Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Đầu tư và phát triển nông nghiệp - thực trạng và giải pháp

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp nhằm đạt kết quả
cao nhất với chi phí thấp nhất.
Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc thực hiện hàng loạt
các biện pháp có hệ thống, có tổ chức, có tính đồng bộ và có tính liên tục tại
doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu cuối cùng đó là hiệu quả cao.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bao gồm rất nhiều khâu
với các mối liên hệ, tác động qua lại mang tính chất quyết định và hỗ trợ
cùng nhau thực hiện mục tiêu tổng thể của hoạt động kinh doanh. Nâng cao
hoạt động của tất cả các khâu trong kinh doanh là nhiệm vụ trọng tâm trong
công tác tổ chức điều hành hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào.
Xét theo nghĩa rộng hơn thì hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất
lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật
thiết của vấn đề hiệu quả. Chính vì khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng
chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội,
đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực. Để
đạt đợc mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều
kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu năng của yếu tố sản xuất và tiết kiệm
mọi chi phí.
Bên cạch đó cần hiểu phạm trù hiệu quả một cách toàn diện trên cả hai
mặt định lợng và định tính. Về mặt định lợng, hiệu quả kinh doanh biểu hiện
ở mối tơng quan giữa kết quả thu đợc và chi phí bỏ ra. Nếu xét về tổng lợng
thì kinh doanh chỉ đạt hiệu quả khi kết quả lớn hơn chi phí, chênh lệch này
càng lớn hiệu quả kinh doanh càng cao và ngợc lại.
Về mặt định tính, hiệu quả kinh doanh cao phản ánh sự cố gắng, lỗ
lực, trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Hiệu quả kinh doanh vừa là một phạm trù cụ thể vừa là một phạm trù
trừu tợng, nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý phải định lợng
thành các chỉ tiêu, con số để tính toán so sánh; nếu là phạm trù trìu tợng phải
đợc định tính thành các mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực
kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, thì mục tiêu kinh doanh cơ bản
của các doanh nghiệp là lợi nhuận. Lợi nhuận là phần giá trị rôi ra mà doanh
nghiệp thu đợc ngoài các chi phí cần thiết (chi phí kinh doanh). Nâng cao
hiệu quả kinh doanh chính là việc cực đại hoá giá trị này thông qua hàng lạt
các biện pháp cải tiến sản xuất, tiết kiệm trong thu mua, thúc đẩy tiêu thụ và
phát huy tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp.
5
Việc đánh giá hiệu quả kinh doanh rất phức tạp vì bản thân kết quả
kinh doanh và chi phí kinh doanh nhiều khi không đợc phản ánh chính xác.
Nguyên do là có những chi phí và kết quả không phản ánh đợc bằng các đơn
vị đo lờng thông thờng (nh uy tín, phi phí vô hình ). Có lẽ vì vậy mà một
đặc điểm quan trọng nhất của hiệu quả kinh doanh là khái niệm phức tạp và
khó đánh giá chính xác. Hiệu quả kinh doanh đợc xác định từ kết quả thu đợc
và chi phí bỏ ra, trong khi đó kết quả và chi phí lại rất khó đo lờng vì vậy đo
lờng đánh giá hiệu quả kinh doanh là rất khó khăn.
Về kết quả kinh doanh: Hầu nh rất ít các doanh nghiệp xác định đợc
chính xác kết quả kinh doanh ở một thời điểm cụ thể. Nguyên nhân là do quá
trình kinh doanh không trùng khớp với nhau, vả lại tại các doanh nghiệp sản
xuất xác định sản phẩm đã tiêu thụ trong khâu hàng gủi bán tại các điểm tiêu
thụ, đại lý hay đơn vị bạn là rất khó khăn. Bên cạnh đó việc ảnh hởng của
thớc đo giá trị cũng là nguyên nhân gây lên khó khăn trong việc đánh giá
chính xác hiệu quả kinh doanh (thay đổi của giá trị đồng tiền trên thị trơng
theo địa điểm và thời gian).
Việc xác định chi phí kinh doanh cũng không dễ dàng. Về nguyên tắc,
chi phí kinh doanh của doanh nghiệp đợc xác định từ chi phí hữu hình và chi
phí vô hình. Xác định chi phí vô hình thờng mang tính ớc đoán, chúng ta
không thể xác định chính xác chi phí vô hình trong một thơng vụ kinh doanh.
Chi phí vô hình là một cản trở lớn cho các không chỉ doanh nghiệp mà còn cả
nền kinh tế quốc dân trong xác định đợc chính xác chi phí bỏ ra.
Cũng chính vì việc xác định kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh
khó khăn mà dẫn tới khó xác định hiệu quả kinh doanh. Hơn nữa, điều này
cũng dẫn đến tình trạng hiệu quả kinh doanh ngắn hạn và hiệu quả kinh
doanh dài hạn không phù hợp với nhau, đôi khi là mâu thuẫn. Chẳng hạn
doanh nghiệp chú trọng vào các mục tiêu trớc mắt mà bỏ qua các đoạn thị tr-
ờng, bạn hàng truyền thống, về ngắn hạn có thể đem lại hiệu quả kinh doanh
cao cho các doanh nghiệp. Nhng về dài hạn có thể đem lại hiệu quả xấu.
2. Phân loại hiệu quả kinh doanh.
Phân loại hiệu quả kinh doanh là một việc làm hết sức thiết thực, nó là
phơng cách để các doanh nghiệp xem xét đánh giá những kết quả mà mình
đạt đợc và là cơ sở để thành lập các chính sách, chiến lợc, kế hoạch hoạt
động của doanh nghiệp. Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả đợc biểu
hiện ở nhiều dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trng và ý nghĩa cụ
thể của nó. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác
nhau có tác dụng thiết thực trong việc điều hành tổ chức quản lý và hoạt
động của doanh nghiệp.
2.1 Hiệu quả cá biệt và hiệu quả kinh tế quốc dân
6
Hiệu quả cá biệt là hiệu quả thu đợc từ hoạt động kinh doanh của từng
doanh nghiệp, với biểu hiện trực tiếp là lợi nhuận kinh doanh và chất lợng
thực hiện những yêu cầu xã hội đặt ra cho nó. Hiệu quả kinh tế quốc dân đợc
tính cho toàn bộ nền kinh tế, về cơ bản nó là sản phẩm thăng d, thu nhập
quốc dân hay tổng sản phẩm xã hội mà đất nớc thu đợc trong mỗi thời kỳ so
với lợng vốn sản xuất, lao động xã hội và tài nguyên đã hao phí.
Trong việc thực hiện cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc,
không những cần tính toán và đạt đợc hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của
từng doanh nghiệp, mà còn cần phải đạt đợc hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân; mức hiệu quả kinh tế quốc dân lại phụ thuộc vào mức hiệu quả cá
biệt. Nghĩa là phụ thuộc vào sự cố gắng của mỗi ngời lao động và mỗi doanh
nghiệp. Đồng thời xã hội thông qua hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nớc
cũng có tác động trực tiếp đến hiệu quả cá biệt. Một cơ chế quản lý đúng tạo
điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả cá biệt, ngợc lại một chính
sách lạc hậu, sai lầm lại trở thành lực cản kìm hãm nâng cao hiệu quả cá biệt.
2.2 Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Hiệu quả chi phí tổng hợp thể hiện mối tơng quan giữa kết quả thu đợc
và chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh.
Hiệu quả chi phí bộ phận lại thể hiện mối tơng quan giữa kết quả thu
đợc với lợng chi phí từng yếu tố cần thiết để thực hiện nhiệm vụ ấy (lao
động, thiết bị nguyên vật liệu )
Việc tính toán chỉ tiêu chi phí tổng hợp cho thấy hiệu quả hoạt động
chung của doanh nghiệp. Việc tính toán chỉ tiêu chi phí bộ phận cho thấy sự
tác động của những yếu tố nội bộ hoạt động kinh doanh đến hiệu quả kinh tế
chung. Về nguyên tắc, hiệu quả chi phí tổng hợp phụ thuộc vào hiệu quả của
chi phí bộ phận.
2.3 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Trong hoạt động kinh doanh, việc xác định và phân tích hiệu quả nhằm
hai mục đích:
Một là, phân tích đánh giá trình độ quản lý và sử dụng các loại chi phí
trong kinh doanh.
Hai là, phân tích luận chứng về kinh tế - xã hội các phơng án khác
nhau, trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó để.
Hiệu quả tuyệt đối đợc tính toán cho từng phơng án bằng các xác định
mối tơng quan giữa kết quả thu đợc với chi phí bỏ ra, khi thực hiện mục tiêu.
7
Hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối, hoặc so sánh tơng quan các đại lợng thể hiện chi phí hoặc kết quả
của các phơng án với nhau.
Cách phân loại này đợc sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trong việc
thực hiện thẩm định các dự án mới đầu t, với các doanh nghiệp đi vào hoạt
động thì chỉ tiêu hiệu quả so sánh đợc xác định bằng cách so sánh các chỉ
tiêu hiệu quả tuyệt đối trong hai mốc thời gian khác nhau.
II. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả
kinh doanh đối với doanh nghiệp trong
cơ chế thị trờng
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp phải luôn gắn mình với
thị trờng nhất là trong một nền kinh tế mở. Do vậy mà để thấy đợc vai trò của
nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế trớc hết
chúng ta xem xét cơ chế thị trờng và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong thị trờng.
Thị trờng là nơi diễn ra quá trình trao đổi, điều tiết và lu thông hàng
hoá. Nó tồn tại một cách khách quan và gắn liền với lịch sử phát triển của
nền sản xuất hàng hoá. Thông qua thị trờng các doanh nghiệp có thể nhận
biết đợc sự phân phối các nguồn lực thông qua hệ thống giá cả trên thị trờng.
Trên thị trờng luôn tồn tại các quy luật vận độngcủa hàng hoá giá cả và tiền
tệ nh các quy luật giá trị, quy luật giá cả, quy luật lu thông, quy luật cạnh
tranh Các quy luật này tạo thành một hệ thống thống nhất và hệ thống này
chính là linh hồn của cơ chế thị trờng. Dới hình thức các quan hệ mua bán
hàng hoá, dịch vụ trên thị trờng cơ chế thị trờng tác động đến việc điều tiết
sản xuất, tiêu dùng, đầu t và từ đó làm thay đổi cơ cấu sản phẩm cơ cấu
ngành Nói cách khác, cơ chế thị trờng điều tiết quá trình phân phối, phân
phối lại các nguồn lực của nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội một
cách tối u.
Sự vận động đa dạng, linh hoạt của cơ chế thị trờng dẫn đến sự biểu
hiện gần đúng nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu đó của thị trờng, hay thị trờng
là nơi phát ra các tín hiệu về cung, cầu, giá cả điều tiết các thành viên của nó
hoạt động theo các quy luật vốn có. Tuy nhiên điều này không phải là tuyệt
đối, thị trờng cũng biểu hiện rất nhiều các khuyết tật mà nó không tự khắc
phục đợc nh: cạnh tranh không hoàn hảo, phá huỷ môi trờng, làm ăn phi
pháp, lừa lọc Để tránh những tác động tiêu cực này của thị trờng, thì doanh
nghiệp phải xác định cho mình mội cơ chế hoạt động trên hai thị trờng đầu
vào và thị trờng đầu ra để đạt đợc kết quả cao nhất.
8
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh với động cơ là kiếm
lợi nhuận. Trong cơ chế thị trờng, thì lợi nhuận là mục tiêu của kinh doanh,
là động lực kinh tế để doanh nghiệp cũng nh mỗi ngời lao động không ngừng
sử dụng hợp lý tiết kiệm các nguồn lực, nâng cao năng suất và hiệu quả kinh
doanh. Thật vậy, để cung cấp hàng hoá dịch vụ cho nhu cầu thị trờng, nhu
cầu của ngời tiêu dùng, các doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định.
Họ phải thuê đất đai, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh hàng hoá và dịch vụ. Họ muốn hàng hoá và dịch vụ của mình đợc bán
với giá cao để bù đắp lại những chi phí đã bỏ ra. Nếu xét về mặt định lợng
hiệu quả kinh doanh chính là khoản chênh lệch giữa kết quả thu đợc và chi
phí bỏ ra, và nâng cao hiệu quả kinh doanh nghĩa là tăng khoản chênh lệch
này lên tối đa trong điều kiện cho phép. Vậy có thể thấy đợc hiệu quả kinh
doanh chính là chỉ tiêu biểu hiện mục tiêu thực hiện và nâng cao hiệu quả
kinh doanh là công cụ để thực hiện mục tiêu.
Nếu xét về mặt định tính thì hiệu quả kinh doanh biểu hiện chất lợng
đạt đợc của mục tiêu, nó phản ánh trình độ của lực lợng sản xuất bao gồm tất
cả các khâu, các bộ phận và từng các nhân riêng lẻ của doanh nghiệp. Nâng
cao hiệu quả kinh doanh về mặt định tính tức nâng cao trình độ khai thác,
quản lý và sử dụng các nguồn lực trong sản xuất, đảm bảo sự tăng trởng về
mặt lợng gắn liền với sự phát triển về chất. Đây chính là lý do buộc doanh
nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh nhằm thực hiện phát triển bền
vững trong xu hớng chung.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh còn là nhân tố thúc đẩy khả năng cạnh
tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp. Chấp nhận cơ chế thị trờng là chấp
nhận cạnh trạnh. Thị trờng càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp lại càng khốc liệt hơn, đó là sự cạnh trạnh về chất lợng, gía cả, các
dịch vụ hậu mãi Với mục tiêu là phát triển, thì cạnh tranh là một nhân tố
làm doanh nghiệp mạnh lên và cũng là nhân tố làm doanh nghiệp thất bại. Do
vậy, để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp đều phải chiến thắng trong cạnh
tranh. Để thực hiện điều này thì tất yếu doanh nghiệp phải nâng cao chất lợng
hàng hoá dịch vụ với giá cả hợp lý. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh đồng
nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lợng, chất lợng hàng bán và là hạt
nhân cơ bản của sự thắng lợi trong cạnh tranh. Và các doanh nghiệp cạnh
tranh nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.
III. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh
doanh
9
Hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp là một chỉ tiêu chất lợng tổng
hợp, nó liên quan tới tất cả các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, do đó nó
chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau.
Muốn đa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trớc hết
doanh nghiệp phải xác định đợc nhân tố nào tác động đến kinh doanh và tác
động đến hiệu quả kinh doanh, nếu không làm đợc điều này thì doanh nghiệp
không thể biết đợc hiệu quả hình thành từ đâu và cái gì sẽ quyết định nó. Xác
định nhân tố ảnh hởng, ảnh hởng nh thế nào và mức độ, xu hớng tác động là
nhiệm vụ của bất cứ nhà kinh doanh nào.
Nói đến nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh doanh có rất nhiều, nhng
chúng ta có thể chia làm hai nhóm chính: nhân tố thuộc về doanh nghiệp và
nhân tố ngoài doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là các doanh nghiệp phải có biện
pháp tác động lên các yếu tố một cách hợp lý, có hiệu quả, làm cho doanh
nghiệp ngày càng phát triển tốt hơn, phát huy tốt hơn các nhân tố tích cực và
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn hoạt động đợc thì nó phải có một hệ thống cơ
sở vật chất, con ngời, đây chính là nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp.
Trong guồng máy hoạt động chung của doanh nghiệp, mỗi nhân tố đóng một
vai trò nhất định, mà thiếu nó thì toàn bộ hệ thống sẽ hoạt động kém hiệu quả
hay ngừng hoạt động. Dới đây xin đa ra một số nhân tố ảnh hởng chính đến
hiệu quả kinh doanh.
1.1 Vốn kinh doanh
Ngày nay, nói đến kinh doanh thì nhân tố đầu tiên đợc quan tâm chính
là vốn, đây là yếu tố nền tảng cho một hoạt động kinh doanh bắt đầu. Ngay
trong luật pháp của Việt Nam cũng có quy định điều luật một doanh nghiệp
đợc xã hội thừa nhận thì phải có số vốn tối thiếu là bao nhiêu. Vì vậy có thể
khẳng định tầm quan trọng của vốn trong kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp đợc thực hiện bằng tiền của toàn bộ
tài sản của doanh nghiệp dùng trong kinh doanh, bao gồm:
- Tài sản cố định hữu hình: Nhà của, kho tàng, của hàng, quày hàng,
các thiết bị máy móc
- Tài sản cố định vô hình: Bằng phát minh sáng chế, bản quyền sở
hữu công nghiệp, uy tín của công ty trên thị trờng, vị trí địa lý,
nhãn hiệu các hàng hoá mà doanh nghiệp kinh doanh
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý
10
Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có vai trò quyết định trong việc
thành lập loại hình doanh nghiệp theo luật định. Nó là điều kiện quan trọng
nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh là một trong những tiềm năng quan trọng nhất của
doanh nghiệp. Vốn lớn hay nhỏ là một trong những điều kiện quan trọng để
xếp doanh nghiệp vào loại có quy mô lớn, trung bình, nhỏ.
Vốn kinh doanh bao giờ cũng là cơ sở để hoạch định chiến lợc và kế
hoạch kinh doanh. Nó là một chất keo để chắp nối, dính kết các quá trình và
các quan hệ kinh tế.
Vốn kinh doanh là điều kiện, khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh. Nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là việc tối đa hoá lợi ích dựa trên
cơ sở chi phí bỏ ra hay là tối thiếu hoá chi phí cho một mục tiêu nhất định
nào đó. Trong kinh doanh không thể thiếu khái niệm chi phí khi muốn có
hiệu quả. Vì vậy mà vốn chính là cơ sở để tạo ra lợi nhuận, đạt đợc mục đích
cuối cùng của nhà kinh doanh.
Thiếu vốn cho kinh doanh sẽ làm giảm hiệu quả do không tận dụng đ-
ợc lợi thế quy mô, không tận dụng đợc các thời cơ, cơ hội. Tuy nhiên, thiếu
vốn là vấn đề mà các doanh nghiệp luôn luôn gặp phải. Đứng trên góc độ của
nhà kinh doanh thì cách thức giải quyết sẽ là tối đa hoá lợi ích trên cơ sở số
vốn hiện có.
1.2 Bộ máy tổ chức, quản lý và lao động
Con ngời là khởi nguồn của mọi hoạt động có ý thức. Hoạt động kinh
doanh đợc bắt đầu là do con ngời, tổ chức thực hiện nó cũng chính do con
ngời. Một đội ngũ công nhân viên tốt là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện kinh
doanh có hiệu quả. Với khả năng lao động và sáng tạo thì nhân tố con ngời đ-
ợc đánh giá là nhân tố nòng cốt cho sự phát triển. Kết hợp với hệ thống t liệu
sản xuất con ngời đã hình thành lên quá trình sản xuất. Sự hoàn thiện của
nhân tố con ngời sẽ từng bớc hoàn thiện quá trình sản xuất và xác lập hiệu
quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Tuy vậy mỗi cá nhân đặt ngoài sự phân
công lao động sẽ lại là một nhân tố làm giảm hiệu quả kinh doanh, khắc phục
điều này chính là nguyên nhân ra đời của bộ máy tổ chức, quản lý
Bộ máy tổ chức, quản lý là sự tác động trực tiếp của của các cấp lãnh
đạo xuống các cá nhân, công nhân viên nhằm mục đích buộc phải thực hiện
một hành động hay một công việc nào đó. Bộ máy tổ chức, quản lý có hiệu
quả là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Sự kết hợp yếu tố
sản xuất không phải là tự phát nh quá trình tự nhiên mà là kết quả của hoạt
động có tổ chức, có kế hoạch, có điều khiển của con ngời, vì vậy hình thành
bộ máy tổ chức có hiệu quả là một đòi hỏi để nâng cao hiệu quả kinh doanh.
11
Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ tạo ra một cơ cấu sản xuất phù hợp và
thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Một cơ cấu hợp hợp lý còn
góp phần xác định chiến lợc kinh doanh thông qua cơ chế ra quyết định và
ảnh hởng đến việc thực hiện mục tiêu và chiến lợc đó.
Cơ cấu tổ chức phù hợp góp phần phát triển nguồn nhân lực. Xác định rõ thực
lực của từng cá nhân cụ thể, đặt họ đúng vị trí trong doanh nghiệp sẽ là cách
thúc đẩy hiệu quả và phát huy nhân tố con ngời. Đồng thời nó tạo động lực
cho các cá nhân phát triển, nâng cao trình độ khả năng của mình.
1.3 Nghệ thuật kinh doanh
Nghệ thuật kinh doanh là việc sử dụng có hiệu quả nhất các phơng
pháp, các tiềm năng, các cơ hội và các kinh nghiệm đợc tích luỹ trong quá
trình kinh doanh nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
Nghệ thuật kinh doanh là đảm bảo cho doanh nghiệp luôn tồn tại và
phát triển. Đó là việc sử dụng các tiềm năng của bản thân doanh nghiệp cũng
nh của ngời khác, các cơ hội các phơng pháp thủ đoạn kinh doanh có thể để:
bỏ ra chi phí ít, thụ lại đợc nhiều, che dấu những nhợc điểm của doanh
nghiệp, giữ bí mật kinh doanh và khai thác đợc những điểm mạnh, điểm yếu
của ngời khác, giải quyết nhanh ý đồ của doanh nghiệp mà không lôi kéo các
đối thủ mới vào cuộc. Bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển lâu dài.
1.4 Mạng lới kinh doanh
Trong thời buổi kinh tế thị trờng hiện nay mỗi doanh nghiệp cần phải
mở rộng mạng lới kinh doanh của mình, vì mạng lới kinh doanh là cách thức
để doanh nghiệp có thể tiêu thụ đợc sản phẩm của mình. Có tiêu thụ đợc sản
phẩm thì mới thực hiện đợc kết quả kinh doanh và thực hiện lợi nhuận. Mở
rộng mạng lới tiêu thụ cho phép doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh,
tăng doanh số bán và lợi nhuận. Mạng lới kinh doanh phù hợp sẽ cho phép
doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hiện nay tình hình thị trờng rất biến động và cạnh tranh ngày càng gay gắt,
mỗi doanh nghiệp cần phải năng động sáng tạo tìm ra cái mới, cái cần và
ngày càng hoàn thiện mạng lới kinh doanh để thích nghi trong cơ chế thị tr-
ờng và đa doanh nghiệp ngày càng đi lên.
1.5 Đòn bẩy kinh tế trong doanh nghiệp
Việc doanh nghiệp sử dụng các hình thức trách nhiệm vật chất, thởng
phạt nghiêm minh sẽ tạo ra động lực cho ngời lao động nỗ lực hơn trong phần
trách nhiệm của mình, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhân tố này
cho phép doanh nghiệp khai thác tối đa tiềm năng lao động, tạo điều kiện cho
mọi ngời, mọi bộ phận phát huy đầy đủ quyền chủ động sáng tạo trong sản
xuất và kinh doanh.
12
2. Những nhân tố ngoài doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố thuộc doanh nghiệp thì hệ thống nhân tố ngoài
doanh nghiệp cũng ảnh hởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1 Thị trờng
Thị trờng là tổng hợp các thoả thuận thông qua đó ngời mua và ngời
bán trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Chức năng cơ bản của thị trờng là ấn định
giá cả đảm bảo sao cho số lợng mà những ngời muốn mua bằng số lợng của
những ngời muốn bán. Thị trờng đợc cấu thành bởi ngời bán, ngời mua, hàng
hoá và hệ thống quy luật thị trờng.
Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng thì tất
yếu phải chịu sự tác động và tuân theo các quy luật của thị trờng, việc thực
hiện ngợc lại các quy luật tất yếu sẽ bị đào thải. Thị trờng tác động đến kinh
doanh của doanh nghiệp thông qua các nhân tố sau:
Cầu về hàng hoá
Cầu về hàng hoá là số lợng hàng hoá dịch vụ mà ngời mua muốn mua
và sẵn sàng mua tại những mức giá cụ thể. Cầu là một bộ phận cấu thành lên
thị trờng, nó là lợng hàng hoá tối đa mà doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại một
thời điểm tại một mức giá nhất định. Khi cầu thị trờng về hàng hoá của
doanh nghiệp tăng thì lợng tiêu thụ tăng lên, giá trị đợc thực hiện nhiều hơn,
quy mô sản xuất mở rộng và doanh nghiệp đạt đợc lợi nhuận ngày một tăng.
Chỉ có cầu thị trờng thì hiệu quả kinh doanh mới đợc thực hiện, thiếu cầu thị
trờng thì sản xuất sẽ luôn trong tình trạng trì trệ, sản phẩm luôn tồn trong
kho, giá trị không đợc thực hiện điều này tất yếu là không có hiệu quả.
Vấn đề cầu thị trờng luôn đợc các doanh nghiệp quan tâm. Trớc khi ra
quyết định thực hiện một hoạt động kinh doanh cụ thể nào thì công việc đầu
tiên đợc các doanh nghiệp xem xét đó là cầu thị trờng và khả năng đa sản
phẩm của mình vào thị trờng. Ngày nay cầu thị trờng đang trong tình trạng trì
trệ, vấn đề kích cầu đang đợc Nhà nớc và chính phủ đạt lên hàng đầu để thúc
đẩy phát triển kinh tế, đây cũng là vấn đề gây khó khăn cho các doanh
nghiệp. Nghiên cứu cầu thị trờng đầy đủ sẽ là nhân tố góp phần thành công
của doanh nghiệp.
Cung về hàng hoá
Cung thị trờng về hàng hoá là lợng hàng hoá mà ngời bán muốn bán và
sẵn sàng bán tại những mức giá cụ thể.
13
Nhìn chung cung thị trờng về hàng hoá tác động đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trên hai phơng diện sau:
Cung thị trờng về tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
thông qua hệ thống các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp cần. Việc thị trờng
có đủ khả năng đáp ứng cho nhu cầu của doanh nghiệp sẽ đảm bảo hoạt động
kinh doanh diễn ra đều đặn và liên tục, nếu không thì dẫn đến tình trạng cạnh
tranh trong việc thu mua yếu tố đầu vào.
Cung thị trờng tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
thông qua việc tiêu thụ. Nếu trên thị trờng có quá nhiều đối thủ cũng cung
cấp mặt hàng mà doanh nghiệp sản xuất hay những mặt hàng thay thế, thì tất
yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, làm giảm mức tiêu thụ của doanh nghiệp. Sản
phẩm không tiêu thụ đợc thì sản xuất sẽ ngừng trệ
Giá cả
Giá cả trên trong cơ chế thị trờng biến động phức tạp trên cơ sở quan
hệ cung cầu, ở các thị trờng khác nhau thì giá cả khác nhau. Do vậy doanh
nghiệp cần phải nắm vững thị trờng, dự đoán thị trờng, để xác định mức giá
mua vào bán ra cho phù hợp
Giá mua vào: có vai trò quan trọng, ảnh hởng đến hiệu quả kinh
doanh. Nó cần đợc xác định trên cơ sở của dự đoán thị trờng và giá bán có
thể. Giá mua vào càng thấp càng tốt và để đạt đợc giá mua vào thấp, doanh
nghiệp cần phải tìm kiếm thị trờng, lựa chọn mua ở thị trờng nào và mua của
ai. Doanh nghiệp càng có mối quan hệ rộng, có nhiều ngời cung cấp sẽ cho
phép khảo giá đợc ở nhiều nơi và lựa chọn mức giá thấp nhất.
Giá bán ra: ảnh hởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nó đợc xác định
bằng sự thoả thuận của ngời mua và ngời bán thông qua quan hệ cung cầu.
Để đạt đợc hiệu quả kinh doanh thì giá bán phải đảm bảo lớn hơn giá thành
sản xuất cộng với chi phí lu thông. Do vậy để đạt hiệu quả kinh doanh phải
dự báo giá cả và thị trờng.
Cạnh tranh
Tình hình cạnh tranh trên thị trờng có ảnh hởng lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Cạnh tranh càng gay gắt có nghĩa là doanh
nghiệp càng phải khó khăn và vất vả để tồn tại và phát triển. Ngoài ra cạnh
tranh còn dẫn đến giảm giá bán, ảnh hởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh trở lên khó khăn. Vì giờ đây doanh nghiệp phải nâng cao chất
lợng sản phẩm giảm giá thành, tổ chức lại bộ máy kinh doanh phù hợp để
bù đằp những mất mát cho công ty về giá cả, chiến lợc, mẫu mã.
1.2 Tập quán dân c và mức độ thu nhập bình quân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét