Vốn nhân lực là yếu tố đầu tiên quyết định đến tăng trưởng kinh tế của
một nước.
Nhiều nhà kinh tế cho rằng chất lượng đầu vào lao động - kỹ năng, kiến
thức và kỷ luật của lực lượng lao động - là yếu tố quan trọng nhất của tăng
trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác của sản xuất như tư bản hiện vật,
nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay được trong nền kinh tế
thế giới. Một nước có thể nhập khẩu các thiết bị thông tin viễn thông, máy
tính, máy phát điện, các loại máy móc hiện đại nhất. Nhưng những hãng tư
bản này chỉ có thể được sử dụng một cách hiệu quả nhất nếu như người công
nhân có kỹ năng và được đào tạo, có trình độ văn hoá, kỷ luật lao động cao
làm cho năng suất lao động tăng, và người quản lý có tri thức và khả năng
quản lý những quy trình công nghệ hiện đại một cách có hiệu quả.
Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụ lao
động hơn khối lượng trang thiết bị và cơ sở vật chất dùng trong quá trình sản
xuất ra hàng hoá và dịch vụ được gọi là tư bản hiện vật hay viết gọn là tư bản.
Ví như khi người thợ mộc làm việc, anh ta có cưa, bào, đục, máy tiện… Việc
có nhiều công cụ hơn cho phép người thợ làm việc nhanh và chính xác hơn.
Nghĩa là trong một tuần người thợ mộc với dụng cụ thô sơ sẽ làm ra ít sản
phẩm hơn so với người có công cụ tinh vi, chuyên cho nghề mộc. Tư bản hiện
vật biểu thị yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà trước đó đã từng là đầu
ra của nó. Tư bản hiện vật là nhân tố sản xuất được dùng để sản xuất ra tất cả
các loại hàng hoá và dịch vụ, trong đó có bản thân tư bản.
Bản thân tư bản hiện vật của một nước tăng trưởng theo thời gian
nhưng tăng nhanh hoặc chậm phụ thuộc vào quá trình tích luỹ tư bản. Nhưng
như chúng ta biết tích luỹ tư bản cần có sự hy sinh tiêu dùng hiện tại trong
nhiều năm. Nhưng nó tăng trưởng nhanh có xu hướng đầu tư mạnh vào hàng
hoá tư bản mới, ở những nước tăng trưởng nhanh nhất, 10 → 20 % thu nhập
dành cho tích luỹ tư bản - yếu tố tác động đến tăng trưởng. Khi bàn đến tư
bản chúng ta không chỉ đề cập đến nhà xưởng, máy móc. Nhiều đầu tư do
5
chính phủ tiến hành và đặt nền móng cho sự phát triển của khu vực tư nhân.
Những đầu tư này được gọi là tư bản cố định xã hội và bao gồm dự án lớn
như mở đường cho các hoạt động thương mại. Đường sá và các dự án về nước
và thuỷ lợi, các biện pháp yếu tố cộng đồng là những ví dụ quan trọng. Tất cả
những dự án này gồm những khoản đầu tư lớn thường không thể chia nhỏ
được hay đầu tư trọn gói và nhiều khi có lợi tức tăng dần theo quy mô. Và các
khoản đầu tư này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế - chính phủ phải tham
gia vào để đảm bảo những đầu tư cơ sở hạ tầng hay tư bản xã hội được thực
hiện.
Tài nguyên thiên nhiên một trong những yếu tố sản xuất quan trọng của
nền kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
do thiên nhiên mang lại như đất đai, sông ngòi và khoáng sản. Có 2 loại tài
nguyên thiên nhiên: loại tái tạo được và loại không tái tạo được. Dầu mỏ là tài
nguyên thiên nhiên thuộc loại không tái tạo được; rừng cây là ví dụ về tài
nguyên tái tạo được.
Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ra một số khác biệt về
mức sống trên thế giới. Sự thành công có ý nghĩa lịch sử của Mỹ bắt nguồn từ
cung đất đai mênh mông, thích hợp cho ngành nông nghiệp. Ngày nay một số
nước ở vùng Trung Đông như Cô-oét và Ả rập Xêút rất giàu chỉ vì họ sống
trên những giếng dầu lớn nhất thế giới.
Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng, nhưng đó
không nhất thiết là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao trong
việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Ví dụ, Nhật là một trong những quốc gia
giàu nhất thế giới mặc dù không có tài nguyên thiên nhiên. Thương mại quốc
tế là nguyên nhân thành công của nước Nhật. Nhật nhập khẩu rất nhiều tài
nguyên thiên nhiên cần thiết, chẳng hạn dầu mỏ, rồi xuất khẩu hàng công
nghiệp sang các nước có nhiều tài nguyên.
Cùng với ba nhân tố sản xuất đã thảo luận ở trên, tăng trưởng kinh tế
còn phụ thuộc vào nhân tố hết sức quan trọng là tri thức công nghệ. Trong
6
lịch sử, tăng trưởng của các nước trên thế giới có hình mẫu khác nhau không
phải là quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng đem lại một
bước tiến xa về khả năng sản xuất của các nước châu Âu, Mỹ, Nhật và các
nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapor…
Nhân tố cuối cùng quyết định năng suất là tiến bộ công nghệ. Cách đây
một thế kỷ, đa số người Mỹ là nông dân, bởi vì kỹ thuật trồng trọt hồi ấy đòi
hỏi nhiều lao động để làm ra lượng lương thực cần thiết cho mọi người. Ngày
nay nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật trồng trọt, chỉ một phần nhỏ dân số làm
việc trong nông nghiệp cũng đủ nuôi sống toàn xã hội. Sự thay đổi về công
nghệ như thế cho phép chuyển lao động sang các ngành sản xuất ra hàng hoá
và dịch vụ khác.
Thay đổi công nghệ là những thay đổi trong quá trình sản xuất hoặc đưa
ra những sản phẩm mới sao cho có thể tạo ra được sản lượng nhiều hơn và cải
tiến hơn cùng với một lượng đầu vào. Những phát minh đã làm năng suất tăng
nhanh là động cơ hơi nước, máy phát điện, bóng đèn, động cơ đốt trong, và
máy bay phản lực hạng nặng chở khách. Những thay đổi công nghệ cơ bản là
những phát minh ra sản phẩm mới như điện thoại, máy thu thanh, máy bay,
máy ảnh, vô tuyến truyền hình và máy tính. Những phát minh này là những
phát minh nổ bật nhất trong kỷ nguyên hiện đại đang diễn ra trong ngành điện
và tin học mà một máy tính xách tay nhỏ bé ngày nay có công suất vượt xa
máy tính nhanh nhất của những năm 1960. Những phát minh này là những ví
dụ đặc sắc nhất về thay đổi công nghệ. Tuy nhiên thay đổi công nghệ trên
thực tế là một quá trình liên tục bao gồm những cải tiến lớn, nhỏ. Những cải
tiến nhỏ là bộ phận của sự tiến bộ đều đặn của nền kinh tế.
Tiến bộ công nghệ có tầm quan trọng lớn trong việc nâng cao mức
sống, các nhà kinh tế từ lâu đã suy nghĩ làm thế nào để khuyến khích tiến bộ
công nghệ. Rõ ràng rằng thay đổi công nghệ khhông phải là quá trình cơ học
đơn giản của việc đi tìm những sản phẩm và quá trình sản xuất tốt hơn. Thay
vì thế, sáng kiến nhanh đòi hỏi phải nuôi dưỡng một tinh thần kinh doanh.
7
Trên đây là 4 nguồn của tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên các nhân tố đó
có thể khác nhau rất nhiều giữa các nước và một số nước có thể kết hợp
chúng hiệu quả hơn các nước khác.
8
3. Vấn đề về chi ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính thống nhất, ngân sách nhà nước là khâu tài
chính tập trung giữ vị trí chủ đạo. Ngân sách nhà nước cũng là khâu tài chính
được hình thành sớm nhất, nó ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra
đời của hệ thống quản lý nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tiền
tệ. Cho đến nay thật ngữ "ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong
đời sống kinh tế xã hội của mọi quốc gia. Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê
các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà nước. Nó
có vai trò rất quan trọng trong mọi mô hình, là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền
kinh tế xã hội và là vai trò quan trọng của ngân sách nhà nước trong cơ chế thị
trường.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối sử dụng quỹ ngân sách
nhà nước theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các nhiệm vụ
của nhà nước.
Thực chất chi ngân sách nhà nước chính là việc cung cấp các phương
tiện tài chính cho các nhiệm vụ của nhà nước. Song việc cung cấp này có
những đặc thù riêng.
Thứ nhất chi ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với những nhiệm vụ
kinh tế, chính trị, xã hội mà chính phủ phải đảm nhận trước mỗi quốc gia.
Mức độ phạm vi chi tiêu ngân sách nhà nước phụ thuộc vào tính chất nhiệm
vụ của Chính phủ trong mỗi thời kỳ.
Thứ hai là tính hiệu quả của các khoản chi ngân sách nhà nước được thể
hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu
quả về mặt xã hội và chính trị, ngoại giao. Chính vì vậy, trong công tác quản
lý tài chính, một yêu cầu đặt ra là: Khi xem xét, đánh giá về các khoản chi
ngân sách nhà nước, cần sử dụng tổng hợp các chỉ tiêu định tính và các chỉ
tiêu định lượng, đồng thời phải có quan điểm toàn diện và đánh giá tác dụng,
ảnh hưởng của các khoản chi ở tầm vĩ mô.
9
Thứ ba là xét về mặt tính chất phần lớn các khoản chi ngân sách nhà
nước đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao
cấp. Chính vì vậy các nhà quản lý tài chính cần phải có sự phân tích, tính toán
cẩn thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu để tránh
được những lãng phí không cần thiết và nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà
nước.
Tuỳ theo yêu cầu của việc phân tích, đánh giá và quản lý ngân sách
trong từng thời kỳ người ta có thể phân chia các khoản chi ngân sách nhà
nước theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở
nước ta trước đây, nộ dung các khoản chi ngân sách nhà nước được phân loại
dựa trên các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Đây là cách phân loại chủ
yếu thời kỳ này.
Theo chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, nội dung chi tiêu ngân sách
nhà nước bao gồm, chi kiến thiết kinh tế, chi văn hoá- xã hội, chi quản lý
hành chính, chi an ninh quốc phòng và các khoản chi khác. Trong các nền
kinh tế thị trường và ở nước ta hiện nay, cách phân loại nội dung chi tiêu ngân
sách nhà nước theo tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng phổ
biến. Đây cũng là cách phân loại quan trọng nhất, nó trình bày nội dung chi
tiêu của chính phủ để qua đó người ta có thể nhận rõ và phân tích, đánh giá
những chính sách, chương trình của chính phủ thông qua các kinh phí để thực
hiện các chương trình, chính sách đó.
Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước được chia ra làm thành 2
phần chính. Đó là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Chi thường xuyên là những khoản chi không có trong khu vực đầu tư và
có tính chất thường xuyên để tài trợ cho hoạt động của các cơ quan nhà nước
nhằm duy trì đời sống quốc gia. Về nguyên tắc các khoản chi này phải được
tài trợ bằng các khoản thu không mang tính hoàn hảo trả (thu trong cân đối)
của ngân sách nhà nước.
10
Chi thường có bao gồm có ba vấn đề chính đó là chi về chủ quyền quốc
gia, chi liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan nhà
nước và chi phí cho sự can thiệp của nhà nước. Chi quốc gia tức là các chi phí
mà các chi phí mà các cơ quan nhà nước cần phải thực hiện để bảo vệ chủ
quyền quốc gia, nhất là trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao,
thông tin đai chúng…
Chi liên quan đến điều hành của cơ quannn để thực hiện những nhiệm
vụ được giao phó chi do sự can thiệp của nhà nước để nhằm mục đích hỗ trợ
và phát triển các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội để cải thiện đời sống nhân
dân. Những chi pihí này thuộc loại chi phí chuyển nhượng như: trợ cấp cho
các cơ quan nhà nước để thực hiện các hoạt động sự nghiệp, trợ cấp cho các
đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ quỹ BHXH, trả lãi, nợ của Chính phủ…
Còn chi đầu tư phát triển là tất cả các chi phí làm tăng thêm tài sản quốc
gia, gồm có chi mua sắm máy móc, thiết bị và dụng cụ.
Chi xây dựng mới và tư bổ công sở, đường sá, kiến thiết đô thị.
Chi cho việc thành lập các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn vào các
công ty, góp vốn vào các đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh.
Cácchi phí chuyển nhượng đầu tư và những chi phí đầu tư liên quan đến
sự tài trợ của nhà nước dưới hình thức cho vay ưu đãi hoặc trợ cấp cho những
pháp nhân kinh tế công hay tư để thực hiện các nhiệm vụ đồng loại với các
nghiệp vụ nêu trên, nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế của nhà
nước.
II. VẤN ĐỀ NSNN ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI
Để bắt đầu nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế dài hạn, chúng ta cần nhìn
vào thực tế của một số nền kinh tế trên thế giới.
Ở Nhật vào thời kỳ 1890 thu nhập thực tế bình quân đầu người là 1196
đô la, đến 1997 là 23400 đô la ta nhận thấy tỉ lệ tăng trưởng hàng năm là 2,82.
Ở Brazin năm 1900 có mức thu nhập thực tế bình quân đầu người đầu
kỳ là 619 đô la, năm 1997 là 23400 có tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 2,41.
11
Ở Mêhicô năm 1900 mức thu nhập là 922 đô la, nưm 1997 là 8120 có
mức tăng trưởng là 2,27.
Ở Đức là 1,99; Canađa là 1,95; Trung Quốc là 1,91; Áchentina là 1,76;
Mỹ là 1,75; Anh là 1,33 và Ấn Độ là 1,34.
Nhìn vào các số liệu trên ta thấy mức tăng trưởng kinh tế nhanh ảnh
hưởng đến sự phát triển của mỗi nước. Lúc đầu Nhật không phải là một nước
giàu. Nhưng vì sự tăng trưởng thần kỳ của nó mà giờ đây Nhật đã trở thành
siêu cường kinh tế với thu nhập bình quan chỉ thua Mỹ một chút.
Vì sự khác biệt trong tỷ lệ tăng trưởng, vị trí xếp hạng của các nước
theo thu nhập thay đổi mạnh mẽ theo thời gian. Như chúng ta đã thấy Nhật là
nước đã vươn lên trên nhiều nước khác. Một nước tụt hậu lại sau là Anh.
Mỗi một nước lại có thể chế khác nhau, nên vấn đề chi ngân sách nhà
nước cũng không giống nhau ở mỗi nước. Nếu chính phủ mỗi nước điều tiết
được thu chi ngân sách hợp lý thì sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tránh thâm
hụt ngân sách. Thực tế cho thấy Nhật hiện tại là một nước thu chi ngân sách
hợp lý. Mỹ thời Bil Clinton còn làm tổng thống, thu chi ngân sách nhà nước
ổn định, thậm chí còn có thặng dư. Nhưng từ khi Bush kế nhiệm, ngân sách
nhà nước lại bất ổn, mất cân bằng. Làm sao để quản lý, điều tiết ngân sách
nhà nước một cách hợp lý, đây có lẽ là một câu hỏi lớn, một vấn đề nan giải
với chính phủ mỗi quốc gia.
III. CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VỚI THỰC HIỆN MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ CỦA VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
1. Tình hình kinh tế - ngân sách Việt Nam thời gian qua
Thời gian vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có sự thay đổi
rấtlớn. Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức Thương
mại thế giới (WTO). Thị trường Việt Nam sẽ mở rộng cửa, và là điểm dừng
chân mới của nhiều nước trên thế giới. Chính vì vậy mà vấn đề ngân sách
Việt Nam cũng có sự thay đổi đáng kể.
12
Như chúng ta đã biết: Ngân sách nhà nước là một hệ thống các quan hệ
kinh tế trong lĩnh vực phân phối giữa các thành viên xã hội. Các quan hệ kinh
tế thuộc phạm vi ngân sách nhà nước không hoạt động một cách riêng lẻ, rời
rạc mà nó có mối quan hệ ràng buộc, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành hệ
thống ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam, theo điều tra 118 hiến pháp nước cộng hoà XHCN Việt
Nam năm 1992 quy định có 4 cấp hành chính là: Trung ương, tỉnh (và các
thành phố trực thuộc trung ương), huyện (và các cấp tương đương), tức là có
chính quyền trung ương 1 các chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã). Ở
mỗi cấp chính quyền địa phương vẫn tồn tại các Uỷ ban nhân dân và Hội
đồng nhân dân, trong đó Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ ra nghị quyết về kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội và ngân sách của địa phương.
Về tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước ở nước ta qua nhiều lần cải
tiến và sửa đổi, hiện nay theo điều 4 luật ngân sách nhà nước quy định: "Ngân
sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính
quyền địa phương (ngân sách địa phương)".
Ngân sách nhà nước ở nước ta là một thể thống nhất bao gồm toàn bộ
các khoản thu và chi của nhà nước trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Sự thống nhất này có khác với các nước
khác ở chỗ: dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách hàng năm trình quốc
hội là bao gồm tất cả các khoản thu chi của ngân sách trung ương và ngân
sách địa phương. Ở địa phương, dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách
địa phương hàng năm trình hội đồng nhân dân tỉnh là bao gồm tất cả các
khoản thu chi của tỉnh và huyện. Tuy nhiên, hiện nay, ngân sách nhà nước ở
nước ta chưa hoàn chỉnh, vì toàn bộ các khoản thu và chi của ngân sách xã
chưa được tổng hợp đầy đủ vào ngân sách nhà nước.
2. Tình hình sử dụng công cụ ngân sách nhà nước của Việt Nam
nhằm thúc đẩy kinh tế
2.1. Những kết quả đạt được
13
Ngày 25/4/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định mới về việc khoán
thu, chi đối với các đơn vị sự nghiệp, công lập. Việc này có ảnh hưởng tích
cực tới việc thu chi ngân sách của nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế. Nghị định 43/2006/NĐ-CP quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với
các đơn vị sự nghiệp do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành
lập. Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán
độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định
của luật kế toán. Ngoài ra, đơn vị sự nghiệp thực hiện quyền tự chủ, tự chịu
trách nhiệm trong việc xác định nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch và tổ chức các
hoạt động. Việc này giúp các đơn vị tự xác định nhiệm vụ hoạt động của
mình, tăng tính cạnh tranh và do đó tăng thu của ngân sách nhà nước.
Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO, việc này sẽ tạo
điều kiện cho Việt Nam phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, một
điều nhận thấy rằng gia nhập WTO chỉ thực hiện mang lại kết quả cho doanh
nghiệp nào biết tận dụng để phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhưng trong tình
hình sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều yếu kém, thì
vào WTO cũng đồng nghĩa tới hàng loạt những rào cản, khó khăn đặt ra cho
cả 2 phía: Nhà nước 1 doanh nghiệp chính vì vậy đã có không ít ý kiến thận
trọng hơn khi cho rằng, khi Việt Nam gia nhập WTO, cơ hội chỉ là tiềm năng,
còn thách thức mới là hiện thực.
Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ vấn đề ngân
sách Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết trong lĩnh vực
kinh tế, kích thích sự tăng trưởng kinh tế.
Trong cơ chế thị trường kế hóa tập trung, cùng với việc Nhà nước can
thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vai trò của Ngân sách Nhà
nước trong việc điều chỉnh các hoạt động trở nên hết sức thụ động.
Chuyển sang cơ chế thị trường trong đó lĩnh vực kinh tế Nhà nước định
hướng việc hình thành định hướng việc hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét