Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Môi trường và chiến lược TMĐT của VinaBook

của luật mẫu UNCITRAL về TMĐT luật điều chỉnh một cách toàn diện các giao dịch điện
tử trong mọi mặt của đời sống kinh tế -xã hội. Luật thương mại điện tử ra đời đã đánh dấu
việc TMĐT chính thức được pháp luật thừa nhận.
Luật công nghệ thông tin có hiệu lực từ ngày 1/1/2007
Cùng với luật công nghệ thông tin và luật giao dịch điện tử thì các nghị định và văn
bản hướng dẫn thi hành luật cũng được thi hành:
- Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử.
- Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về
chữ Chữ ký số và Dịch vụ chứng thực chữ ký số.
- Nghị định số 27/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính.
- Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng.
Các văn bản sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các doanh nghiệp tiến hành các giao
dịch thương mại điện tử, bảo vệ quyền lợi các bên tham gia giao dịch.
Như vậy ta có thể thấy Việt Nam đã xây dựng được nền tảng pháp luật cơ bản hoàn
chỉnh để tạo cơ sở pháp lý điều chình hoạt động thương mại điện tử. Thương mại điện tử
chính thức được thừa nhận là một ngành kinh doanh trong nền kinh tế.
Chinh sách pháp luật về thương mại điện tử đã tạo điều kiện cho hoạt động thương mại
điện tử nói chung và hoạt động kinh doanh trực tuyến của Vinabook nói riêng phát triển.
Hoạt động trong môi trường thương mại điện tử, doanh nghiệp không những phải tuân
thủ các luật liên quan đến TMĐT của nước mình mà còn chịu ảnh hưởng luật về TMĐT
quốc tế. Và điều này cũng tác động không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của Vinabook.
2.1.1. Môi trường kinh tế:
Bao gồm các yếu tố như tốc độ phát triển tăng trưởng GDP, GNP, xu hướng tăng giảm
thu nhập thực tế, mức độ lạm phát, các biến động trên thị trường, lãi suất và xu hướng lãi
xuất…các yếu tố này tác động trực tiếp tới sức mua của khách hàng, thói quen mua sắm,
tiêu dùng. Các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ sự biến động của kinh tế để chủ động đưa
ra các chiến lược kinh doanh phù hợp.
5
Tình hình kinh tế thế giới và trong nước từ năm 2008 trở lại đây có nhiều biến động:
khủng hoảng, lạm phát. Năm 2008 kinh thế thế giới lâm vào tình trạng khủng hoảng, Việt
Nam cũng chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoàng này.
N
ăm
T
ốc độ
tăng
trường
G
DP đầu
người(tỷ
USD)
G
DP/đầu
người
(U
SD)
C
PI
Tổng mức
bán lẻ và doanh
thu dịch vụ tiếu
dung(1000 tỷ
VNĐ)
Tăn
g giảm tỷ
giá USD
Nh
ập siêu
(tỷ
USD)
2
005
8
.43
52 63
6
8.
4
480 0.9 4
2
006
8
.17
60 72
3
6.
6
496 1.0 5
2
007
8
.5
70 83
5
1
2.6
764 -0.3 14
2
008
6
.2
89 10
52
1
9.9
1009 6.3 18
2
009
5
.3
91 10
64
6.
5
1197 10.7 12
2
010
6
.7
10
1
11
68
1
1.7
1561 9.6 13
Năm 2008 Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn câu.
Sau 3 năm liên tiếp 2005-2007 nền kinh tế liên tục tăng trưởng hơn 8% đến năm 2008 tốc
độ tăng trưởng chỉ là 6.2 %, năm 2009 tiếp tục chịu nhiều ảnh hưởng 5,3%. Đứng trước
tình hình khó khăn của kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng xu hướng của
nhiều doanh nghiệp là tìm cách giảm chi phí và thương mại điện tử là hướng đi của nhiều
doanh nghiệp nhằm tìm cách tồn tại và cạnh tranh hiệu quả hơn trên thị trường.
2.1. 3. Môi trường văn hóa –xã hội
Các vấn đề văn hóa – xã hội được quan tâm nhiều như: ngôn ngữ, biểu tượng màu sắc
và thói quen tiêu dùng của dân cư.
6
Ngày nay có khoảng hơn 70% website có nội dung hiển thị bằng tiếng Anh. Do đó cần
vượt qua rào cản ngôn ngữ để tiếp cận khách hàng. Vấn đề biểu tượng, màu sắc khi tiếp
cận khách hàng trên thị trường nào thì cần phải lưu ý tới tiểu tượng màu sắc của website
trên thị trường đó.
Thói quen tiêu dùng của dân cư: Tỉ lệ dân số sử dụng internet để tìm kiếm thông tin
hoặc tiến hành giao dịch trực tuyến: tỷ lệ dân số sử dụng internet của Việt Nam cao trong
khu vực ASEAN, số người sử dụng Internet 23,597,189 chiếm 27,51% . Trong đó chủ yếu
là giới trẻ, tuy hiện nay thói quen mua hàng trên mạng tại việt nam còn chưa phổ biến so
với tình hình chung của thế giới, nhưng với tỷ lệ sử dụng internet khá cao và những người
sử dụng chủ yếu là giới trẻ (những người năng động và dễ tiếp thu những hình thức mua
bán mới, ít thời gian trong bối cảnh làm việc bạn rộn) đang là cơ hội cho thương mại điện
tử B2C .
Thói quen sử dụng internet của người dân ngày càng tăng, hiện nay mọi người có xu
hướng sử internert để đọc tin tức, tìm kiếm thông tin về sản phẩm, và mua hàng hóa.
Sản phẩm kinh doanh của Vinabook hướng tới là sách và các phần mềm…đây là
những sản phẩm dễ được người tiêu dùng tiếp cận mua trực tuyến.
Khách hàng của công ty hướng tới bao gồm cả khách hàng là Việt Kiều(30%), đây là
đối tượng khách hàng có thói quen mua hàng trực tuyến.
2.1.4. Môi trường công nghệ
Công nghệ là một trong những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tới tới khả năng và
mức độ ứng dụng của DN. Một số yếu tố cần quan tâm như tình hình phát triển internet,
bản quyền phần mềm, ứng dụng CNTT trong DN, an ninh & an toàn trong giao dịch
TMĐT…
Tại các nước như Mỹ và Nhật, quy trình phát triển của các doanh nghiệp thương mại
điện tử thường theo các bước từ xây dựng cơ sở hạ tầng đến thanh toán và sau cùng là
quảng bá thông tin. Tại Việt Nam, mặc dù thương mại điện tử đã hình thành được hơn 10
năm, nhưng các doanh nghiệp trong ngành hiện vẫn đang hoạt động trong tình trạng đi
ngược quy trình. Nghĩa là họ phải xuất phát từ thông tin đến việc xây dựng phương thức
thanh toán trực tuyến và sau cùng là đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng.
7
Hiện nay, 3 vấn đề chính đang ngăn cản bước tiến của thương mại điện tử Việt Nam
gồm thông tin, hạ tầng cơ sở và hình thức thanh toán. “Tỉ lệ thông tin giao dịch mang tính
lừa lọc hiện chiếm 5-10%, chẳng hạn như giá ảo, giao hàng không có người nhận, hàng
gian, hàng giả. Điều này dẫn đến tâm lý người mua hàng phải xem tận mắt, sờ tận tay.
Tiếp đến, vấn đề cơ sở hạ tầng chưa hoàn chỉnh, nhất là tại các khu vực vùng sâu, xa
sẽ vẫn là rào cản lâu dài trong việc phát triển thương mại điện tử.
Tình hình phát triển internet đến tháng 3-2010
- Số lượng thuê bao qui đổi: 23,3 triệu
- Số người sử dụng:23,597,189
- Tỉ lệ số dân sử dụng internet:27,51%
- Tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam : 108,820 Mbps
- Tổng băng thông kết nối trong nước:135,197Mbps
Như vậy cơ sở hạ tầng về đường truyền phục vụ cho thương mại điện tử đã tạo điều
kiện cho ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của công ty tuy còn nhiều
hạn chế ở khu vực vùng nông thôn và vùng sâu vùng xa. Nhưng tại các thành phố và khu
vực trung tâm mọi người bắt đầu tiếp cận nhiều với mạng internet, nhất là tại các thành
phố lớn như Hà Nội
“Thương mại điện tử Việt Nam có thể phát triển từ 15-20 lần trong vòng 5 năm tới.
Tuy nhiên, để làm được điều này, phải làm sao xây dựng được lòng tin từ phía người mua”,
ông Nguyễn Hòa Bình, Tổng Giám điện tử trong nước. Sau cùng, thiếu công cụ thanh toán
trực tuyến là nguyên nhân cơ bản nhất khiến thương mại điện tử Việt Nam chưa thể tiến xa
trong hơn 10 năm qua.
Khó khăn lớn nhất chính là nền tảng và hạ tầng thanh toán trực tuyến của Việt Nam
hiện vẫn chưa phong phú, tiện lợi và tạo được độ tin cậy từ phía người mua. Ngoài ra, hệ
thống ngân hàng đứng ngoài cuộc chơi cho đến tận gần đây mới bắt đầu triển khai các hình
thức ví điện tử. Phương thức thanh toán phổ biến nhất trong thương mại điện tử Việt Nam
vẫn là tiền mặt.
Mới đây, việc tham gia thị trường của một số cổng thanh toán trực tuyến lớn của thế
giới đang thổi một luồng gió mới vào kỳ vọng phát triển của ngành thương mại điện tử.
8
Tháng 6/2011, hãng thanh toán trực tuyến PayPal đã hợp tác với Công ty PeaceSoft của
Việt Nam nhằm cung cấp công cụ thanh toán trực tuyến cho các doanh nghiệp Việt nam.
Trước đó, Webmoney với phạm vị hoạt động tại hơn 40 quốc đốc PeaceSoft, nhận định
(Nguồn doanhdansaigon.vn)
Tuy nhiên thương mại điện tử B2C cho phép chấp nhận nhiều hình thức thanh toán :
tiền mặt, ATM, POS, ví điện tử, thanh toán trực tuyến
Hiện nay cơ sở hạ tầng cho thanh toán trong thương mại điện tử Việt Nam có thể đáp
ứng được nhu cầu thanh toán cho người tiêu dùng và doanh nghiệp trong hoạt động mua
bán trực tuyến. Đặc biệt với loại hình thanh toán được phát triển bởi Vật Giá là ví điện tử
Bảo Kim và Chợ Điện Tử là Ngân Lượng có thể giúp khách hàng an tâm khi tham gia
thanh toán trực tuyến.
An ninh mạng là một trở ngại lớn cho thương mại điện tử Việt Nam nói chung và cho
công ty Cổ phần thương mại Dịch vụ Mê Kông Com.:theo thống kê tình hình an ninh mạng
năm 2009 tại Việt nam(hơn 64,7 triệu lượt máy tính bị nhiễm virut, 140 trang các có quan
và doanh nghiệp bị phát hiện có lỗ hổng, 40% website của các công ty chứng khoán không
an toàn, người dùng bị ăn cấp mật khẩu và các thông tin cá nhân và lừa đảo trực tuyến
cũng tăng lên nhanh chóng. Điều này đã gây tâm lý lo ngại cho nhiều khách hàng khi tham
gia thương mại điện tử, đặc biệt là đối với những người ít có hiều biết về công nghệ thông
tin và cách thức mua hàng trực tuyến an toàn.
Kết luận tuy còn nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh điện tử của công ty nhưng
nhìn chung với những điều kiện môi trường vĩ mô hiện tại doanh nghiệp hoàn toàn có
điều kiện tiến hành hoạt động kinh doanh trực tuyến thành công.
2.2. Phân tích môi trường ngành của doanh nghiệp
2.2.1. Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành
Số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh : Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh sách trực
tuyến là lớn, có thể kể đến các website bán sách trực tuyến như tiki.vn, minhkhai.vn,
songhuong.com.vn, megabook.com, alphabook.com…Ngoài ra còn rất nhiều cửa hàng
nhỏ bán sách trực tuyến khác. Sự cạnh tranh này là khá cao.
9
Sự khác biệt giữa các sản phẩm: Ở môi trường kinh doanh TMĐT thì sự khác biệt sản
phẩm giữa các DN là không lớn. Các sản phẩm / dịch vụ ở ngành kinh doanh sách trực
tuyến này cũng vậy. Và cạnh tranh chủ yếu ở đây là về chất lượng dịch vụ và giá.
Vinabook có số lượng đầu sách lớn trên 30000 đầu sách, chất lượng phục vụ tốt do vậy mà
Vinabook thu hút được nhiều khách hàng và hiện tại Vinabook là website bán sách trực
tuyến số một Việt Nam.
Mức độ tăng trưởng trong ngành: Ở ngành kinh doanh ứng dụng TMĐT thì mức độ
này là thấp. Ngành kinh doanh sách cũng vậy. Do vậy sự cạnh tranh này cũng là tương đối.
Thích ứng mang tính chiến lược cao
−> Mức độ cạnh tranh trong ngành hiện tại được đánh giá là cao
=> Điểm đánh giá 7/10
2.2.2. Rào cản gia nhập ngành
Các rào cản gia nhập ngành kinh doanh sách trực tuyến:
Chi phí đầu tư cao : Để xây dựng được một website có thể ứng dụng thương mại điện
tử thì chi phí đầu tư ban đầu là rất lớn. Từ chi phí đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin
( phần cứng, phần mềm,…) đến chi phí vận chuyển, chi phí dự trữ trên đường, chi phí kho
hàng, chi phí marketing, truyền thông. Tùy thuộc vào mức độ ứng dụng thương mại điện tử
của doanh nghiệp mà ứng với khoản chi phí tương ứng, nhưng mà cho dù là ứng dụng ở
múc nào đi chăng nữa thì vẫn cần một khoản chi phí cao.
Niềm tin của khách hàng vào thương mại điện tử chưa cao: Trong môi trường điện tử,
khi mua hàng khách hàng không thể cầm nắm hay xem trực tiếp sản phẩm. Ngoài ra một
phần do tính an toàn của hệ thống thanh toán chưa cao nên nhiều người còn lo ngại khi
thanh toán trực tuyến.
Đường cong kinh nghiệp có độ dốc lớn: DN nào hoạt động càng lâu thì càng gây được
uy tín với khách hàng. Vinabook thành lập năm 2004, ra đời sau Minhkai.vn nhưng sau
hơn 6 năm hoạt động Vinabook đã có uy tín lớn trên thị trường sách trực tuyến.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: Bản quyền trong in ấn và phát hành sách hiện nay tại
Việt Nam chưa được kiểm soát hiệu quả cũng gây khó khăn cho các nhà phân phối sách
10
bản quyền bời khách hàng có thể sử dụng những sách, ấn phẩmphần mềm được sao chép vi
phạm bản quyền thay vì mua những sản phẩm có bản quyền.
=> Điểm đánh giá 6/10
2.2. 3. Sản phẩm thay thế trong ngành
Có rất nhiều sản phẩm thay thế sách.
Với sự phát triển của công nghệ thông tin và internet như hiện nay thì kéo theo đó là
sách điện tử xuất hiện. Ở các nước phát triển sách điện tử rất được phổ biến, có rất nhiều
người sử dụng sách điện tử, website amazon có doanh thu sách điện tử lớn hơn sách in. Vì
vậy sách điện tử là sản phẩm thay thế chủ yếu cho sách in, ngoài ra còn có sách audio, Vì
vậy đây cũng là khó khăn cho công ty khi tiến hành kinh doanh trực tuyến. Tuy nhiên ở
Việt Nam người dân chưa quen với việc sử dụng sách trực tuyến nên mức độ canh ở yếu
tố này là thấp.
=> Điểm đánh giá 4/10
2.2.4. Sức mạnh thương lượng của khách hàng và nhà cung ứng trong ngành
*Quyền lực thương lượng của khách hàng.
Quyền lực thương lượng của khách hàng trong môi trường kinh doanh điện tử là cao.
Trong lĩnh vực kinh doanh sách trực tuyện hiện nay khách hàng có thể có nhiều lựa chọn
cả về website để mua và cả về giá cả, các loại sách. Không những vậy ngay trong phương
mức mua truyền thông khách hàng cũng có nhiều lựa chọn bởi vì số lượng cửa hàng, công
ty sách rất lớn.
=> Điểm đánh giá 7/10
* Quyền lực thương lượng của nhà cung ứng:
Các nhà cung ứng cung ứng sách cho Vinabook là các nhà xuất bản sách. Chẳng hạn
như: Nhà xuất bản Trẻ, Nhà xuất bản First News – Trí Việt, nhà xuất bản tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Kim Đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức…
Có rất nhiều các nhà cung ứng sách, mật độ tập trung của các nhà cung ứng nhỏ. Do
đó quyền lực thương lượng của nhà cung ứng thấp
=> Đánh giá điểm
2. 3. Các phương án tận dụng cơ hội và né tránh giảm thiểu đe dọa.
11
2. 3.1 Cơ hội
- Hoạt động kinh doanh điện tử đang trong giai đoạn phát triển và đang trở thành xu
thế, thói quen mua sắm trực tuyến của người tiêu dùng ngày càng tăng. Khách hàng trong
nước mua sách ngoài bộ phận không có điều kiện “đi dạo mua sách” (Nhân viên công sở,
người lớn tuổi…) còn có một bộ phận mua sách vì những đầu sách đó không có trong
những nhà sách truyền thống.
- Sản phẩm kinh doanh của Vinabook hướng tới là sách và các phần mềm…đây là
những sản phẩm dễ được người tiêu dùng tiếp cận mua trực tuyến.
- Người tiêu dùng có thói quen sử dụng internet như là công cụ tìm kiếm nhanh nhất:
Khi internet trở nên phổ biến nó đã trở thành công cụ đắc lực cho người tiêu dùng.
- Pháp luật Việt Nam đang dần đi vào ổn định, tạo điều kiện cho TMĐT phát triển,
giúp các hoạt động đào tạo trực tuyến dễ dàng được thực hiện
2. 3.2. Đe dọa
- Sản phẩm thay thế: dịch vụ cung cấp sách của các cửa hàng truyền thống, cạnh tranh
trong ngành cao.
- An ninh mạng của Việt Nam chưa tốt, vấn đề bảo vệ thông tin khách hàng còn gặp
nhiều khó khăn.
- Phương thức thanh toán bị giới hạn, chi phí duy trì website tại Việt Nam khá cao.
2. 3. 3. Phương án giúp công ty tận dụng cơ hội và né tránh thách thức
Ứng dụng thương mại điện tử để giảm chi phí nhằm giảm giá sản phẩm, đồng thời tăng
cường tìm kiếm nguồn cung cấp những sản phẩm mà tại các cửa hàng truyền thống không
có, tích hợp những công cụ thanh toán an toàn, tin cậy cho người sử dụng. Đồng thời năng
cao chất lượng các sản phẩm cung cấp làm sao thể hiện rõ sự khác biệt giữa sản phẩm bản
quyền và sản phẩm vi phạm bản quyền, làm cho người tiêu dùng nhận thấy rõ điều đó.
Đặc biệt tập chung vào nhóm khách hàng mua sản phẩm để làm quà tặng họ sẽ rất mong
muốn mua được sản phẩm là sản phẩm bản quyền.
12
CHƯƠNG III. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG
3.1. Cặp sản phẩm/thị trường.
3.1.1. Xác định sản phẩm dịch vụ của công ty
Vinabook là công ty kinh doanh về mặt hàng sách online hàng đầu Việt Nam. Với mục
tiêu không ngừng mở rộng thị trường sách tại nước ta Vinabook đã chọn cho mình chiến
lược đa dạng hoá sản phẩm. Khi đến với Vinabook ngay tại trang chủ của web khách hàng
có thể thấy như đến với một thư viện sách khổng lồ với đầy đủ các hạng mục, chủng loại
sách: sách văn học, sách phấp luận, sách ngữ văn, sách nhà ở vật nuôi, sách gia đình nuôi
13
dạy con, sách audio, Ngoài ra sản phẩm mà Vinabook kinh doanh còn có lịch, tạp chí,
phần mềm, đĩa nhạc, đĩa phim, thẻ card phân phối qua internet.
3.1.2. Đánh giá mức độ sẵn sàng cho TMĐT của sản phẩm.
Các sản phẩm mà Vinabook cung cấp cho khách hàng có thể thấy rằng đây là những sản
phẩm đã được rất nhiều doanh nghiệp trên thế giới kinh doanh online thành công, có thể kể
đến Amazon là một điển hình. Đối với nước ta thì loại sản phẩm này cũng đã và đang được
khá nhiều doanh nghiệp kinh doanh online: vinabook, sahara,alphabook,…
Đối với các sản phẩm sách trong truyền thống đã có rất nhiều công ty, doanh nghiệp
kinh doanh và có thể thấy rất nhiều nơi có hẳn dãy phố bán sách. Tuy nhiên trong giai đoạn
hiện nay với sự phát triển như vũ bão của CNTT, hay văn hoá đọc của người dân ta đã
được nâng cao, nhưng thời gian của người tiêu dùng không có nhiều để có thể bỏ ra cả vài
tiếng đồng hồ lược khắp các cửa hàng sách, các hiệu sách để lục lọi, tìm tòi, nghiên cứu
các đầu mục sách mà họ cần. Do đó ta có thể thấy việc đưa mặt hàng sách vào kinh doanh
online là một sự phù hợp. Khi khách hàng thực hiện mua sách, tìm sách trên các cửa hàng
kinh doanh sách online thì chỉ cần vài cú nhấp chuột, vài cái click là họ đã có thể có cho
mình một quyển sách ưng ý.
Riêng đối với các sản phẩm còn lại mà Vinabook cung cấp: phần mềm, đĩa nhạc, đĩa
phim và thẻ card ta có thể thấy đây là các mặt hàng số, một mặt hàng phù hợp hoàn toàn
với việc kinh doanh online.
3.1.3. Phân đoạn thị trường - lực chọn và định vị sản phẩm trong môi trường TMĐT.
Vinabook xây dựng mô hình kinh doanh theo kiểu B2C, cung ứng sản phẩm đến tận tay
người tiêu dùng cuối cùng. Với việc mục tiêu cung cấp cho khách hàng các sản phẩm tốt
nhất, giá cả tốt nhất, họ đã thực hiện việc liên kết với các nhà xuất bản, các nhà cung ứng
theo mô hình chuỗi cung cấp kéo, cung cấp cho khách hàng tời hàng ngàn các đầu sách có
chất lượng cao.
Thị trường mà Vinabook thực hiện kinh doanh bao gồm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tập
trung ở các thành phố lớn.
Đối tượng mục tiêu mà trang web Vinabook hướng tới là Việt Kiều và khách hàng là
người Việt Nam ở trong nước, là những nhân viên văn phòng có thu nhập trung bình khá,
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét