoá năm 1995 ).
Trong số các doanh nghiệp nói trên thì có 4 doanh nghiệp thuộc địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh và1doanh nghiệp thuộc địa bàn Tỉnh Long An.
-Giai đoạn mở rộng thêm ( từ năm 1996 dến nay ) : Trên cơ sở đánh giá
các u điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí điểm CPH một số doanh
nghiệp nhà nớc, Chính phủ đã ban hành nghị định số 28/CP ngày 7 tháng 5 năm
1996 về chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành CTCP. Nghị định này đã
xác định rõ giá trị doanh nghiệp; chế độ u đãi cho ngời lao động trong doanh
nghiệp và tổ chức bộ bộ máy giúp Thủ tớng Chính phủ chỉ đạo công tác CPH
doanh nghiệp nhà nớc, đồng thời giao nhiệm vụ cho các Bộ, các địa phơng hớng
dẫn và tổ chức thực hiện công tác này.
Trong quá trình thực hiện, nghị định28/CP đã bộc lộ một số hạn
chế nhất định. Vì vậy, ngày 26/3/1997 Chính phủ đã ban hành nghị định số
25/CP sửa đổi một số điều của Nghị định 28/CP kể trên. Nhờ những văn bản
này, công tác CPH đã đạt đợc kết quả khá khả quan trong hai năm 1996-1997.
Số doanh nghiệp nhà nớc CPH trong 2 năm tăng gấp nhiều lần so với 4 năm tr-
ớc, đa tổng số doanh nghiệp nhà nớc hoàn thành việc chuyển thành CTCP, hoạt
động theo Luật Công ty lên 18 doanh nghiệp.
Hầu hết 18 doanh nghiệp này, sau khi chuyển sang CTCP đều
phát triển tốt với một số chỉ tiêu nh doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của ngời lao
động đều tăng trởng cao hàng năm. Đây thực sự là tín hiệu tốt, khích lệ cán bộ,
công nhân viên trong các doanh nghiệp nhà nớc chuẩn bị chuyển sang CTCP
tiếp tục ủng hộ chủ trơng CPH của Đảng và Chính phủ.
13
Tuy nhiên, trong vong 5 năm ( 1992 -1997 ) mà các ngành, các
địa phơng trong cả nớc mới chỉ cổ phần hoá xong có 18 doanh nghiệp chứng tỏ
tốc độ CPH diễn ra còn quá chậm. Các nguyên nhân của sự chậm chạp đã đợc
chỉ ra và khắc phục từng bớc, tạo nên một sự chuyển biến ngày một mạnh mẽ cả
về việc sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp luật, các quy
trình, thủ tục lẫn việc thực hiện CPH. Bớc chuyển biến lớn và rất quan trọng có
thể nói đợc bắt đầu từ năm 1998, nhất là sau khi Thủ tớng Chính phủ có Chỉ thị
20/1998/CT TTg về đẩy mạnh sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nớc và
Nghị định 44/1998/NĐ -CP ngày 29/6/1998 về chuyển một số doanh nghiệp
nhà nớc thành CTCP.
2.1. Các loại công ty cổ phần ở Việt nam.
ở Việt nam hiện nay có các loại CTCP sau:
Thứ nhất: đó là công ty quốc doanh. Đây là giải pháp khắc phục
khuyết tật của hình thức sở hữu nhà nớc và tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý trong
khu vực doanh nghiệp quốc doanh. CTCP quốc doanh gồm nhiều chủ sở hữu:
Nhà nớc, những ngời lao động trực tiếp trong CTCP, các cá nhân và các tổ chức
khác. Một đặc điểm của loại CTCP này là nhà nớc nắm giữ cổ phiếu khống chế
chi phối hoạt động của CTCP do đó đợc gọi là công ty quốc doanh. Ngời thay
mặt nhà nớc với t cach là một cổ đông trong hội đồng quản trị có vai trò quyền
hạn trách nhiệm rõ ràng hơn so với vai trò chủ sở hữu gắn với bộ máy nhà nớc
và viên chức nhà nớc. Ngoài ra cũng là CTCP nên có đầy đủ các vai trò, đặc
điểm của CTCP đã nêu
Thứ hai: Loại CTCP liên doanh với nớc ngoài. Ta biết rằng CTCP
là hình thức liên doanh tốt nhất để tranh thủ đầu t nớc ngoài. Do đó với một nền
kinh tế đang phát triển nh nớc ta hiện nay, sự ra đời của CTCP liên doanh với n-
ớc ngoài là đặc biệt quan trọng. Ta vừa tranh thủ đợc vốn lại vừa tranh thủ đợc
công nghệ, trình độ quản lý, kinh nghiệm làm ăn của công ty nớc ngoài.
Điểm khác nhau cơ bản của CTCP liên doanh với nớc ngoài và
CTCP quốc doanh là nó có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức nớc ngoài vào
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét