Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Công tác quản lý tại công ty dệt vải CN HN HACATEX

- Tháng 9/2002 Công ty đầu tư thêm hai máy xe ALLMASAURER của
Cộng hoà liên bang Đức và một máy dệt mành PICANOL của Bỉ vào sản
xuất với tổng vốn đầu tư 21.970.494.400 VNĐ. Dây chuyền này có năng
suất tăng gấp từ 5 đến 7 lần so với dây chuyền cũ.
- Và đặc biệt phải kể đến là dây chuyền sản xuất vải không dệt lần đầu
tiên có mặt tại Việt Nam, dây chuyền này được khởi công lắp đặt vào
tháng 11/2001 và đến tháng 10/2002 được đưa vào sản xuất để kỷ niệm
ngày Giải phóng Thủ đô. Tổng vốn đầu tư cho dây chuyền này lên tới
63.622.939.000VNĐ. Đây là dây chuyền khá hiện đại có mặt lần đầu tiên
tại Việt Nam với quy trình sản xuất hoàn toàn tự động. Vải không dệt
được sử dụng cho các ngành công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, đồ gia
dụng (như làm thảm)….
Mặc dù mới đi vào sản xuất được hơn một năm nhưng sản phẩm Vải
không dệt đã trở thành ngành hàng chủ lực của Công ty. Quý IV/2002-
412.342 m
2
thành phẩm đã được tiêu thụ và đem lại doanh thu là 2.908
triệu đồng, năm 2003 tiêu thụ được 4.960.000 m
2
tương ứng với 26.181
triệu đồng. Tuy nhiên đây là sản phẩm lần đầu tiên được sản xuất trong
nước, nguyên liệu hoàn toàn nhập ngoại nên cũng còn rất nhiều khó khăn
trước mắt đòi hỏi Công ty phải có một chiến lược phù hợp để tìm được
chỗ đứng trên thị trường…
Năm 2004 dự tính Công ty sẽ đầu tư thêm 4 máy dệt mành của Trung
Quốc và thay thế bộ chỉnh tâm, miệng hút keo của máy nhúng keo…
Sau gần 40 năm hình thành và phát triển Công ty Dệt vải Công nghiệp đă
từng bước khẳng định vị trí của mình trên thị trường cũng như trong công
cuộc Công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Công ty đã không ngừng
nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành để thay thế hàng ngoại nhập
và ngày càng vươn xa hơn nữa ra thị trường khu vực và thế giới. Bên
cạnh đó công tác tổ chức luôn được đặc biệt quan tâm nhằm tạo lập tác
phong công nghiệp cho người lao động hoàn thiện bộ máy quản lý gọn
nhẹ cơ cấu sản xuất kinh doanh năng động, hiệu quả thích ứng cao hơn
Trang 5
trong cơ chế thị trường. Năm 2002 Công ty đã áp dụng hệ thống quản lý
chất lượng ISO 9001:2000.
Vượt qua hàng ngàn những khó khăn và thử thách từ một nhà máy sản
xuất lạc hậu với quy mô nhỏ tới nay sau gần 40 năm trưởng thành Công
ty đã có 9 chi nhánh giới thiệu sản phẩm trải rộng khắp ba miền đất nước.
Công ty cũng đã hai lần nhận được huân chương lao động hạng II và
hạng III của Nhà nước trao tặng cùng nhiều danh hiệu cao quý tại các hội
chợ, triển lãm trong nước. Hàng năm công ty đã tạo công ăn việc làm cho
rất nhiều lao động dư thừa góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội
Hiện nay Công ty gồm 4 xí nghiệp:
• Xí nghiệp sản xuất vải bạt.
• Xí nghiệp sản xuất vải mành.
• Xí nghiệp sản xuất vải không dệt.
• Xí nghiệp may.
(Như đã nói ở trên sản phẩm vải bạt đã bước vào giai đoạn suy thoái
nên sớm muộn nó sẽ được thay thế bằng một mặt hàng khác)
Tổng số cán bộ công nhân viên trong Công ty là 782 người (tính đến hết
31/12/2003) trong đó có 672 công nhân sản xuất. Lao động của công ty
đa phần là lao động nữ chiếm khoảng 75%. Trình độ của người lao động
được Công ty rất chú trọng: Trình độ ĐH và trên ĐH chiếm 6,5%;
THCN& CĐ chiếm:6.79%; thợ bậc 6+7là:11,69%; thợ bậc 5 là:20,69%;
thợ bậc 3+4là :17,29%. Tuy nhiên tỷ lệ này chưa cao, Công ty cần phải
chú trọng hơn nữa trong thời gian tới. Đời sống vật chất cũng như tinh
thần của người lao động ngày càng được quan tâm …
Thành công của Haicatex đã góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát
triển của ngành dệt may Việt Nam và trong sự nghiệp xây dựng đất nước.
II. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của HAICATEX :
1-Nhiệm vụ sản xuất sản phẩm của Công ty:
Công ty chuyên sản xuất các loại vải công nghiệp phục vụ cho các ngành
công nghiệp khác như giao thông, thuỷ lợi, sản xuất đồ dân dụng….Tuỳ
Trang 6
vào tính năng của mỗi loại mà nó đáp ứng cho mỗi ngành nghề khác
nhau. Công ty sản xuất 4 loại sản phẩm:
• Vải Mành :Vải mành được sản xuất để cung cấp cho
ngành công nghiệp làm lốp ô tô, xe máy, xe đạp…Sản
phẩm của Công ty được tiêu thụ bởi Công ty Cao su
SaoVàng, Công ty Cao su Đà Nẵng…
• Vải Bạt : Sản phẩm này được sử dụng làm bạt, bao tải
hàng nhẹ, làm giầy vải trong quân đội, găng tay, quần áo
bảo hộ lao động…
• Vải Không Dệt: gồm Vải địa kỹ thuật và Vải lót giầy –
Vải địa kỹ thuật được sử dụng để làm đường chống lún,
đê kè thuỷ lợi…
Vải lót giầy được cung cấp cho nhà sản xuất giầy,
làm thảm, lót thành ô tô,…
• Sản phẩm May: Ngoài các sản phẩm may mặc thông
thường Công ty thường xuyên nhận các hợp đồng may
quần áo bảo hộ cho các Công ty lớn như Dệt 8/3, Honda,
Lilama…, hợp đồng may áo Jaket cho Hàn Quốc, Anh…
Trong những năm gần đây sản phẩm của Công ty đã xâm
nhập vào thị trường Mỹ và EU với kim ngạch xuất khẩu
ngày càng tăng.
Các sản phẩm của công ty được sản xuất chủ yếu từ sợi Nylon6.6.6, PA
(sản xuất vải mành), xơ PES, PP (sản xuất vải không dệt),sợi Cotton,PC,
PE (sản xuất vải bạt)…Các loại sợi này được nhập từ Đài Loan, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đức…….
Sử dụng nhiên liệu là điện và than.
Hoá chất nhúng keo là VP latex, SBR latex và Resorcinol.
Hiện là công ty duy nhất tại Việt Nam sản xuất các loại vải công nghiệp
nên chiếm khá nhiều ưu thế kinh doanh. Tuy nhiên sản phẩm của công
ty vẫn bị canh tranh bởi một số hàng ngoại nhập cả về giá cả và chất
lượng, một phần do máy móc thiết bị của ta chưa sánh kịp một phần do
Trang 7
nguyên vật liệu của ta phải nhập từ nước ngoài nên giá cả sản phẩm còn
cao.Trong thời gian tới công ty sẽ gặp không ít khó khăn khi Hiệp định
cắt giảm thuế quan CEPT/AFTA được áp dụng vào năm 2006 đối với
các nước ASEAN khi đó thuế nhập khẩu giảm xuống chỉ còn 0-5% và
tiến tới Việt Nam ra nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào
năm 2005 sẽ mở ra không ít cơ hội nhưng cũng đầy khó khăn và thách
thức.
Cùng với việc cố gắng hoàn thành tốt các mục tiêu sản xuất kinh doanh
của mình công ty cũng cố gắng hoàn thành tốt nhịệm vụ của mình đối
với nhà nước, dưới đây là tình hình thực hiện nghĩa đóng góp vào Ngân
sách nhà nước(NSNN) của công ty trong ba năm gần đây:
Chỉ tiêu 2001 2002 2003 02/01(%) 03/02(%)
Nộp
NSNN(tr.đ)
11.715 12.89 23.8465 110.03 185
Nhìn bảng trên ta thấy chỉ tiêu nộp NSNN của công ty tăng khá cao
trong mấy năm vừa qua, nó thể hiện sự lỗ lực không ngừng của công ty.
2- Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm của công ty:
Haicatex bao gồm 4 xí nghiệp thành viên:
1. Xí nghiệp Bạt
2. Xí nghiệp Mành
3. Xí nghiệp Vải Không Dệt
4. Xí nghiệp May
Tương ứng sản xuất 4 loại sản phẩm mỗi sản phẩm có một quy trình sản
xuất khác nhau, công nghệ sản xuất độc lập, mức độ phức tạp của mỗi
quy trình phụ thuộc vào yêu cầu sản xuất của từng loại sản phẩm.
* Quy trình sản xuất Vải Mành Nhúng Keo: Với nguyên liệu từ sợi PA,
Nylon6.6.6 (hiện nay vẫn phải nhập từ nước ngoài) trải qua ba công sản
xuất chính: xe, dệt , nhúng keo ta có thành phẩm là: Vải mành 840D/1;
840D/2; 1260D/2 được sử dụng để làm lốp ô tô, xe máy, xe đạp…
* Quy tình sản xuất vải không dệt: Vải không dệt được sản xuất từ sơ
PES, PP nhập từ nước ngoài với các sản phẩm HD130, HD180,
HD200, được sử dụng trong giao thông, thuỷ lợi, đồ gia dụng, Sản
Trang 8
phẩm được sản xuất trên dây chuyền thiết bị hiện đại, tự động hoá từ
khâu nguyên liệu đến khâu thành phẩm cuối cùng dây chuyền này
được chuyển giao từ tập đoàn DILO-CHLB Đức( tập đoàn nổi tiếng
trong lĩnh vực sản xuất vải không dệt theo công nghệ xuyên kim. Với
công suất đạt khoảng 10.000.000 m
2
/năm sản phẩm của dây chuyền
này đang là một trong các ngành hàng chủ lực của công ty. Sản phẩm
này đã có mặt ở một số công trình tiêu biểu như: Đường Cầu Rào -Đồ
Sơn, Hải Phòng, Quảng Ninh, Tp. Hồ Chí Minh
* Quy trình sản xuất vải bạt: Vải bạt được sử dụng làm giầy vải, bao tải,
bảo hộ, đượoc chế xuất từ sợi cotton, PC, PE sản phẩm có các loại
vải Bạt3x3, Bạt 178, Bạt 3419. Hiện nay quy mô của dây chuyền này
đang được công ty thu nhỏ lại vì chu kỳ sống của sản phẩm này đã
bước vào giai đoạn suy thoái.
* Quy trình sản xuất sản phẩm may: Đây là ngành hàng còn non trẻ,
thiếu kinh nghiệm, không đồng bộ nên quy mô còn nhỏ chưa cạnh
tranh đưowcj với thị trường trong nươc . Tuy nhiên trong hai năm vừa
qua sản phẩm của công ty đã xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Châu
Âu với tổng sản lượng tăng đáng kể cụ thể năm 2003 tăng 210% so
với 20002 và dự kiến năm 2004 sẽ tăng 130% so với 2003.
Các quy trình sản xuất được mô tả như sau:
Trang 9
Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Vải Mành Nhúng Keo
Lỗi
Đạt

Đạt Lỗi


Đạt

Đạt
Lỗi


Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Vải Bạt
Trang 10
Sợi dọc
Xe lần 1
Sợi đơn
Xe lần 2
Sợi đơn
Sợi ngang
Kiể
m
tra
Nhập kho
Xe suốt
Kiể
m
tra
Kiể
m
tra
Dệt vải
mành
Sâu go
Nhúng keo
Đóng gói, nhập
kho thành phẩm
Chỉnh sửa
Chỉnh sửa



Quy trình sản xuất vải không dệt
Trang 11
Sợi
Lờ , dồn
Đánh ống
Xe suốt
Đậu sợi
Suốt ngang
Sợi ngang
Đóng kiện
Hoàn thiện
Dệt
Go
Nhập kho
Xơ P.P, P.E
Hệ thống máy
xuyên kim
Máy xếp chống
Máy xé trộn
Nhập kho thành
phẩm
Máy trải
Đóng gói
Máy hoàn thiện
Quy trình công nghệ may



Lỗi
Đạt
III. Đánh gía công nghệ sản xuất sản phẩm của Haicatex:
1. Một số lý luận chung về công nghệ sản xuất sản phẩm:
Trang 12
Nguyên liệu
( Vải)
Giáp mẫu , cắt
Kiể
m
tra
Chỉnh sửa
Vắt sổ
May
Hoàn thiện
(khuy cúc )

Nhập kho
Đóng gói
Chỉnh sửa
Kiể
m
tra
Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất
hoặc thông tin. Công nghệ gồm hai phần:
Phần cứng : Bao gồm máy móc thiết bị cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ còn
được gọi là phần vật chất.
Phần mềm: hay còn gọi là phần phi vật chất bao gồm những kỹ năng , kỹ xảo,
kiến thức quản lý điều hành, phương pháp sản xuất bí quyết kỹ thuật.
Với định nghĩa như trên thì công ghhệ bao gồm:
• Trang thiết bị (Technoware)
• Kỹ năng (Humanware)
• Thông tin (Infoware)
• Tổ chức (Organware)
Trên đây là quan niệm về công nghệ của tổ chức kinh tế xã hội Thái Bình Dương-
ESCAP. Theo tổ chức UNCTAD thì một số hoạt động sau đây cũng thuộc phạm trù
công nghệ:
1-Nghiên cứu khả thi và khảo sát thị trường trước khi đầu tư. Đây là việc làm quan
trọng vì nó giúp cho nhà đầu tư biết được liệu có khả năng đầu tư vào thị trường đó
không ? Thị trường đó có đặc điểm gì? Sản phẩm của công nghệ có đủ sức cạnh
tranh trên thị trường không ? Môi trường đầu tư thế nào? Tất cả những hoạt động
này sẽ hạn chế rủi ro trong quyết định đầu tư.
2-Thu thập thông tin về một số kỹ thuật sẵn có và sẽ có trong tương lai gần. Trên cơ
sở đó nhà đầu tư phải tìm hiểu, lựa chọn kỹ thuật thuộc công nghệ nào cho phù hợp
với dự định phát triển sản xuất hàng hoá của mình. Những thông tin kỹ thuật này
còn là tiền đề quan trọng cho sự lựa chọn đúng đắn chiến lược kinh doanh của tất
cả các doanh nghiệp.
3-Thiết kế kỹ thuật là làm cho máy móc thiết bị kỹ thuật sẵn có phù hợp với quy
trình công nghệ, phù hợp với đăc điểm điêù kiện tự nhiên tạinơi xây dựng nhà máy.
4-Xây dựng nhà máy và lắp đặt thiết bị. Trên cơ sở các thiết kế sẵn có tiến hành xây
dựng và lắp đặt trang thiét bị như : xây dựng nhà xưởng, hệ thông giao thông, thoát
nước lắp đặt máy móc thiết bị chính, phụ trợ, hệ thống điệ cấp nước,….
5-Phát triển công nhân tức là tri thức về bản thân quá trình vận hành sản xuất bao
gồm quản lý điều hành, đào tạo công nhân kỹ thuật, bồi dưỡng kỹ năng, kỹ xảo,
Trang 13
thông tin về thị trường liên quan đến sản phẩm, năng lực cải tiến để nâng cao hiệu
quả sản xuất và hiệu quả sử dụng bí quyết kỹ thuật.
Công nghệ không phải là khái niệm bất biến, mà nó luôn lôn biến đỏi sao cho phù
hợp và thích ứng với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật trong một giai đoạn
cụ thể. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật như hiện nay công nghệ rất
nhanh chóng bị lạc hậu bởi công nghệ mới tiên tiến không ngừng xuất hiện. Nắm rõ
quy luật này Công ty dệt vải công nghiệp Hà Nội đã không ngừng đầu tư đổi mới
trang thiết bị, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, cập nhật thông tin để có sự thay đổi
linh hoạt và đặc biệt là cách thức tổ chức quản lý khoa học… Điều này được thể
hiện cụ thể như sau:
• Trang thiết bị: Hội nhập kinh tế vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các
doanh nghiệp Việt Nam. Để cạnh tranh được với hàng ngoại nhập, khẳng định vị
trí của mình ở thị trường trong nước và có cơ hội nắm bắt thị trường nước
ngoài, công ty đã đầu tư hàng loạt máy móc thiết bị mới.Nổi bật nhất là năm
2002 có nhiều dự án đầu tư đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư hàng trăm
tỷ đồng như: Thay thế bộ Loadcell đo lực căng mới của Đức, bộ tín hiệu cũ của
Trung Quốc được thay thế bằng bộ khuyếch đại kỹ thuật số đảm bảo các thông
số đo lực căng của vải ổn định, cải tạo hệ thống lò dầu, hai máy xe sợi của tập
đoàn ALLMA SAURER- CHLB Đức và Một máy dệt cao tốc PICANOL của Bỉ
có công suất tăng từ 5 đến 7 lần so với máy cũ của Trung Quốc góp phần nâng
cao năng xuất và chất lượng sản phẩm, tạo khả năng sản xuất thên nhièu mặt
hàng mới mang tính chiến lược như: vải lốp xe máy, ô tô tải nặng 1260D/2;
1260D/3; 1890D/2 Thị phần vải mành của công ty ngày càng cao có mặt tại
các công ty Cao su lớn trên khắp đất nước như Công ty Cao su Sao Vàng; Cao su
Đà Nẵng; Cao su Miền Nam và một số công ty có vốn đầu tư nước ngoài như:
Công ty Shinfa,Công ty Thời ích và Fungkeong của Malaysia Đặc biệt là dây
chuyền sản xuất Vải không dệt có vốn đầu tư là 63.622.939.000 VNĐ, đây là
dây chuyền hiện có duy nhất tại Việt Nam. Quy trình sản xuất hoàn toàn tự
động, tuy mới đi vào sản xuất nhưng đã đem lại doanh thu khá cao cho công ty
Vải mành và Vải không dệt tuy có ưu thế là đơn vị duy nhất ở Việt Nam sản xuất
hai mặt hàng này, được đằu tư trang thiết bị và dây chuyền sản xuất hiện đại nhưng
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét