5
này lắm lúc người ta hiểu như là một, thực ra chúng có điểm riêng biệt khá
lớn. Ta có thể hiểu kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là những gì doanh nghiệp đã đạt được sau một quá trình hoạt động mà
họ bỏ công sức, tiền, của vào. Kết quả đạt được hay không đạt được nó phản
ánh đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu của doanh
nghiệp đề ra chính là kết quả mà họ cần đạt được. Kết quả đạt được có thể là
đại lượng cân đo đong đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, khối
lượng sản xuất ra, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, thị phần Và cũng có thể là
những đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính
như uy tín của hãng, chất lượng sản phẩm. Còn khái niệm về hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh thì sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi
phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh doanh. Chi phí đầu vào
càng nhỏ, đầu ra càng lớn, chất lượng thì chứng tỏ hiệu quả kinh tế cao. Cả 2
chỉ tiêu kết quả và chi phí để có thể đo bằng thước đo hiện vật và thước đo giá
trị. Trong thực tế vấn đề đặt ra là hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh
tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng chính là mục tiêu hay phương
tiện kinh doanh. Nhưng đôi khi người ta có thể sử dụng hiệu quả là mục tiêu
mà họ cần đạt, trong trường hợp khác chúng ta lại sử dụng chúng như công cụ
để nhận biết "khả năng" tiến tới mục tiêu mà ta cần đạt đó chính là kết quả.
1.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Ngày nay nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú càng ngày bị khan
hiếm do vậy việc tìm kiếm nguyên vật liệu để sản xuất phục vụ nhu cầu đời
sống con người bị hạn chế. Nếu như nguồn tài nguyên là vô tận thì việc sản
xuất cái gì?, sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? sẽ không trở thành vấn đề
đáng quan tâm. Từ đó bắt buộc các nhà kinh doanh, nhà sản xuất phải nghĩ
đến việc lựa chọn kinh tế, lựa chọn sản xuất kinh doanh, sản phẩm tối ưu, sử
dụng lao động cũng như chi phí để hoàn thành sản phẩm một cách nhanh
nhất, tốn ít tiền nhất. Sự lựa chọn đúng đắn đó sẽ mang lại cho doanh nghiệp
hiệu quả kinh tế cao, thu được nhiều lợi nhuận. Không chỉ vì nguồn tài
6
nguyên khan hiếm mà ngay trên thương trường sự cạnh tranh giữa các sản
phẩm ngày càng gay gắt do vậy doanh nghiệp nào có công nghệ cao, sản xuất
sản phẩm với giá thấp hơn, chất lượng hơn thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và
phát triển, chứng tỏ hiệu quả kinh tế kinh doanh của họ là cao.
Việc nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh chính
là điều kiện tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Để có thể nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải luôn nâng cao
chất lượng hàng hoá, giảm chi phí sản xuất nâng cao uy tín, nhằm đạt mục
tiêu lợi nhuận. Vì vậy đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh
doanh là vấn đề quan tâm của doanh nghiệp trở thành điều kiện sống còn để
doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.
1.3. Các chỉ tiêu áp dụng đối với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế khá rộng nó liên
quan đến rất nhiều vấn đề như: Chi phí sản xuất ra sản phẩm, chi phí tiền
lương, bảo hiểm, bán hàng, trang thiết bị kỹ thuật, kế hoạch tài chính trong
doanh nghiệp, hay thông qua sản lượng, doanh thu, khả năng thanh toán, khả
năng sử dụng vốn, vòng quay của vốn v.v Từ những chỉ tiêu đó thì ta mới
đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chính xác. Để
nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ra sao ta cần
phải hiểu qua tác dụng, ý nghĩa của các chỉ tiêu có liên quan đến việc đánh giá
hiệu quả sản xuất.
- Chỉ tiêu về lực lượng lao động: Ngày nay máy móc đang phát triển và
dần dần thay thế toàn bộ hoạt động sản xuất chân tay của người lao động,
chúng sẽ là lực lượng sản xuất trực tiếp và là điều kiện tiên quyết đến tăng
năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất. Như chúng ta đã biết dù trang
thiết bị máy móc thôi thì không đủ, vấn đề không kém phần quan trọng là vai
trò của con người lao động. Nếu không có lao động sáng tạo của con người thì
sẽ không có máy móc thiết bị đó, máy móc thiết bị dù hiện đại đến đâu cũng
7
phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹ thuật, trình độ sử dụng của
người công nhân thì mới phát huy được tác dụng, tránh được lãng phí và hỏng
hóc.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, lực lượng
lao động của mọi doanh nghiệp tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả
kinh tế như. Bằng lao động sáng tạo, mình tạo ra công nghệ mới, thiết bị mới,
nguyên vật liệu mới có hiệu quả hơn trước, cải tiến kỹ thuật nâng cao năng
suất, hiệu suất so với trước. Thứ hai lực lượng lao động trực tiếp điều khiển
thiết bị máy móc tạo ra kết quả của kinh doanh. Hiệu quả của quá trình này
thể hiện việc tận dụng công suất của thiết bị máy móc, tận dụng nguyên vật
liệu trực tiếp làm tăng năng suất lao động tăng hiệu quả tại nơi làm việc, lao
động có kỷ luật, chấp hành đúng nội quy vô thời hạn, về quá trình kỹ thuật
sản xuất sản phẩm, quá trình bảo dưỡng thiết bị máy móc. Vì vậy chăm lo đến
việc đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao
động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của nhiều doanh nghiệp. Thực tế cho
thấy doanh nghiệp vững mạnh trên thương trường là những doanh nghiệp có
đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, có tác phong làm việc khoa học
và có kỉ luật nghiêm minh.
- Chỉ tiêu về chi phí tiền lương - bảo hiểm tiền lương là sự biểu hiện
bằng tiền của hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp trả cho người
lao động theo thời gian, khối lượng công việc, mà người lao động cống hiến.
Nhằm tái sản xuất sức lao động cho sản xuất, tiền lương là khoản thu nhập mà
họ được hưởng. Còn đối với doanh nghiệp tiền lương là khoản chi phí trong
quá trình sản xuất kinh doanh. Trong quá trình quản lý thì tiền lương là đòn
bẩy kinh tế thúc đẩy người lao động quan tâm đến kết quả sản xuất từ đó nâng
cao năng suất lao động của họ.
Để đánh giá tốt hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phải
hạch toán tiền lương một cách hợp lí, do vậy phải thông qua số lượng chất
lượng, thời gian lao động và kết quả lao động thì mới đánh giá đúng khả năng
8
lao động và cũng là căn cứ để trả lương cho họ. Hiện nay ở các doanh nghiệp
đa số trả lương theo hai hình thức đó là trả lương theo sản phẩm và trả lương
theo thời gian.
Ngoài tiền lương ra cần phải tính đến một khoản chi phí về công tác Bảo
hiểm xã hội cho người lao động ở diện trợ cấp. Khoản này được tính theo tiền
lương thực tế phát sinh với một tỉ lệ nhất định và cùng với tiền lương được
đưa vào chi phí sản xuất hàng tháng để lập quỹ bảo hiểm xã hội. Quỹ này
được hình thành từ hai nguồn: Trích vào chi phí sản xuất kinh doanh hàng
tháng của đơn vị bằng 15% tiền lương thực tế phải trả và trừ vào lương người
lao động 5%.
- Chỉ tiêu về khả năng thanh toán: Từng doanh nghiệp phải xem xét khả
năng thanh toán của mình trong tình huống phải thanh toán mọi công nợ. Khả
năng thanh toán thể hiện tính chấp hành kỉ luật tài chính và thực lực tài chính
của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp chỉ có thể đảm bảo
khi doanh nghiệp sản xuất được nhiều sản phẩm khai thác, sử dụng hợp lí vật
tư, nguồn lực Khi phân tích cần sử dụng các tỉ số để thấy được khả năng
thanh toán:
*
Hệ số khả năng
thanh toán chung
=
Tổng tài sản lưu động
Tổng nợ ngắn hạn
*
Hệ số khả năng
thanh toán dài hạn
=
Tổng TSLĐ
Tổng nợ phải trả
Vốn luân chuyển = Tổng TSLĐ - Tổng nợ ngắn hạn
- Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn: thông qua vốn lưu động và vốn cố
định để đánh giá khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp. Ta dùng các chỉ số
sau để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn:
Số vòng quay của toàn bộ vốn =
Tổng doanh thu
Tổng vốn KD
* Đối với vốn cố định
9
Hiệu quả sử dụng vốn cố định =
Lãi ròng
Tổng TSCĐ
Số vòng quay của vốn cố định =
Doanh thu
Vốn cố định
* Đối với vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động =
Lãi ròng
Vốn LĐ
Số vòng quay của vốn lưu động =
Doanh thu
vốn lưu động
- Ngoài những chỉ tiêu trên ta thông qua chỉ tiêu về chi phí sản xuất kinh
doanh theo yếu tố, doanh thu tiêu thụ, khả năng thu chi tài chính để thấy
được doanh nghiệp lỗ lãi ra sao? Nguyên nhân tại sao? Đó chính là vấn đề mà
ta cần nghiên cứu trong quá trình phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
10
Chương II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA MỎ THAN MẠO KHÊ
2.1. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế thị trường, mỏ than Mạo Khê cũng như các doanh
nghiệp sản xuất khác, giá thành sản phẩm luôn giữ vai trò là chỉ tiêu chất
lượng tổng hợp hàng đầu quyết định đến hiệu quả kinh tế của sản xuất. Chúng
ta biết rằng để tăng hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp có thể là:
- Tăng giá bán sản phẩm
- Giảm chi phí sản xuất
- Vừa tăng giá bán sản phẩm đồng thời giảm chi phí sản xuất.
Qua đó thấy giá thành sản phẩm đóng vai trò trọng yếu trong hiệu quả
kinh tế của doanh nghiệp. Song trong điều kiện cân bằng của thị trường than
thì việc tăng giá bán là một việc khó làm vả lại giá bán sản phẩm than lại do
tổng công ty than Việt Nam ấn định. Do vậy con đường duy nhất để tăng hiệu
quả kinh tế của doanh nghiệp mình là "phấn đấu giảm chi phí sản xuất" hoặc
"nâng cao hiệu quả quản trị chi phí về khai thác, về bán hàng, quản lý " hoặc
"nâng cao sản lượng tiêu thụ, giảm giá thành sản phẩm". Để có những giải
pháp tốt hơn trong công tác quản trị chi phí kinh doanh, dự đoán chi phí trong
thời gian tới thông qua đó để tìm ra biện pháp giảm chi phí sản xuất. Thông
qua việc phân tích chi phí, giá thành sản lượng, yếu tố ảnh hưởng đến chi phí,
doanh thu để thấy được hiệu quả sản xuất kinh doanh của Mỏ than Mạo Khê.
2.2. Một vài nét về doanh nghiệp
Mỏ than Mạo Khê thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Ở cực tây
của đồi chứa than thuộc bể than Hồng Gai - Quảng Ninh. Mỏ chạy dọc theo
hướng Đông Tây, có chiều dài theo hướng khoảng 8 km rộng 5 km (diện tích
khoảng 40 km
2
). Địa hình của Mỏ tương đối bằng phẳng, chạy dọc là tuyến
11
đường sắt quốc gia Hà Nội - Hạ Long, có ga Mạo Khê là ga lớn, nằm sát ngay
địa phận mỏ rất thuận lợi cho việc chuyên trở than đi tiêu thụ cũng như đường
sắt quốc lộ 18A cách mỏ khoảng 2 km về phía nam, từ Trung tâm mỏ có
đường Bê tông nối liền với quốc lộ 18A. Cách mỏ 4 km cũng về phía nam có
cảng Bến Câu do mỏ xây dựng trên dòng sông Đà Bạc, tất cả tạo thành một
thể tổng hợp thuỷ bộ làm cho khả năng chuyên trở nguyên vật liệu do khai
thác cũng như vận tải sản phẩm than đi tiêu thụ một cách thuận lợi.
Mỏ than Mạo Khê là mỏ khai thác hầm lò được hình thành từ năm 1855
cho tới năm 1889 dưới sự cai quản của chủ mỏ người Pháp. Sau khi miền Bắc
hoàn toàn giải phóng, mỏ Mạo Khê được nhà nước ta tiếp quản và sản xuất
phát triển cho tới nay. Mỏ áp dụng hệ thống công nghệ khai thác Lò Chợ
(Đào chống lò kết hợp với khoan bắn mìn) ét về cơ giới hoá toàn bộ quá trình
sản xuất kinh doanh thì Mỏ Mạo Khê có trình độ cơ giới hoá cao trong toàn
ngành mỏ, các khâu công nghệ trong dây truyền sản xuất đều được cơ giới
hoá từ khâu đào lò đến khâu vận tải.
Còn về chế độ công tác mỏ thì bộ phận hành chính sự nghiệp thực hiện
theo chế độ ngày làm việc 2 buổi và nghỉ vào thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ.
Với bộ phận sản xuất trực tiếp làm theo chế độ khoán sản phẩm ngày làm 8
giờ cũng nghỉ vào thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ. Tổng số cán bộ công nhân
viên mỏ hiện nay khoảng 3480 người. Bộ máy quản lý của mỏ được tổ chức
theo cơ cấu trực tuyến chức năng của một doanh nghiệp hoàn chỉnh bao gồm
một giám đốc, 4 phó giám đốc, 15 phòng ban chức năng, 19 phân xưởng sản
xuất và phục vụ sản xuất, giúp việc cho giám đốc. Ban giám đốc có đội ngũ
130 người từ phó quản đốc phân xưởng, đội trưởng các phòng ban, nhiệm vụ
chính của bộ máy quản lý và tổ chức, chỉ đạo việc sản xuất kinh doanh trên cơ
sở xây dựng kế hoạch độc lập.
2.3. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Mỏ than Mạo Khê
Mỏ than Mạo Khê từ ngày đầu được tiếp quản đã dần dần từng bước đi
lên trong khó khăn của nền kinh tế đất nước nói chung và khó khăn của ngành
12
mỏ nói riêng. Trước những năm 1991 Mỏ được chuyên gia Liên Xô và các
nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu giúp đỡ công nghệ, mua máy móc thiết bị
khai thác, đào tạo cán bộ và đặc biệt đây cũng là thị trường xuất khẩu rộng
lớn. Nhưng sau khi Liên Xô (cũ) và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ thì
mỏ Mạo Khê cũng như những doanh nghiệp khác (có quan hệ với Liên Xô và
Đông Âu tan vỡ thì mỏ Mạo Khê cũng như những doanh nghiệp) gặp không ít
khó khăn về thị trường tiêu thụ, về mua sắm máy móc, thiết bị vật tư kỹ thuật,
trao đổi công nghệ Ngoài ra cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á xảy ra ở
Thái Lan vừa qua đã lan truyền đi các nước làm cho thị trường tiêu thụ than
cũng như hàng hoá khác trở lên khó khăn gấp bội.
Để bước vào nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mỏ đang
từng bước chủ động hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp kết hợp với việc
tuyển lựa nguồn nhân lực có chất lượng tốt được đào tạo vào lao động nên
ngày càng nâng cao chất lượng. Nhưng do thị trường tiêu thụ bị thu hẹp do
cuộc khủng hoảng. Vì vậy sản lượng khai thác không tăng mà còn giảm đi,
giá cả tương đối ổn định (thể hiện ở bảng sau đây):
Bảng 1. Chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (1997-1999)
TT Chỉ tiêu Năm 1997 1998 1999
1 Doanh thu (đ) 108.062.181.665 100.239.814.560 101.407.518.605
Tốc độ phát triển (%) 100 0,928 0,938
2 Sản lượng (tấn) 491.150 450.884 459.402
Tốc độ phát triển (%) 100 0,918 0,935
3 Giá thành đơn vị (đ) 220.019 222.318 220.738
Tốc độ phát triển (%) 100 1,010 1,003
Nguồn: Số liệu từ phòng Kế toán (Báo cáo tổng hợp).
13
Qua bảng trên cho thấy trong khoảng thời gian (1997-1999) doanh thu và
sản lượng than khai thác của mỏ đều giảm, ngoài ra tốc độ tăng của giá trị đơn
vị không đáng kể. Như vậy có thể thấy rằng, do ảnh hưởng bởi cuộc khủng
hoảng Đông Nam Á cũng như sự tan vỡ của Liên Xô và khối Đông Âu làm
cho khả năng tiêu thụ than giảm đáng kể, doanh thu bị giảm tương đối khoảng
10% so với năm 1997, thị trường bị thu hẹp đó là tổn thất lớn của ngành than
và các ngành kinh tế khác.
Mỏ than Mạo Khê là mỏ khai thác hầm lò nên chi phí về khai thác luôn
là yếu tố quyết định tới hiệu quả kinh tế của mỏ nó chiếm một tỷ trọng khá
cao từ 90% đến 92% trong năm.
Bảng 2. Chỉ tiêu doanh thu và chi phí
Đơn vị: 1000 đ
Chỉ tiêu Năm 1997 1998 1999
Doanh thu 108.062.181 100.239.814 101.407.518
Chi phí 109.554.080 120.378.525 88.494.837
Biện phí 76.805.083 87.053.701 62.345.780
Định phí 32.748.997 33.324.824 26.149.057
Giá trị hàng tồn kho 12.780.666 28.226.833 24.664.008
Nguồn: Số liệu phòng Kế toán (Báo cáo tổng hợp)
Qua bảng trên ta thấy rằng doanh thu nhỏ hơn chi phí (1997-1999), đó là
doanh thu bán hàng ngoài ra lượng hàng tồn kho chiếm tỉ lệ đáng kể. Năm
1997: lượng hàng tồn kho so với doanh thu chiếm khoảng 12%.
Năm 1998: lượng hàng tồn kho so với doanh thu chiếm khoảng 28%
Năm 1999: lượng hàng tồn kho so với doanh thu chiếm khoảng 24%.
Điều đó chứng tỏ rằng doanh thu bán hàng giảm chủ yếu do thị trường
tiêu thụ bị hạn chế hơn, hàng tồn kho tăng lên. Ngoài ra xét về chi phí thì năm
1998 chi phí tăng hơn so với năm 1997 là 10.824.445 (nghìn đ), chi phí này
tăng lên do ảnh hưởng của chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ, chi phí quản lý và
14
chi phí giá thành tăng. Nhưng đến năm 1999 chi phí lại giảm một cách đáng
kể so với năm 1997 là (21.059.243) đây là kết quả khả quan trong việc tăng
hiệu quả sản xuất kinh doanh bằng việc giảm chi phí (sản xuất, giá thành,
quản lý ).
Nhưng một vấn đề tồn tại mà vẫn chưa được khắc phục đó là từ năm
1998 tỷ lệ biện phí trong tổng chi phí chiếm khoảng 80% so với năm 1997 (tỷ
lệ này chỉ chiếm 72%). Điều này chứng tỏ rằng công việc sản xuất kinh doanh
của mỏ chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố thị trường bên ngoài như nguyên
vật liệu (gỗ, sắt v.v ) các dịch vụ thuê ngoài khác (dịch vụ chuyên chở, dịch
vụ khai thác, v.v ). Đây là điểm đầu tiên đẩy chi phí của mỏ luôn chiếm tỉ
trọng cao trong doanh thu, làm ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của doanh
thu, doanh thu của năm 1998, 1999 bị giảm so với năm 1997.
2.3.1. Phân tích về việc sử dụng lao động
Bảng 3. Cơ cấu lao động sản xuất công nghiệp mỏ
Nam chiếm 75,87%; Nữ chiếm 24,12%
Diễn giải
Số lao động
(người)
Tỷ trọng (%)
Tổng số công nhân sản xuất công
nghiệp
3480 100
1. Cán bộ quản lý 185 5,31
- Quản lý kinh tế 15 0,43
- Quản lý kỹ thuật 162 4,65
- Quản lý hành chính 8 0,22
2. Nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ 260 7,47
3. Công nhân sản xuất trực tiếp 3035 87,21
Nguồn: Số liệu phòng tổ chức lao động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét