Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

562 Chiến lược huy động và phát triển nguồn vốn tại SGD I Ngân hàng đầy tư và phát triển Việt Nam

hình thức mua bán nguyên thuỷ "qua quầy" trực tiếp "mặt đối mặt" và tiếp đó là
thơng lợng qua điện thoại thì hiện nay là giao dịch qua mạng điện tử diện rộng.
Nh vậy, thị trờng OTC hiện nay là thị trờng chứng khoán đợc tổ chức bao gồm
một mạng lới các tổ chức trung gian môi giới và tạo lập thị trờng liên kết với
nhau và liên kết với trung tâm quản lý thông qua một mạng máy tính điện tử
diện rộng. Qua mạng điện tử này, các đối tợng tham gia thị trờng nh công ty
chứng khoán, công ty niêm yết, các nhà đầu t, nhà quản lý có thể cung cấp và
truy cập các thông tin cần thiết. Đặc biệt, qua hệ thống mạng này các công ty
chứng khoán cũng có thể cung cấp và truy cập các thông tin cần thiết. Đặc biệt,
qua hệ thống mạng này các công ty chứng khoán cũng có thể thực hiện đàm
phán thơng lợng giá và khối lợng giao dịch trên cơ sở giá báo tốt nhất, thông
báo kết quả giao dịch cho trung tâm điều hành quản lý, trung tâm thanh toán bù
trừ và lu ký chứng khoán. Ngoài ra, thị trờng OTC cũng có thể không sử dụng
hệ thống nhà tạo lập thị trờng mà chỉ dùng hệ thống báo giá trung tâm, qua đó
thành viên hệ thống có thể yết giá một chiều và tiến hành thơng lợng, giao dịch
qua hệ thống.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của thị trờng chứng
khoán, tính toàn cầu hoá và cạnh tranh ngày càng cao đã thúc đẩy các thị trờng
đa dạng hoá hơn nữa. Mặt khác, hình thức giao dịch thoả thuận trong một số tr-
ờng hợp không phát huy đợc hiệu quả. Vì vậy ở một số thị trờng OTC phát triển
trên thế giới đã sử dụng cơ chế kết hợp cả hệ thống thơng lợng và khớp lệnh.
Điều này đa hoạt động của thị trờng OTC lên một bớc phát triển mới cao hơn
hiệu quả hơn.
Nh vậy, với một quá trình phát triển liên tục, thị trờng OTC đã thay đổi
rất nhiều về bản chất và nội dung. Do vậy, khó có thể đa ra một khái niệm rõ
ràng về thị trờng OTC, bản thân tên gọi OTC cũng không còn phù hợp vì hoạt
động trên thị trờng OTC giờ đây đã mang tính tập trung qua hệ thống trung tâm
chứ không chi qua quầy nh trớc đây. Tuy vậy, dựa trên đặc điểm phát triển của
thị trờng OTC chúng tôi tạm chia hai loại thị trờng OTC nh sau:
- Thị trờng OTC truyền thống là thị trờng chỉ có hình thức giao dịch thoả
thuận sử dụng hệ thống nhà tạo lập thị trờng, địa điểm giao dịch không tập
trung và giao dịch chủ yếu qua điện thoại, fax
- Thị trờng OTC hiện đại là thị trờng có hình thức giao dịch sử dụng hệ
thống báo giá trung tâm hoặc hệ thống nhà tạo lập thị trờng thông qua mạng
điện tử diện rộng dới sự quản lý của trung tâm điều hành, bên cạnh đó cũng sử
dụng các phơng tiện truyền thống nh điện thoại, fax Ngoài ra, thị tr ờng OTC
ở một số nớc còn kết hợp cả hình thức khớp lệnh tập trung.
1.2. Đặc điểm và vai trò của thị trờng OTC
1.2.1. Đặc điểm của thị trờng OTC
Thứ nhất, thị trờng OTC truyền thống có cơ chế xác lập giá là thơng lợng
giữa bên mua và bán, khác với cơ chế đấu giá của thị trờng Sở giao dịch. Việc
thoả thuận đợc giá thực hiện giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với khách
hàng hoặc giữa các nhà kinh doanh chứng khoán với nhau. Giá đợc hình thành
từ thơng lợng giữa hai bên mua và bán nên cùng một thời điểm có thể tồn tại
nhiều mức giá khác nhau cho một loại chứng khoán, khác với thị trờng sở giao
dịch do cơ chế đấu giá tập trung nên chỉ có một mức giá tại một thời điểm.
Tuy nhiên, cần lu ý rằng với cơ chế báo giá tập trung qua mạng máy tính
điện tử nh ở thị trờng OTC hiện đại ngày nay và có cơ chế cạnh tranh giá công
khai giữa các nhà kinh doanh chứng khoán nên thực sự ngời đầu t chỉ việc lựa
chọn giá tốt nhất trong các báo gía của các nhà tạo lập thị trờng và giá đợc hình
thành không chênh lệch nhiều so với cơ chế đấu giá, vì thực tế có thể coi nh đã
có sự "đấu giá" giữa các nhà tạo lập thị trờng.
Thứ hai, thị trờng OTC truyền thống là thị trờng có sự tham gia vận hành
của các nhà tạo lập thị trờng. Hệ thống các công ty chứng khoán tham gia thị tr-
ờng này ngoài các nhà môi giới, tự doanh nh đối với thị trờng sở giao dịch, còn
có các nhà tạo lập thị trờng có nhiệm vụ liên tục tạo tính thanh khoản cho thị tr-
ờng thông qua việc thờng xuyên nắm giữ một lợng chứng khoán nhất định mà
họ làm tạo lập thị trờng để sẵn sàng mua bán với khách hàng và hởng chênh
lệch giá mua bán. Đây là một đặc điểm rất đặc trng của thị trờng OTC truyền
thống. Các nhà tạo lập thị trờng đợc coi là động lực của thị trờng này, họ mua
bán với các cơ quan quản lý chứng khoán, có nghĩa vụ tuân thủ các chuẩn mực
cao về nghiệp vụ cũng nh đạo đức hành nghề. Để đợc làm nhà tạo lập thị trờng
cho một loại chứng khoán, cần phải có một lợng vốn tối thiểu và luôn phải nắm
giữ một lợng chứng khoán nhất định, loại mà họ làm tạo lập thị trờng để liên tục
chào bán và sẵn sàng mua loại chứng khoán này trên thị trờng. Việc "tạo lập"
thị trờng ở đây có nghĩa là tạo tính thanh khoản, tính khả mại cho thị trờng, làm
cho thị trờng không ngừng hoạt động.
Thứ ba, thị trờng OTC truyền thống là thị trờng có hình thức tổ chức giao
dịch mua bán phi tập trung với nghĩa là không có địa điểm, vị trí giao dịch tập
trung giữa bên mua và bên bán nh đối với thị trờng sở giao dịch. Trên thị trờng
OTC truyền thống các giao dịch diễn ra tại nhiều địa điểm, ở bất kỳ nơi nào có
thể thơng lợng và xác lập giá giữa bên mua và bên bán. Chính vì đặc điểm này
mà thị trờng OTC truyền thống đợc gọi là "thị trờng phi tập trung".
Thứ t, thị trờng OTC hiện đại là thị trờng có thể kết hợp các hình thức
giao dịch tập trung và phi tập trung. Trong đó hình thức giao dịch tập trung đợc
tổ chức giống Sở giao dịch, còn hình thức giao dịch phi tập trung cũng đợc tổ
chức mang tính "tập trung" hơn so với thị trờng OTC truyền thống nhờ có mạng
máy tính điện tử diện rộng. Có thể coi thị trờng là một mạng máy tính điện tử
diện rộng liên kết tất cả các đối tợng tham gia thị trờng từ các nhà đầu t, các
công ty chứng khoán, công ty niêm yết, các tổ chức hỗ trợ thị trờng và các nhà
quản lý Thị tr ờng này vì vậy còn đợc gọi là "thị trờng mạng" hay "thị trờng
báo giá điện tử của các nhà môi giới giao dịch". Mạng điện tử đợc các đối tợng
tham gia thị trờng sử dụng để đặt lệnh giao dịch, đàm phán thơng lợng giá, báo
giá, truy cập các thông tin về giá cả của các đối tác khác, thông báo và truy cập
các thông tin liên quan đến thị trờng Chính nhờ sử dụng kỹ thuật hiện đại này
nên tuy giao dịch diễn ra một cách phi tập trung tại rất nhiều địa điểm khác
nhau nhng vẫn đảm bảo tập trung thông tin tiện lợi cho việc giao dịch, thông
tin, đồng thời đảm bảo hiệu quả cho việc quản lý thị trờng.
Thứ năm, chứng khoán giao dịch trên thị trờng chủ yếu là của các công ty
vừa và nhỏ, công ty công nghệ cao, công ty mới thành lập nhng có tiềm năng
phát triển tốt, tóm lại là chứng khoán cha đủ tiêu chuẩn niêm yết trên thị trờng
sở giao dịch, có độ rủi ro cao hơn so với chứng khoán trên thị trờng tập trung.
Tiêu chí để chứng khoán đợc giao dịch trên thị trờng này thờng chỉ cần đảm bảo
tính thanh khoản tối thiểu và đảm bảo công ty hoạt động nghiêm túc, không lừa
đảo.
Ngoài ra, đối với một số thị trờng OTC trên thế giới (ví dụ ở Mỹ và một
số nớc phát triển khác) ngời ta còn giao dịch chứng khoán của các công ty lớn,
có độ rủi ro thấp, chất lợng cao và đang niêm yết tại sở giao dịch. Xu hớng này
đang ngày càng phổ biến. Đặc điểm này có nguồn gốc liên quan đến phơng thức
giao dịch thoả thuận của thị trờng. Xuất phát điểm của giao dịch thoả thuận,
trực tiếp không qua trung gian thờng là giao dịch của các nhà đầu t có trình độ,
hiểu biết và tự mình đầu t, cũng chính vì vậy mà họ có khả năng đánh giá tiềm
năng của những công ty có độ rủi ro cao, thờng cho lãi cao hơn so với các công
ty có độ rủi ro thấp, ổn định. Chính vì vậy mà việc giao dịch các loại chứng
khoán rủi ro thờng gắn với hình thức giao dịch thoả thuận, còn các chứng khoán
ít rủi ro thờng đợc niêm yết và giao dịch tập trung trên sở giao dịch. Tuy nhiên,
vì lý do tiện lợi nên các nhà đầu t tổ chức cũng có thể giao dịch thoả thuận
chứng khoán niêm yết trên thị trờng OTC.
Thứ sáu, là thị trờng đợc quản lý chặt chẽ để đảm bảo lợi ích của mọi đối
tợng tham gia thị trờng, chống những hoạt động lạm dụng thị trờng. Tơng tự nh
hệ thống thị trờng tập trung (các sở giao dịch), thị trờng OTC thờng đợc tổ chức
quản lý theo 2 cấp, cấp quản lý Nhà nớc và cấp tự quản.
Nội dung, phơng thức và mức độ quản lý ở mỗi nớc có khác nhau tuỳ
điều kiện và đặc thù của từng nớc nhng đều có cùng chung mục tiêu là đảm bảo
sự ổn định và phát triển của thị trờng và bảo vệ ngời đầu t.
Thứ bảy, là thị trờng có cơ chế thanh toán kết hợp giữa phơng thức thanh
toán bù trừ đa phơng nh thị trờng tập trung với hình thức thanh toán linh hoạt đa
dạng giữa ngời mua và ngời bán. Đặc điểm thanh toán linh hoạt này cũng xuất
phát từ cơ chế định giá thoả thuận giá của thị trờng, dẫn đến việc thanh toán
cũng có thể theo hình thức thoả thuận để tạo thuận lợi cho cả bên mua lẫn bên
bán chứng khoán. Đặc biệt là thời hạn và hình thức thanh toán rất linh hoạt.
Thời hạn thanh toán trên thị trờng này không cố định mà rất đa dạng, có thể là
T+0, T+1, T+3, T+x trên cùng một thị tr ờng, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giao
dịch.
Tóm lại, thị trờng OTC truyền thống là thị trờng có cơ chế thơng lợng giá,
có sự tham gia tích cực của các nhà tạo lập thị trờng và các giao dịch có thể
diễn ra ở một địa điểm bất kỳ nào đó. Còn thị trờng OTC hiện nay đợc tổ chức
chủ yếu qua mạng giao dịch điện tử, có thể kết hợp cả hình thức báo giá qua
mạng và khớp lệnh. Chứng khoán giao dịch trên thị trờng này thờng là các
chứng khoán không đợc niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, có thể coi là
chứng khoán loại 2. Thị trờng này thờng đợc quản lý theo hai cấp quản lý Nhà
nớc và tự quản.
1.2.2. Vai trò của thị trờng OTC
Thị trờng OTC nằm trong hệ thống thị trờng chứng khoán nói riêng và hệ
thống thị trờng tài chính nói chung, có một số vai trò cơ bản nh sau:
Một là, tạo thị trờng cho các chứng khoán cha niêm yết trên thị trờng tập
trung, hoàn thiện môi trờng huy dộng và phân bổ nguồn vốn cho các doanh
nghiệp.
Cùng với hệ thống thị trờng chứng khoán tập trng và toàn hệ thống thị tr-
ờng tài chính nói chung, thị trờng OTC có vai trò lớn trong việc tạo một kênh
huy động và phân bổ nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế, đặc biệt là cho các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghệ cao, ngành nghề mới, doanh
nghiệp mới thành lập , ch a đủ điều kiện huy động vốn trên thị trờng tập tủng.
Thị trờng này là một thành tố của hệ thống thị trờng chứng khoán, với những
đặc thù riêng có của mình nó góp phần hoàn thiện môi trờng huy động và phân
bổ nguồn vốn cho các doanh nghiệp.
Hai là, hoàn thiện môi trờng đầu t trên nhiều phơng diện
Sự có mặt và ngày càng phát triển của thị trờng OTC góp phần hoàn thiện
môi trờng đầu t trên các mặt cơ bản sau:
- Tạo môi trờng lu hành cho nhiều loại hình chứng khoán, đó là các loại
hình chứng khoán của các công ty có độ rủi ro cao. Bên cạnh đó, các loại trái
phiếu cũng phù hợp với hình thức giao dịch OTC vì chúng thờng đợc mua bán
thông qua hình thức thoả thụân giữa các nhà đầu t có tổ chức.
- Mở rộng phơng thức đầu t nh phơng thức định giá mua bán, phơng thức
thanh toán, chuyển giao chứng khoán Các ph ơng thức giao dịch trên thị trờng
OTC đợc coi là linh hoạt, tạo thuận lợi nhiều mặt cho ngời đầu t.
- Tăng cờng chất lợng dịch vụ thị trờng trên cơ sở ngày càng phát triển,
hoàn thiện kỹ thuật thị trờng. Nhờ có sự áp dụng kỹ thuật công nhệ cao mà chất
lợng cung cấp dịch vụ thị trờng ngày càng hoàn hảo. Mặt khác, chất lợng dịch
vụ đợc nâng cao còn do các đối tợng tham gia thị trờng, đặc biệt là ngời đầu t có
thể tiếp cận và chia sẻ thông tin nhanh, thuận tiện, thu thập lợng thông tin tối
đa. Khả năng quản lý giám sát thị trờng đợc đảm bảo trên cơ sở ứng dụng kỹ
thuật công nghệ cao, tăng khả năng thu thập, xử lý thông tin thị trờng, đảm bảo
môi trờng kinh doanh công bằng, công khai, trung thực, ổn định cho ngời đầu t.
Ba là, bổ trợ và thúc đẩy thị trờng tập trung
Tồn tại song song với hệ thống sở giao dịch tập trung, thị trờng OTC vừa
có vai trò bổ trợ cho thị trờng tập trung, vừa là động lực thúc đẩy thị trờng tập
trung ở các khía cạnh sau:
- Vai trò bổ trợ cho thị trờng tập trung đợc thể hiện ở các chức năng hoàn
thiện hệ thống thị trờng, hoàn thiện và bổ khuyết những mặt bất cập của thị tr-
ờng tập trung. Đồng thời, đây cũng là một thị trờng có vai trò làm "bớc đệm"
cho các công ty niêm yết tự hoàn thiện mình trớc khi đủ điều kiện niêm yết tại
sở giao dịch.
- Vai trò là động lực thúc đẩy thị trờng tập trung xuất phát từ cơ chế cạnh
tranh cung cấp dịch vụ ngày một hoàn thiện để thu hút ngời đầu t, cơ chế này
bắt buộc thị trờng tập trung phải luôn nâng cấp dịch vụ cho ngời đầu t. Một
chứng khoán sẽ thu hút ngời đầu t không chỉ bằng khả năng sinh lời mà còn
bằng tính khả mại (đợc tạo điều kiện mua bán dễ dàng). Đây là một thực tế xảy
ra tại nhiều nớc hiện nay. Thực tế này cũng chính là động lực làm cho thị trờng
OTC không ngừng tự hoàn thiện chính mình do cơ chế cạnh tranh với sở giao
dịch tập trung.
Bốn là, thu hẹp thị trờng tự do, tạo sự công bằng cho mọi đối tợng tham
gia thị trờng, giúp phát triển thị trờng ổn định, hiệu quả.
Sự có mặt của thị trờng OTC trong hệ thống thị trờng chứng khoán đã góp
phần hoàn thiện hệ thống thị trờng chứng khoán về chiều rộng cũng nh chiều
sâu. Một mặt nó mở rộng thị trờng cho các loại chứng khoán cha niêm yết trên
sở giao dịch tập trung, mặt khác nó áp dụng nhiều phơng thức mới trong việc
giao dịch, kinh doanh và tổ chức thị trờng. Chính vì vậy, thị trờng OTC đã góp
phần hoàn thiện môi trờng huy động vốn, môi trờng đầu t, môi trờng kinh doanh
chứng khoán; nâng cao chất lợng dịch vụ thị trờng trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật
hiện đại và cạnh tranh Tất cả những yếu tố này là tiền đề cho việc thu hẹp thị
trờng tự do vẫn tồn tại dới nhiều hình thức ở nhiều nớc, tạo sự công bằng cho
mọi đối tợng tham gia thị trờng chứng khoán, giúp thị trờng phát triển trong
khuôn khổ điều tiết vĩ mô của nhà nớc, tạo sự phát triển bền vững và ổn định thị
trờng.
1.3. Các mô hình thị trờng OTC
1.3.1. Mô hình tổ chức thị trờng OTC
Nh ta đã biết, thị trờng OTC có một lịch sử phát triển từ rất lâu đời. Trong
quá trình đó, hình thức hoạt động của thị trờng này cũng biến chuyển không
ngừng. Đi kèm theo đó là sự thay đổi về hình thức tổ chức thị trờng. Cho đến
nay, có rất nhiều loại hình thị trờng OTC đang hoạt động trên thế giới. Mỗi
quốc gia có một cách tổ chức thị trờng riêng của mình. Tuy nhiên, có thể khái
quát lại thành một số mô hình sau:
a. Mô hình kiểu NASDAQ: Đây là mô hình thị trờng OTC điển hình nhất
đợc tổ chức dạng một công ty sở hữu thành viên/đại chúng do Hiệp hội các nhà
kinh doanh chứng khoán quản lý. Hình thức hoạt động chủ yếu là sử dụng hệ
thống tạo lập thị trờng.
b. Mô hình sở hữu thành viên/cá nhân do một số tổ chức hoặc cá nhân
thành lập và điều hành. Hình thức hoạt động chủ yếu dới dạng báo giá trung
tâm (OTC BB).
1.3.2. Mô hình quản lý thị trờng OTC
Nhìn chung, sự đa dạng của quá trình phát triển thị trờng, mức độ phát
triển của thị trờng và điều kiện cụ thể của mỗi nớc sẽ dẫn đến sự đa dạng trong
cơ chế và mức độ quản lý thị trờng. Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia, trên cơ sở
những u điểm của từng hình thức quản lý, hoạt động của thị trờng chứng khoán
đều đã sử dụng mô hình quản lý Nhà nớc có sự kết hợp của chế độ tự quản.
a. Cơ quan quản lý Nhà nớc: Cơ quan này có thể có những tên gọi khác
nhau, tuỳ từng nớc, đợc thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nớc đối
với thị trờng chứng khoán. Tổ chức và quyền lực của các cơ quan quản lý Nhà
nớc ở từng thị trờng cũng khác nhau:
- Uỷ ban độc lập: là cơ quan Nhà nớc quản lý ngành thuộc Chính phủ.
Đây là mô hình tổ chức cơ quan quản lý có tính pháp lý cao nhất đợc áp dụng ở
các thị trờng nh Mỹ, Anh, Đức, Hàn Quốc
Ví dụ: tại Anh có Uỷ ban đầu t chứng khoán (SIB- Securities Investment
Board), tại Mỹ, Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán (SEC -
Securities and Exchange Commission).
- Uỷ ban thuộc bộ: là cơ quan quản lý ngành thuộc bộ. Đây là mô hình tổ
chức mà cơ quan quản lý có hiệu lực quản lý thấp hơn mô hình uỷ ban độc lập,
bộ chủ quản thờng là bộ quản lý về lĩnh vực kinh tế, tài chính và mô hình nay đ-
ợc áp dụng tại Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Đài Loan
b. Cấp tự quản: chủ yếu có hai hình thức, do hiệp hội các nhà giao dịch
chứng khoán quản lý (Mỹ, Nasdaq Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan )
hoặc do Sở giao dịch đồng thời quản lý (anh, Mothers Nhật, Pháp, Canada, ).
Hiệp hội hoặc sở giao dịch tổ chức hệ thống giao dịch và thông tin, vận hành hệ
thống, ban hành các quy chế tự quản để thuận lợi cho việc giám sát và đảm bảo
thực hiện tốt nhất kỹ năng nghiệp vụ và đạo đức hành nghề của thành viên.
2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu, phân tích một số thị trờng chứng khoán OTC trên thế
giới, từ các nớc mà có bề dầy về sự phát triển của thị trờng chứng khoán nh Mỹ,
Nhật và các nớc công nghiệp mới mà việc xây dựng thị trờng OTC đợc đánh giá
là thành công, chúng tôi rút một bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong
việc xây dựng và phát triển thị trờng OTC ở Việt Nam:
Bài học thứ nhất: về mô hình quản lý thị trờng
Hầu hết các nớc phát triển có thị trờng tự do tồn tại tự phát khá lâu trớc
khi đợc quản lý nh thị trờng Mỹ, các thị trờng châu Âu. Sau đó, Nhà nớc và các
tổ chức tự quản từng bớc đ thị trờng tự do vào quản lý. Thông thờng cơ chế
quản lý ở những thị trờng này theo mô hình 2 cấp: cấp quản lý Nhà nớc do Uỷ
ban chứng khoán thực hiện và cấp tự quản do Hiệp hội kinh doanh chứng khoán
hoặc Sở giao dịch thực hiện. Đối với các nớc đang phát triển có thì trờng chứng
khoán hình thành muộn hơn, thông thờng Nhà nớc đứng ra tổ chức, thành lập và
trực tiếp quản lý thị trờng thông qua hai cơ quan là Uỷ ban chứng koán và cơ
quan trực tiếp điều hành thị trờng. Đây là mô hình phù hợp với điều kiện thực tế
của Việt Nam.
Bài học thứ hai: về cấu trúc thị trờng chứng khoán
Từ kinh nghiệm các nớc cho thấy, cấu trúc thị trờng chứng khoán thờng
gồm có sở giao dịch dành cho các loại chứng khoán của các công ty có quy mô
vốn lớn và rất lớn đồng thời tồn tại rất nhiều loại hình của thị trờng OTC tơng
ứng với quy mô vốn và tính chất của các loại hình công ty. Điều này cho phép
thị trờng chứng khoán thực sự trở thành một công cụ huy động vốn cho tất cả
các loại công ty, đủ sức cạnh tranh với lĩnh vực tín dụng của các tổ chức trung
gian tài chính. Về thị trờng chứng khoán Việt Nam hiện nay với sự hoạt động
của TTGDCK TP.HCM theo phơng thức tơng tự nh một sở giao dịch mới chỉ
đáp ứng đợc nhu cầu của các doanh nghiệp có mức vốn là trên 10 tỷ đồng, nh
vậy phần còn lại của các doanh nghiệp sẽ không có cơ hội tham gia thị trờng và
mở ra các hình thức giao dịch OTC sẽ tạo ra một thị trờng có tính đa dạng linh
hoạt giúp hoàn thiện cấu trúc thị trờng chứng khoán.
Bài học thứ ba: Về mô hình tổ chức hệ thống giao dịch
Kinh nghiệm các nớc cho thấy, một tổ chức có thể điều hành và cung cấp
nhiều hình thức giao dịch khác nhau. Nasdaq có thể vận hành thị trờng Nasdaq
NMS, Nasdaq Smallcap đồng thời cung cấp mạng điện tử báo giá và khối lợng
cho thị trờng OTC BB và cũng tơng tự nh vậy đối với thị trờng Nhật Bản và Hàn
Quốc. Đây là một kinh nghiệm quý báu để chúng ta nghiên cứu vận dụng xây
dựng thị trờng tại Hà Nội.
Bài học thứ t: về giao dịch trái phiếu
Kinh nghiệm các nớc cho thấy, các giao dịch trái phiếu thờng diễn ra giữa
các nhà đầu t có tổ chức với khối lợng lớn, hình thức thanh toán rất linh hoạt
đặc biệt thích hợp với cơ chế thoả thuận của thị trờng OTC. Các thị trờng OTC
Nhật Bản, Đài Loan đều tổ chức một thị trờng riêng cho giao dịch trái phiếu.
Điều này gợi ý cho chúng ta nên xây dựng một hệ thống giao dịch trái phiếu
riêng với cơ chế thơng lợng, thoả thuận.
Bài học thứ năm: về năng lực của các công ty chứng khoán
Có thể nói, vai trò của các công ty chứng khoán trong thị trờng OTC đợc
đánh giá cao hơn rất nhiều so với thị trờng tập trung theo phơng thức khớp lệnh.
Trớc hết, các công ty phải đảm bảo các nghiệp vụ nh t vấn, môi giới, tự doanh,
bảo lãnh phát hành, lu ký, thanh toán nh đối với thị trờng tập trung nhng với
cơ chế rất linh hoạt của thị trờng OTC để đáp ứng đợc nhu cầu của khách hàng
và nâng cao uy tín của mình đòi hỏi các công ty phải nâng cao chất lợng phục
vụ lên một tầm cao mới. Vai trò này đợc thể hiện rõ nét nhất khi công ty chứng
khoán là nhà tạo lập thị trờng. Hơn thế nữa để phát huy tối đa hiệu quả của thị
trờng OTC thì phải đảm bảo đợc tính hiện đại của thị trờng có nghĩa là phải xây
dựng một hệ thống điện tử diện rộng đồng bộ từ Trung tâm tới các công ty
chứng khoán. Công việc này cần có chi phí lớn, đòi hỏi các công ty chứng
khoán phải có một tiềm lực tài chính đủ mạnh.
Bài học thứ sáu: về vấn đề lu ký, thanh toán và bù trừ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét