Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh ngiệp tại VID Public chi nhánh hải phòng

Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
hoàn thiện sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp đầu vào cho kinh tế quốc
doanh. Sự kết hợp sản xuất - tiêu thụ giữa kinh tế quốc doanh và kinh tế
ngoài quốc doanh tạo ra một dây truyền mới của xã hội, giúp thời gian sản
xuất tiêu thụ đợc rút ngắn và sản phẩm sản xuất đợc hoàn thiện với chất lợng
ngày càng tốt hơn. Nh vậy, kinh tế ngoài quốc doanh phát triển sẽ buộc các
thành phần kinh tế phải luôn đổi mới tồn tại và phát triển, đồng thời cũng là
môi trờng thuận lợi để mở rộng hợp tác kinh tế với nớc ngoài.
Thứ t: Kinh tế ngoài quốc doanh là thị trờng để ngân hàng huy động
vốn, góp phần ổn định lu thông tiền tệ. Kinh tế ngoài quốc doanh đã phát
triển nhanh chóng cả về quy mô lẫn chất lợng. Tính đến tháng 12/1997 cả n-
ớc có khoảng 32.435 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với số vốn pháp định là
14.279 tỷ đồng. Hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động dới hình thức
doanh nghiệp t nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần các nhà sản xuất đều
mở tài khoản tiền gửi tại hệ thống ngân hàng thơng mại. Đây có thể là nguồn
vốn rẻ và dồi dào cho việc huy động vốn nếu ngân hàng biết tổ chức tốt công
tác thanh toán, thay đổi phong cách làm việc với khách hàng. Hơn nữa, phát
triển sản xuất, củng cố lu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền là tiền đề
để thu hút lợng tiền mặt vào ngân hàng, đây là cơ sở lu thông tiền tệ, kiềm
chế lạm phát. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển là điều kiện để phát triển
qũy hàng hoá trên thị trờng, góp phần xích lại gần các mối quan hệ cung cầu
hàng hoá và dịch vụ.
1.1.2. Những đặc điểm chủ yếu của thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh ở nớc ta.
Nền kinh tế thị trờng dới sự điều tiết của Nhà nớc là cơ sở và môi tr-
ờng thuận lợi cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển. Sau hơn mời
năm hình thành và phát triển, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có những
đóng góp đáng kể cho nền kinh tế, đóng góp vào GDP, thu hút lực lợng lao
động, tạo nhiều việc làm cho xã hội. Qua quá trình hình thành và phát triển
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã thể hiện những đặc điểm chung nh
sau:
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
Khả năng tài chính nhỏ bé hạn hẹp
Mặc dù đợc khuyến khích để có thể tận dụng các nguồn lực nhàn rỗi
trong nền kinh tế, song khối lợng vốn đợc huy động vào sản xuất kinh doanh
của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn còn ít ỏi. Ngoài ra, khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh cha phát triển qua nhiều giai đoạn thăng trầm,
không có quá trình tích tụ và tập trung vốn, cha đủ uy tín, thời gian và cha có
chính sách huy động vốn phù hợp, nên khả năng tài chính còn nhỏ bé và
thiếu so với yêu cầu để tồn tại và phát triển.
Trình độ công nghệ sản xuất lạc hậu
Đặc điểm này không chỉ có ở kinh tế ngoài quốc doanh mà nó tồn tại ở
hầu hết mọi thành phần kinh tế do đặc điểm chung của nền kinh tế nớc ta là
chậm phát triển và lạc hậu. Công nghệ lạc hậu là nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến hàng hoá của nớc ta thiếu tính cạnh tranh. Công nghệ lạc hậu tác động
đến mọi yếu tố cấu thành nên một sản phẩm hàng hoá nh : chất lợng kém,
mẫu mã xấu, giá cả cao vì thế hàng hoá ít có sức cạnh tranh. Mặc dù kinh tế
ngoài quốc doanh có u điểm là linh hoạt, nhanh nhạy và khả năng thích ứng
với thời cuộc cao nhng lại hạn chế nguồn vốn nên rốt cuộc vẫn chậm trong
việc tiếp thu, cải tiến công nghệ mới, hiện đại để có thể đáp ứng đợc yêu cầu
của cạnh tranh trên thị trờng.
Môi trờng sản xuất kinh doanh không thuận lợi, thị trờng tiêu thụ sản
phẩm nhỏ bé bấp bênh
Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh mặc dù đã phần nào khẳng định
đợc vị trí của mình trong nền kinh tế nhng nhìn chung các chế độ chính sách
vẫn thiếu công bằng với thành phần này, nhiều khi các chính sách của Nhà n-
ớc còn làm hạn chế, cản trở sự phát triển. Bên cạnh đó, do thừa hởng lề thói
làm việc trong cơ chế cũ quan liêu, bao cấp nên phần nào cũng làm ảnh hởng
đến tiến độ sản xuất kinh doanh mà điều này không chỉ xảy ra với doanh
nghiệp ngoài quốc doanh mà cả với doanh nghiệp quốc doanh. Môi trờng
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
kinh doanh không thuận lợi đã tạo ra sự phát triển không đồng đều ở khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh. Một số doanh nghiệp, ngành hàng ( nh thơng mại,
dịch vụ ) do có ảnh h ởng làm ăn nên đều bung ra chiếm tới 60% trong tổng
số đầu t vào các ngành, còn các ngành khác thì lại phát triển rất khó khó
khăn do không có cơ sở, môi trờng thuận lợi.
Một vấn đề khác mà nhà sản xuất kinh doanh nào cũng quan tâm đó là
vấn đề tiêu thụ sản phẩm. Thị trờng ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có
đặc điểm nổi bật nên đó là một thị trờng tiêu thụ sản phẩm rất bấp bênh. Do
đầu t vốn ít, công nghệ kém, nên sản phẩm khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
sản xuất ra có tính cạnh tranh kém, khó tiêu thụ. Ngoại trừ một số mặt hàng
truyền thống, có uy tín thì khả năng khai thác thị trờng lại rất nhỏ, phải cạnh
tranh với hàng ngoại và cả các mặt hàng nhập lậu trốn thuế là cả một vấn đề
làm đau đầu các nhà doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong quá trình tồn tại
và phát triển.
Trình độ quản lý kinh doanh yếu kém, năng lực của ngời lao động cha
cao
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trờng là một vấn đề phức tạp
đòi hỏi ngời quản lý không những phải có trình độ mà phải có kinh nghiệm
dày dạn. Vấn đề này là rất khó đáp ứng đối với thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh vì hầu hết các loại hình sản xuất kinh doanh phát triển theo hớng
tự nhiên, không có chiến lợc, quy mô rõ ràng mà chỉ thấy lợi là làm. Điều
này làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh thờng không ổn định. Cán bộ
lãnh đạo ở khu vực này thờng không có kiến thức về kinh tế thị trờng mà chủ
yếu hoạt động dựa trên kinh nghiệm, công tác hoạt động không thực hiện
nghiêm túc chế độ kế toán, sổ sách nên nhiều khi hoạt động thua lỗ mà vẫn
không biết.
Thêm vào đó, đội ngũ lao động trong khu vực này nói riêng và trong
toàn bộ nền kinh tế nói chung đều có kỹ năng thấp và rất ít có đợc qua đào
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
tạo. Điều này cũng là một đặc điểm chung của đội ngũ lao động nớc ta và
cũng ảnh hởng không nhỏ đến kết quả sản xuất kinh doanh.
1.2. Tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh
Để hiểu đợc vai trò to lớn của tín dụng ngân hàng đối với khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh, chúng ta cần hiểu về tín dụng ngân hàng và những vấn
đề cơ bản của tín dụng ngân hàng nh nguyên tắc tín dụng, quy trình tín dụng,
hình thức tín dụng
1.2.1 Khái quát chung về tín dụng ngân hàng
Trong lịch sử tín dụng, quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triển
qua các hình thức: tín dụng nặng lãi, tín dụng thơng mại và tín dụng ngân
hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển
quyền sử dụng tạm thời một lợng vốn giữa ngân hàng với khách hàng
trong một thời gian nhất định và sau thời gian đó lợng vốn đợc hoàn trả
có cộng thêm một phần lãi trên lợng vốn theo một lãi suất nhất định.
Tín dụng ngân hàng là hình thức chủ yếu trong nền kinh tế thị trờng,
nó đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế một cách linh hoạt, kịp thời, khắc
phục đợc các nhợc điểm của các hình thức tín dụng khác trong lịch sử.
1.2.1.1 Nguyên tắc tín dụng
Khi cho vay các tổ chức tín dụng phải tuân theo các nguyên tắc sau:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả .
Tiền vay phải đợc hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả
thuận trong hợp đồng tín dụng.
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
1.2.1.2.Thời hạn cho vay
Thời hạn cho vay là khoản thời gian mà khách hàng vay đợc quyền sử
dụng vốn vay, nó đợc tính từ khi ngân hàng cho rút khoản tiền vay đầu tiên
cho đến khi hoàn trả hết nợ cho Ngân hàng bao gồm cả vốn gốc và tiền lãi.
* Các loại thời hạn cho vay
- Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn vay của khách hàng.
+ Tín dụng ngắn hạn là loại có thời hạn không quá 12 tháng.
+ Tín dụng trung hạn là loại có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60
tháng ( 5 năm )
+ Tín dụng dài hạn là loại có thời hạn trên 60 tháng
- Căn cứ vào công tác quản lý tín dụng.
+ Thời hạn cho vay chung gồm thời hạn nhận tiền vay hay thời
hạn giải ngân, thời hạn u đãi và thời hạn trả nợ hay thời hạn thu hồi nợ.
+ Thời hạn trung bình : Thời hạn trung bình của một khoản vay
là khoảng thời gian mà toàn bộ số tiền vay thực tế đợc sử dụng.
1.2.1.3 Phơng pháp cho vay
Ngân hàng Thơng mại thoả thuận với khách hàng về phơng pháp cho
vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năng kiểm tra, giám sát việc
khách hàng sử dụng vốn vay.
Ngân hàng thờng áp dụng các phơng pháp cho vay sau :
- Cho vay từng lần : Là mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng phải
làm các thủ tục cần thiết để xác định mức tiền cho vay của lần đó và ký kết
hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng : Là phơng pháp cho vay mà Ngân
hàng và khách hàng sẽ xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng để duy
trì trong một thời hạn nhất định.
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
1.2.1.4 Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, kỹ thuật nghiệp vụ cơ
bản, các bớc tiến hành phải từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một món vay.
Thông thờng, để đảm bảo hiệu quả tín dụng thì quy trình tín dụng phải
tuân theo các bớc sau:
Khai thác khách hàng, tìm kiếm dự án.
Hớng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn.
Phân tích, thẩm định khách hàng và phơng án vay vốn.
Quyết định cho vay thông báo đến khách hàng.
Kiểm tra, hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản thế chấp, cầm
cố, bảo lãnh.
Kiểm soát trong khi cho vay, phát tiền vay.
Giám sát khách hàng sử dụng vốn vay, theo dõi hoạt động của dự án.
Thu hồi nợ, xử lý nợ.
Thanh lý hợp đồng tín dụng.
1.2.2 Vai trò của Tín dụngngân hàng đối với khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh
Tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất to lớn trong sự nghiệp phát triển
kinh tế xã hội nói chung và kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng. Nó đã đóng
vai trò quan trọng từ buổi sơ khai đến mô hình ngân hàng hiện đại ngày nay
nh Marx viết một ngân hàng là sự tập trung t bản tiền tệ của những ngời có
tiền cho vay, mặt khác nó là sự tập trung các ngời đi vay. Tín dụng ngân
hàng góp phần làm giảm số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy sự mở rộng mối quan hệ giao lu kinh
tế quốc tế, có tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy cạnh tranh
trong nền kinh tế thị trờng. Nó cũng góp phần to lớn trong việc thực hiện
chiến lợc phát triển kinh tế chống lạm phát tiền tệ và góp phần thu hẹp
khoảng cách giàu nghèo. Còn đối với kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, tín
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
dụng ngân hàng có vai trò to lớn trong việc duy trì, thúc đẩy sự phát triển của
khu vực kinh tế này.
Trong lịch sử phát triển của mình, để khai thác đợc vốn, khu vực kinh
tế ngoài quốc doanh dựa vào ba nguồn chủ yếu đó là vốn tự có, thông qua thị
trờng tài chính ngầm và thông qua tín dụng ngân hàng. Thực tế, với số vốn
nhỏ bé của mình kinh tế ngoài quốc doanh không thể tự mình đổi mới thiết bị
công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, đầu t vào những lĩnh vực ngành nghề
đang đợc thị trờng a chuộng. Còn thông qua thị trờng tài chính ngầm thì rủi
ro lại rất lớn.Vậy muốn phát triển kinh tế ngoài quốc doanh chỉ có thể dựa
vào nguồn vốn ngân hàng. Ngân hàng là nơi cung cấp nguồn vốn dồi dào và
an toàn nhất.
Tín dụng ngân hàng với đặc điểm của mình là buộc ngời vay phải trả
lãi và gốc trong một thời gian nhất định nào đó đã buộc ngời kinh doanh phải
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Ngời vay phải tính toán chi phí sản xuất, tốc
độ quay vòng vốn để cho khi hết thời hạn quay vòng vốn có đủ vốn và lãi để
trả ngân hàng và phần lợi nhuận cho mình. Với điều kiện ràng buộc về lãi
suất, thời hạn và mục đích khi vay, ngời đi vay hiểu rõ trách nhiệm của họ
trong việc sử dụng vốn vay và từ đó anh ta phải thúc đẩy sản xuất kinh doanh
sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Hay nói cách khác tín dụng ngân hàng đã góp
phần thúc đẩy việc hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn.
Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện nâng cao sức cạnh tranh cho khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh. Ngân hàng cấp tín dụng cho ngời đi vay có đủ
vốn cần thiết để đổi mới trang thiết bị, nâng cao kỹ thuật, đổi mới công nghệ
sản xuất, tìm hiểu thị trờng, nâng cao trình độ công nhân viên, cải tiến mẫu
mã nâng cao chất lợng sản phẩm, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản
phẩm để tạo ra một sự cạnh tranh mới cho khu vực kinh tế này.
Qua hoạt động tín dụng, ngân hàng đã tăng cờng khuyến khích
doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích hạn chế đợc hiện tợng kinh doanh
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
bất hợp pháp, góp phần ổn định thị trờng, đảm bảo quyền lợi cho ngời tiêu
dùng.
Mối quan hệ rộng rãi của ngân hàng đối với các đơn vị kinh tế trong
hầu hết các ngành, các lĩnh vực thông qua việc cấp tín dụng của ngân hàng
đã tạo ra cho ngân hàng có đợc một hệ thống thông tin phong phú, các chỉ số
hoạt động của các đơn vị kinh tế, tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Đây
là hình thức có thể tham mu tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp, tránh đợc các rủi ro trong kinh doanh.
Quá trình cấp tín dụng của ngân hàng không phải rải đều cho tất cả
các chủ thể có nhu cầu mà chủ yếu tập trung cho những khách hàng làm ăn
có hiệu quả nhằm tránh rủi ro cho ngân hàng. Đây là động lực thúc đẩy khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh luôn cố gắng làm ăn có hiệu quả hơn.
Tín dụng ngân hàng đảm bảo cho quá trình hoạt động của khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh diễn ra liên tục và thuận lợi. Nếu nh trong quá trình
sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu vốn thì có thể
kêu gọi sự trợ giúp của nhà nớc nên quá trình sản xuất kinh doanh không bị
ngừng lại, còn đối với khu vực ngoài quốc doanh khi khó khăn về vốn thì họ
có thể tìm đến ngân hàng xin cấp tín dụng để đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh đợc liên tục.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hởng đến việc mở rộng cho vay đối với kinh
tế ngoài quốc doanh của các Ngân hàng thơng mại.
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan.
Nhân tố kinh tế.
Chúng ta biết rằng nền kinh tế là một thực thể gồm nhiều hoạt động
kinh tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau. Bất kỳ một sự biến động
nào đó ở một hoạt động kinh tế nhất định cũng sẽ ảnh hởng đến kinh doanh
của các lĩnh vực còn lại. Hơn nữa, hoạt động của các ngân hàng thơng mại có
thể đợc coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, vì
vậy sự ổn định hay bất ổn định của kinh doanh tiền tệ sẽ ảnh hởng một cách
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
trực tiếp tới hoạt động khác của nền kinh tế. Các nhân tố tác động trực tiếp và
thờng xuyên đến hoạt động ngân hàng bao gồm: lạm phát, khủng hoảng, thất
nghiệp, vốn đầu t nớc ngoài, sự tăng trởng của nền kinh tế
Môi trờng kinh tế là môi trờng sống của cả doanh nghiệp và ngân
hàng. Mọi hoạt động kinh doanh của cả hai chủ thể này đều bị ảnh hởng rất
lớn về môi trờng kinh tế. Môi trờng kinh tế luôn luôn biến động, nó bao gồm
các yếu tố nh giá cả, cung, cầu Đối với ngân hàng sự thay đổi của những
yếu tố nh lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung và cầu tiền tệ thờng gây nên cho
ngân hàng những yếu tố bất ngờ có thể dẫn đến lợi nhuận lớn hơn dự định
nhng cũng có thể gây thua lỗ trầm trọng. Môi trờng kinh tế ảnh hởng đến giá
trị đồng tiền, sự giảm sút giá trị của đồng tiền chính là hao mòn vô hình của
nó. Nguyên tắc cho vay của ngân hàng là bỏ ra một lợng tiền nhất định để
sau một thời gian nhất định sẽ nhận đợc một lợng tiền lớn hơn.Tuy nhiên sự
chênh lệch giữa lợng tiền mà Ngân hàng thu đợc với lợng tiền mà ngân hàng
bỏ ra chỉ phản ánh sự lớn hơn về lợng, còn về giá trị thực có tăng lên hay
không còn phụ thuộc vào sự biến động giá trị của đồng tiền trong thời gian
cấp tín dụng. Ngoài ra chu kỳ kinh tế cũng ảnh hởng tới nhu cầu tín dụng đối
với ngân hàng. Trong thời kỳ hng thịnh, nhu cầu sản xuất gia tăng và gắn với
nó nhu cầu vốn cũng gia tăng, vòng quay vốn và hiệu quả sử dụng vốn cũng
tăng. Nhng trong thời kỳ suy thoái, các hoạt động kinh tế lâm vào trạng thái
trì trệ, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp và nh vậy nhu cầu vốn cũng giảm
nhanh chóng. Cũng tơng tự nh vậy, sự biến động của thị trờng về những yếu
tố giá cả hàng hoá, dịch vụ, thị hiếu sự cạnh tranh cũng tác động đến kết
quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp
ngoài quốc doanh của ta hiện nay chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
nên dễ chịu sự tác động của các biến cố trên thị trờng. Kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp ảnh hởng tới việc doanh nghiệp có điều kiện để trả nợ ngân
hàng có đúng hạn hay không.
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01
Luận văn tốt nghiệp Khoa Ngân hàng Bảo hiểm
Nh vậy, những tác động của thị trờng tới hoạt động kinh tế nói chung
và quy mô, hiệu quả cho vay nói riêng là rất lớn và khó có thể lờng trớc đợc,
vì thế rất cần những biện pháp dự đoán để đề phòng và chống rủi ro thị trờng.
Nhân tố xã hội.
Các nhân tố xã hội ảnh hởng trực tiếp đến các tác nhân chính tham gia
vào quan hệ tín dụng nói chung của ngân hàng thơng mại dựa trên cơ sở tín
nhiệm lẫn nhau vì vậy uy tín là tiền đề quan trọng trong quan hệ này. Đối với
khách hàng nào hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có uy tín với ngân hàng
thì đợc u đãi trong quan hệ tín dụng. Nếu ngân hàng nào hoạt động an toàn,
hiệu quả, nhanh chóng, đáp ứng đợc sự nhu cầu đa dạng của khách hàng thì
sẽ đợc khách hành lựa chọn tin cậy, tiếng dữ đồn xa, tiếng lành đồn xa,
niềm tin tởng lẫn nhau trong quan hệ sẽ là cơ sở để mở rộng quan hệ của
mình với những đối tợng khác trong nền kinh tế. Sự thay đổi của những yếu
tố ảnh hởng đến quá trình sản xuất kinh doanh và từ đó ảnh hởng đến nhu
cầu vay vốn và kết quả thu nợ của ngân hàng thực hiện cho vay.
Nhân tố pháp lý.
Trong nền kinh tế thị trờng mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự
chủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhng phải đảm bảo trong khuôn khổ
pháp luật. Trong kinh doanh ngân hàng cũng thế, nhân tố pháp lý có tác động
trực tiếp đến mọi hoạt động của ngân hàng, các nhân tố pháp lý ở đây bao
gồm hệ thống pháp luật đồng bộ, các văn bản pháp quy về việc chấp hành,
tôn trọng pháp luật của các chủ thể. Thực tế , pháp luật đã trở thành một bộ
phận không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp và của cả đời sống xã hội. Nếu không có pháp luật hoặc pháp luật
không phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thì mọi hoạt động trong nền kinh
tế sẽ không thể tiến hành trôi chảy. Vì vậy pháp luật trong kinh doanh của
các doanh nghiệp là rất quan trọng. Nó càng quan trọng hơn trong hoạt động
kinh doanh đầy những rủi ro của ngân hàng nếu nh không có một hành lang
Sinh viên :Đào Minh Ngọc - 38-15.01

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét