Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam trong hội nhập WTO

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Thế Giới, việc xuất khẩu
của các quốc gia có vai trò rất quan trọng. Việc hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt
Nam ngày càng quan trọng và cần thiết bởi nước ta vẫn là nước đang phát triển, có
hội nhập thì chúng ta mới phát triển được.
Với những điều kiện hết sức thuận lợi như nước ta hiện nay, việc phát triển xuất
khẩu các mặt hàng nông sản đang là một xu hướng tất yếu để góp phần nâng cao kim
ngạch xuất khẩu và sự phát triển của nền kinh tế, nhất là khi chúng ta đã là thành viên
chính thức của tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO).
Việc gia nhập WTO tạo nhiều thuận lợi cho việc xuất khẩu các mặt hàng của
Việt Nam nói chung và hàng nông sản nói riêng nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức
cho chúng ta.
Để có thể tận dụng hết lợi thế, cơ hội và vượt qua những thách thức, thì Việt
Nam phải có những hướng đi đúng đắn và có biện pháp thích hợp.
Ý thức được điều này, trong quá trình thực tập tại Viện Chính Sách và Chiến
Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn, và sự giúp đở của GS.TS Đặng Đình
Đào, em đã lựa chọn đề tài: Phương hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu
hàng nông sản của Việt Nam trong hội nhập WTO.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đở của GS.TS Đặng Đình Đào và Viện
Chính Sách và Chiến Lược Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn đã giúp đở em hoàn
thành đề tài này.
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
CỦA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP WTO
1. Hàng nông sản và vai trò của xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
1.1. Khái niệm hàng nông sản
Hàng nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì
nông nghiệp chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghịêp. Theo
nghĩa rộng thì nó còn bao gồm cả ngành lâm nghịêp và thủy sản.
1.2. Phân loại hàng nông sản
Các mặt hàng nông sản tạm thời được chia thành hai nhóm:
Nông sản nhiệt đới, chủ yếu từ các nước đang phát triển như: chè, cà phê, ca
cao, bông, chuối, xoài…
Nông sản ôn đới, chủ yếu từ các nước phát triển như: bột mỳ, ngô, thịt, sữa…
1.3. Đặc điểm của mặt hàng nông sản
Tính thời vụ: Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là một đặc thù
điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, vì một mặt quá trình sản xuất nông nghiệp
là qúa trình sản xuất kinh tế gắn liền với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt
động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp
nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Mặt khác do sự biến thiên về điều
kiện thời tiết, khí hậu mỗi loại cây trồng lại có sự thích ứng nhất định với điều kiện
đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau. Vì vậy mà hàng nông sản mang tính thời vụ
cao.
Tính khu vực: Sản xuất nông nghiệp đựơc tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức
tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Ở đâu có đất đai
và lao động là ở đó tiến hành sản xuất nông nghiệp. Nhưng mỗi vùng, mỗi quốc gia
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
có điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết rất khác nhau nên hoạt động sản xuất nông
nghiệp cũng khác nhau, sản phẩm nông nghiệp cũng khác nhau. Vì vậy sản phẩm
nông nghiệp mang tính khu vực rõ rệt.
Tính phân tán: Do đặc điểm sản xuất nông nghiệp mang tính khu vực cao, nên
hàng nông sản phân tán ở vùng nông thôn và trong tay hàng triệu nông dân đã trở
thành một trở ngại trong việc thu mua hàng nông sản của các doanh nghiệp.
Tính tươi sống: Hàng nông sản phần lớn là cơ thể sống cây trồng và vật nuôi.
Các loại cây trồng và vật nuôi phát sinh, phát triển theo quy luật sinh học. Do là cơ
thể sống nên chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về thời tiết,
khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả
thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Vì vậy hàng nông sản dễ bị hư hỏng, kém phẩm chất.
Tính không ổn định: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều
vào khí hậu, thời tiết nên sản phẩm hàng nông sản không ổn định, lên xuốn thất
thường, có nơi được mùa nhưng cũng có nơi mất mùa, chất lượng hàng nông sản
không đồng đều.
Các mặt hàng nông sản như: Gạo, cà phê, cao su, điều…là những hàng hoá thiết
yếu đối với đời sống và sản xuất của mỗi quốc gia, cho nên đa số các nước trên thế
giới đều trực tiếp hoạch định các chính sách can thiệp vào sản xuất, xuất khẩu lương
thực và nước nào cũng chú trọng chính sách dự trữ quốc gia và bảo hộ nông nghiệp.
Mặt hàng nông sản là mặt hàng chủ yếu của các nước chậm và đang phát triển, nó
chủ yếu được sản xuất và tiêu thụ trong nội địa là chính, có rất ít quốc gia có khả
năng xuất khẩu ra bên ngoài. Hàng nông sản là một trong những mặt hàng có tính
chiến lược, do vậy đại bộ phận buôn bán hàng nông sản quốc tế được thực hiện thông
qua hiệp định giữa các Nhà nước mang tính dài hạn.
Tình hình buôn bán, sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản phụ thuộc vào tính
thời vụ, mùa màng thu hoạch, phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thanh toán của
từng quốc gia nhập khẩu là chính, như: lạc, các nước nhập khẩu chủ yếu theo yêu cầu
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chất lượng quốc tế nhưng vẫn có một số quốc gia nhập khẩu lạc với chất lượng theo
sự chấp nhận của thị trường như: thị trường Singapore, indonexia…
1.4. Sự cần thiết phải xuất khẩu hàng nông sản và vai trò của xuất khẩu hàng
nông sản của Việt Nam
1.4.1. Sự cần thiết phải xuất khẩu hàng nông sản
1.4.1.1. Xuất khẩu là điều kiện để mở rộng quy mô xuất khẩu
Trong quá trình hội nhập kinh tế như hiện nay, đẩy mạnh hoạt động thương mại
quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng trong nền kinh tế mở là việc làm hết sức cần
thiết và cấp bách. Nó mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp và người tiêu
dùng trên thế giới. Nhờ xuất khẩu mà các doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản
xuất, từng bước tăng trưởng và phát triển, từ đó đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của thị
trường trong và ngoài nước với những đơn hàng có giá trị lớn, nó làm tăng kim ngạch
xuất khẩu hàng hoá, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Với sự biến động không ngừng của thị trường và nhu cầu, thị hiếu của người
tiêu dùng ngày càng tăng thì đây chính là cơ hội để các doanh nghiệp mở rộng thị
trường, đa dạng hoá các loại sản phẩm, tăng quy mô sản xuất, tăng thị phần và sự ảnh
hưởng của doanh nghiệp trên thị trường…do đó có thể giảm thiểu được các rủi ro có
thể xảy ra trong kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải tăng cường xuất khẩu
để thu lợi nhuận, tăng số vòng quay của vốn, tăng lượng thu ngoại tệ tù đó giúp
doanh nghiệp có điều kiện đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu, nhập về các máy móc,
công nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả sản xuất, thúc đẩy mạnh hơn nữa các hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4.1.2. Toàn cầu hóa và hội nhập cần phải tăng cường xuất khẩu
Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá và liên kết giữa các khu vực, các quốc gia với
nhau đang diễn ra mạnh mẽ, hội nhập và tự do hoá thương mại đang trở thành trào
lưu lôi cuốn nhiều nước tham gia. Trong xu thế đó, Việt Nam cũng đang tích cực
tham gia, nhưng những đóng góp của Việt Nam trên thị trường quốc tế còn nhỏ, vì
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vậy, xuất khẩu là việc làm cần thiết để nâng cao vị thế của ta trên thị trường quốc tế.
Toàn cầu hoá và hội nhập cho phép các doanh nghiệp được hưởng các chế độ, chính
sách ưu đãi của các nước dành cho Việt Nam khi gia nhập WTO, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp thâm nhập thị trường bên ngoài dễ dàng hơn.
Mặt khác, toàn cầu hoá và hội nhập còn giúp cho các doanh nghiệp có nhiều cơ
hội kinh doanh hơn, mở rộng quan hệ với các đối tác nước ngoài, học tập phong cách
quản lý, tiếp thu tiến bộ khoa học và công nghệ quản lý kinh doanh, xoá bỏ tu duy cũ,
tích luỹ nhiều kinh nghiệm qua đó giúp doanh nghiệp hình thành được tác phong kinh
doanh hiện đại. Vì vậy, khi thực hiện xuất khẩu, các doanh nghiệp cần phải tận dụng
triệt để các điều kiện thuận lợi mà toàn cầu hoá và hội nhập đem lại từ đó không
ngừng phát triển đi lên, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế.
1.4.1.3. Việt Nam có nhiều tiềm năng trong sản xuất và xuất khẩu hàng nông
sản
Với xuất phát điểm là một nước nông nghiệp nên đối với sản xuất và xuất khẩu
hàng nông sản, Việt Nam có tiềm năng rất lớn, thể hiện ở:
Về đất đai: tiềm năng đất nông nghiệp của nước ta khoảng 10-12 triệu ha, trong
đó gần 8 triệu ha cây trồng hàng năm và 4 triệu ha cây trồng lâu năm, diện tích đất
trồng lúa chiếm phấn lớn, khoảng 5.5 triệu ha. Hiện nay Việt Nam mới chỉ sử dụng
hết 65% quỹ đất nông nghiệp, còn lại là đồng cỏ tự nhiên và mặt nước.
Chất lượng đất ở Việt Nam có tầng dày, kết cấu tơi xốp, nhiều chất dinh dưỡng
cung cấp cho cây trồng, nhất là phù xa, đất xám, chủng loại đất cũng rất phong phú
với 64 loại thuộc 14 nhóm. Những điều kiện này kết hợp với nguồn nhiệt ẩm dồi dào
sẽ là điều kiện tốt để phát triển các loại cây trồng, thâm canh tăng vụ nếu chúng ta
biết khai thác một cách có khoa học và hợp lý.
Về khí hậu: khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa do ảnh hưởng khá
sâu sắc của chế độ gió mùa Châu Á. Khí hậu Việt Nam có tính đa dạng, phân biệt rõ
ràng từ bắc xuống nam, với mùa đông lạnh ở miền bắc và khí hậu kiểu Nam Á, ở Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Đây chính là điều kiện thuận
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lợi để Việt Nam đa dạng hoá các loại cây trồng nông nghiệp nhất là cây trồng nông
sản. Không những vậy, Việt Nam còn có tiềm năng nhiệt ẩm và gió khá dồi dào, phân
bố đồng đều trong nước, với độ ẩm trong năm thường cao hơn 80%, lượng mưa lớn
(trung bình từ 1800-2000mm/năm)…đây là điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng
và phát triển của các loại động thực vật, nhất là đối với một số loại cây trồng như:
lúa, cà phê, điều, cao su, chè…
Về nhân lực: với dân số hơn 85 triệu người, cơ cấu dân số trẻ và chủ yếu dân số
sống bằng nông nghiệp, có thể thấy Việt Nam có một lực lượng lao động dồi dào,
nhất là lao động phục vụ cho nông nghiệp. Bên cạnh đó, lao động Việt Nam có tính
cần cù, sáng tạo, có khả năng nắm bắt khoa học công nghệ nhanh chóng, có nhiều
kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Đây là những điều kiện thuận lợi cho Việt
Nam trở thành một nước có nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, hiện đại…cung cấp
khối lượng lớn các sản phẩm của ngành nông nghiệp nhất là nông sản cho tiêu dùng
và xuất khẩu.
Về các chính sách của nhà nước: ngoài những yếu tố thuận lợi trên, với quan
điểm của Đảng và Nhà nước, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chính vì vậy việc
sản xuất, chế biến và xuất khẩu hàng nông sản cũng rất được chú trọng. Nhà nước ưu
tiên đầu tư trong nước và nước ngoài cho sản xuất nông nghiệp nhất là đối với cây
trồng lâu năm như: cà phê, cao su…
Với những tiềm năng to lớn như vậy, triển vọng sản xuất và xuất khẩu hàng
nông sản Việt Nam hiện nay và trong tương lai có nhiều triển vọng.
Việc tăng cường xuất khẩu hàng nông sản sẽ giúp khai thác có hiệu quả các
tiềm lực sẵn có, tạo công ăn việc làm cho ngưởi lao động, tăng thu nhập cho người
dân góp phần xoá đói, giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.4.1.4. Nhu cầu về hàng nông sản trên thế giới có su hướng tăng
Theo đánh giá của tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc
(FAO), từ nay đến năm 2010 nhu cầu về hàng nông sản trên thế giới và Việt Nam sẽ
tăng lên nhanh chóng.
Trước hết, do thời tiết ngày càng xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn
do rét đậm, rét hại kéo dài, ảnh hưởng đến cây công nghiệp và cây lương thực…Như
ở Việt Nam, thời tiết xấu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiến độ gieo cấy lúa đông
xuân ở phía Bắc và duy trì phát triển đàn gia súc…nhất là vào cuối năm 2007 và
những tháng đầu năm 2008. Theo báo cáo của các địa phương và Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, tính đến 18/2/2008, toàn miền Bắc có trên 146 nghìn ha lúa bị
ảnh hưởng nặng, trong đó có 10 nghìn ha phải gieo trồng lại. Tổng số các loại vật
nuôi đã bị chết là 63 nghìn con, trong đó bê, nghé non chiếm 75%; bò, trâu già chiếm
25%. Ước tổng thiệt hại khoảng 400 tỷ đồng.
Thứ hai, do dân số thế giới đang tăng trưởng với tốc độ rất nhanh. Theo ước
tính năm 2006 của Cục dân số Liên Hiệp Quốc, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2.5 tỷ
người trong 43 năm tới, từ mức 6.7 tỷ người hiện nay tới 9.2 tỷ người vào năm 2050
với sự gia tăng đó chủ yếu diễn ra tại các nước đang phát triển. Dân số ở các nước ít
phát triển sẽ tăng từ 5.4 tỷ người trong năm 2007 lên 7.9 tỷ trong năm 2050. Dân số
của các nước nghèo như Afghanistan, Burundi, Congo, Guinea - Bissau, Liberia,
Niger, Đông Timor và Uganda dự đoán sẽ tăng ít nhất 3 lần vào giữa thế kỷ này.
Trong khi dân số thế giới ngày cáng tăng thì diện tích đất đai sử dụng cho nông
nghiệp ngày càng giảm cùng với quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa. Diện tích
đất nông nghiệp giảm sẽ làm cho sản lượng các mặt hàng nông nghiệp cũng giảm
theo, trong khi nhu cầu về lương thực, thực phẩm ngày càng tăng.
Thứ ba, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế trong nước và thế giới làm
cho nhu cầu tiêu dùng của người dân trong và ngoài nước tăng nên các mặt hàng
nông sản sẽ được tiêu thụ với khối lượng lớn như: gạo, đường, cà phê, điều, chè, hạt
tiêu…Cụ thể như sau:
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tổng mức tiêu dùng gạo thế giới năm 2007/08 dự báo sẽ đạt 423.93 triệu tấn,
điều chỉnh giảm 300 ngàn tấn so với dự báo hồi tháng 11/2007, song tăng 5.08 triệu
tấn so với mức tiêu dùng năm 2006/07, và sẽ là năm thứ 2 liên tiếp có mức tiêu dùng
cao hơn sản lượng. Trong đó, mức tiêu dùng của một số nước dự báo sẽ đạt (đơn vị:
triệu tấn): Bănglađét 29.80; Braxin 0.90: Myanmar 10.70; Cămpuchia 3.78; Trung
Quốc 129.10; Ai Cập 3.67; Ấn Độ 88.80; Inđônêxia 36.15; Iran 3.15; Nhật Bản 8.15;
Hàn Quốc 4.75; Nigêria 4.70; Philippin: 12.06; Thái Lan 9.60; Việt Nam 18.72; Mỹ
3.99.
Tổng sản lượng gạo toàn cầu năm 2007/08 dự báo đạt 420.48 triệu tấn, điều
chỉnh giảm 680 ngàn tấn so với dự báo hồi tháng 11/2007, song tăng 2.83 triệu tấn so
với sản lượng năm 2006/07. Trong đó, sản lượng (đơn vị: triệu tấn) của Bănglađét sẽ
đạt 28.50; Braxin 7.99; Myanmar 10.66; Cămpuchia 4.80; Trung Quốc 129.50; Ai
Cập 4.41; Ấn Độ 92.00; Inđônêxia 34.00; Nhật Bản 7.94; Hàn Quốc 4.50; Nigêria
3.00; Pakixtan 5.40; Philippin 10.01; Thái Lan 18.40; Việt Nam 23.26; Mỹ 6.33.
Tổng dự trữ gạo thế giới cuối niên vụ 2007/08 dự báo đạt 72.17 triệu tấn, giảm
so với 75.63 triệu tấn của cuối niên vụ 2006/07.
Tổng sản lượng đường thế giới năm 2007/08 theo dự báo của Bộ Nông nghiệp
Mỹ sẽ đạt 167.1 triệu tấn (qui đường thô), tăng 3.1 triệu tấn so với năm 2006/07.
Trong đó, sản lượng của Braxin sẽ đạt 32.1 triệu tấn, tăng 650 ngàn tấn; Ấn Độ 31.8
triệu tấn, tăng 1.1 triệu tấn; Trung Quốc 13.9 triệu tấn, tăng 1 triệu tấn; và Thái Lan
7.2 triệu tấn, tăng 480 ngàn tấn. Sản lượng của EU - 27 dự báo sẽ chỉ tăng 40 ngàn
tấn, đạt 17.49 triệu tấn.
Tổng mức tiêu dùng đường toàn cầu dự báo sẽ đạt 155 triệu tấn, tăng 5.6 triệu
tấn so với năm 2006/07.
Tổng xuất khẩu đường trên thế giới năm 2007/08 dự báo đạt 50.8 triệu tấn, tăng
1 triệu tấn so với năm 2006/07. Trong đó, xuất khẩu của Braxin sẽ đạt 20.6 triệu tấn,
giảm 250 ngàn tấn so với năm 2005/06 do giá tương đối thấp so với chi phí sản xuất,
phí vận chuyển cao, cạnh tranh của Ấn Độ tại thị trường Cận Đông và nhu cầu sản
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
xuất nhiên liệu sinh học (ethanol) ở trong nước cao. Xuất khẩu của Thái Lan sẽ đạt
5.3 triệu tấn, tăng 200 ngàn tấn; và xuất khẩu của Ấn Độ sẽ đạt 3 triệu tấn, tăng 1.2
triệu tấn so với năm 2006/07. Trong khi đó, xuất khẩu đường của Ôxtrâylia sẽ giảm
200 ngàn tấn trong năm 2007/08 đạt 3.7 triệu tấn.
Tổng dự trữ đường thế giới cuối niên vụ 2007/08 dự báo đạt 46.6 triệu tấn, tăng
5.1 triệu tấn so với cuối niên vụ 2006/07
Thứ tư, tình hình thế giới có nhiều biến động về chính trị,xã hội. Tình hình
xung đột vũ trang đang gia tăng ở nhiều nước, nhiều khu vực vẫn còn tình trạng đấu
tranh quyết liệt nhất là khu vục Trung Đông, nạn đói ở Châu Phi vẫn đang hoành
hành, do đó cần phải có một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm để dự trữ và viện
trợ cho những nước này. Đây chính là nguồn nhu cầu lớn đối với các nước xuất khẩu
nông sản.
1.4.2. Vai trò của xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam
1.4.2.1. Góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước (GDP)
Xuất khẩu các loại hàng hóa nói chung, xuất khẩu hàng nông sản nói riêng và
sự tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xuất khẩu đóng vai trò
quan trọng hàng đầu cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thể hiện ở chổ
nó chiếm phần lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu hút được nhiều ngoại tệ
về cho đất nước. Xuất khẩu có vai trò rất lớn trong tăng trưởng kinh tế của một quốc
gia.
Theo kinh tế học thì: GDP = C+I+G+(X-N)
Trong đó: C là chi tiêu của các hộ gia đình
I là đầu tư của các doanh nghiệp
G là chi tiêu của chính phủ
X là xuất khẩu
N là nhập khẩu
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khi mà hiệu số (X-N) tăng cao tức X tăng mạnh thì tổng sản phẩm trong nước
(GDP) tăng cao và ngược lại.
Nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, có vai
trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế. Xuất khẩu hàng nông sản càng lớn thì
càng làm cho GDP tăng cao, thể hiện được năng lực cạnh tranh của đất nước về xuất
khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng cao sẽ nâng cao tốc độ tăng trưởng
của nền kinh tế.
Theo báo cáo của chính phủ, giai đoạn 2002-2007 tất cả các nhiệm vụ phát triển
kinh tế đều được hoàn thành vượt mức đề ra, điểm nổi bật trong 5 năm qua là tăng
trưởng kinh tế găn kết chặt chẽ với ổn định kinh tế. Tốc độ tăng GDP bình quân
trong thời kỳ 2002 - 2007 là 7.8%, cả 3 lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và xây
dựng, dịch vụ đều đạt mức tăng trưởng cao, liên tục với tốc độ khá ổn định. Khu vực
nông nghiệp tăng trưởng cao, liên tục và đạt mức bình quân 5.4%/năm; sanư xuất
công nghiệp tăng khoảng 16.5%/năm; giá trị tăng thêm của ngành dịch vụ bình quân
7.4%/năm
1.4.2.2. Đối với tăng trưởng nông nghiệp
Chúng ta đều biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp, vấn đề sản xuất và xuất
khẩu hàng nông sản giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng nông nghiệp nói riêng
và tăng trưởng kinh tế nói chung. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nổi lên là
một nước xuất khẩu nông sản mạnh so với khu vực và thế giới, có những mặt hàng
Việt Nam còn được coi là đại gia như cà phê, gạo, hạt điều… Tuy nhiên, mức độ tác
động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp còn bấp bênh, chưa
tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Sản phẩm của nông nghiệp bao gồm nông sản, thủy sản và lâm sản, trong đó
nông sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy ta xem xét vai trò của xuất khẩu hàng nông
sản đối với tăng trưởng nông nghiệp qua các vấn đề sau :
Một là, xuất khẩu hàng nông sản tác động đến việc mở rộng quy mô sản xuất
nông nghiệp.
Lê Viết Hùng Lớp: Thương mại 46B
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét