Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
LỜI MỞ ĐẦU
Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, vốn là một nhân tố không thể không
được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần có vốn hơn
nhiều hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ cần phải có cả vốn
từ nước ngoài, trong đó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
FDI được xem như chiếc chìa khoá của sự tăng trưởng kinh tế. Nó đã và đang
đóng góp một vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát
triển trên thế giới. Tại các quốc gia có chính sách đầu tư nước ngoài hợp lý, FDI
không chỉ làm tăng cung về vốn đầu tư mà còn có vai trò thúc đẩy chuyển giao công
nghệ, đặc biệt là thúc đẩy quá trình tích tụ vốn con người - một nhân tố thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế trong dài hạn.
Khu vực FDI đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội (KT- XH),
FDI góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH- HĐH), tăng năng lực sản xuất, mở ra nhiều ngành
nghề sản phẩm mới, tạo việc làm và quan trọng hơn là đào tạo và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực. FDI góp phần phát triển quan hệ đối ngoại và chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế,mở rộng quy mô và thị trường xuất khẩu. Tạo điều kiện để tiếp
thu, đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ trong sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh và
học tập kinh nghiệm quản lý.
Điều này càng khẳng định sự lợi ích của FDI trong sự phát triển kinh tế, đặc
biệt là tại các quốc gia đang vươn mình cố gắng đạt đến giai đoạn cất cánh về kinh tế.
Việt Nam là một những trường hợp điển hình hiện nay đang cố gắng bắt kịp các
quốc gia lân cận trong vùng Đông Nam Á.
Trong quy hoạch tổng thể phát triển KT- XH của Hải Phòng đến năm 2010,
kinh tế đối ngoại luôn được xem là lĩnh vực kinh tế động lực của thành phố. Trong
đó hoạt động đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng, là động lực để thúc
đẩy phát triển KT- XH của thành phố theo định hướng CNH – HĐH.
So với nhiều địa phương khác trong cả nước, Hải Phòng có lợi thế đặc biệt về vị
trí địa lý với vai trò là một trong những cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ, là cảng biển quốc tế lớn nhất Miền Bắc và thứ hai cả nước (sau Thành Phố
Hồ Chí Minh), là đầu mối giao thông của các tuyến đường bộ, đường thủy, đường
hàng không, đường sắt, là trung tâm thương mại du lịch lớn của Việt Nam, có hệ
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
thống thông tin liên lạc hiện đại, dân số trẻ với lực lượng lao động dồi dào… Chính
những lợi thế này giúp Hải Phòng là một trong những địa phương sớm nhất của Miền
Bắc xây dựng được khu công nghiệp (KCN) tập trung và có quy mô lớn để thu hút
các nhà đầu tư nước ngoài.
Những năm gần đây, Thành Phố Hải Phòng luôn đứng trong “top” các tỉnh -
thành phố thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao nhất cả nước. Đầu tư trực tiếp
nước ngoài đem lại tốc độ phát triển nhanh cho nền kinh tế thành phố. Hải Phòng cần
thu hút FDI không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng. Với kết quả đạt được trong
thu hút FDI thời gian qua mở ra cho thành phố khả năng, triển vọng lớn trong tương
lai về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Xuất phát từ tình hình thực tiễn nói trên
cùng với triển vọng phát triển của thành phố trong tương lai, em đã lựa chọn đề tài:
“Góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành phố Hải Phòng”. Nội dung của chuyên
đề gồm 3 chương: Chương I giới thiệu tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và
môi trường đầu tư. Chương II phân tích thực trạng thu hút vốn FDI theo đối tác, theo
hình thức đầu tư, theo ngành, lĩnh vực và thực trạng môi trường đầu tư ở thành phố
Hải Phòng từ đó đánh giá được những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn
chế và nguyên nhân. Trên cơ sở nguyên nhân của những tồn tại hạn chế và cơ hội,
thách thức, mục tiêu của thành phố trong thời gian tới cũng như giải pháp chung của
nhà nước và thành phố, chương III sẽ đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện
môi trường đầu tư nhằm đẩy mạnh hoạt động thu hút FDI vào thành phố.
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
Chương I: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài và
môi trường đầu tư.
1.1. Những lý luận cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm cơ bản của đầu tư
a. Khái niệm về đầu tư:
Cho đến nay, đầu tư không còn là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là
với những người hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này
lại được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Có người cho rằng đầu tư là phải bỏ một cái gì
đó vào một hoạt động nhất định nhằm thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng
không ít người lại quan niệm đầu tư là các hoạt động sản xuất kinh doanh để thu lợi
nhuận. Thậm chí thuật ngữ này còn được sử dụng rộng rãi như câu cửa miệng để nói lên
chi phí về thời gian, sức lực và tiền bạc vào mọi hoạt động của con người trong cuộc
sống.
Theo Jonh Marnad Keynes: “Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến
hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính để thu lợi nhuận. Đầu tư, theo cách
dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua một tài sản tại sở giao dịch chứng
khoán”. Trong khái niệm của mình ông đã nói đến mua tài sản tài chính, song chủ yếu
tập trung vào khái niệm đầu tư tạo thêm tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng…), kéo theo các hoạt động khác, tạo thêm việc làm mới để thu về một khoản lợi
nhuận trong tương lai, “khi một người mua hoặc đầu tư một tài sản, người đó mua quyền
để được thu một loạt các khoản lợi tức trong tương lai mà người đó hy vọng dành được
qua việc bán tài sản cố định làm ra…”. Theo quan niệm của ông: kết quả đầu tư về hình
thái vật chất là tăng thêm tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu
được lớn hơn chi phí bỏ ra.
Còn theo P.A.Samuelson: đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các
dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục,
nâng cao chất lượng nhân lực, nghiên cứu, phát minh… Đối với ông thuật ngữ tài chính,
đầu tư mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, dùng đầu tư để chỉ một loại chứng khoán…
hay nói cách khác, đó không phải là đầu tư thực sự của nền kinh tế. Trên góc độ làm
tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là “hoạt động kinh tế từ bỏ tiêu dùng hôm
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
nay với tầm nhìn để tăng sản lượng cho tương lai”. Trên góc độ rủi ro của đầu tư, đầu tư
được hiểu là “canh bạc của tương lai” với niềm tin, kì vọng thu nhập do đầu tư đem lại
sẽ cao hơn chi phí đầu tư. Các vấn đề mà Samuelson nêu ra trong các cách tiếp cận về
đầu tư đã cho biết đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hôm nay để có thu nhập cao hơn trong
tương lai và đó là quá trình chứa đựng những rủi ro. Ngoài ra, ông cũng xác định các
dạng chính của đầu tư, trong đó có cả hoạt động đầu tư cho khoa học, kỹ thuật và phát
triển con người. Như vậy, có thể nói khái niệm về đầu tư mà P.A.Samuelson đưa ra là
khái niệm tương đối đầy đủ.
Tóm lại, có nhiều những quan niệm khác nhau về đầu tư nhưng có thể coi khái
niệm sau đây là đầy đủ nhất: đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn
hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các
kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải bỏ ra khi tiến
hành đầu tư. Kết quả đầu tư là năng lực sản xuất mới tăng thêm, tài sản cố định mới
được đưa vào sử dụng, số lượng và chất lượng nhân lực tăng thêm, tiềm lực khoa học,
công nghệ được tích lũy…
b. Đặc điểm của đầu tư:
Có ba đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động đầu tư với các hoạt động khác là
hoạt động đầu tư có sử dụng vốn, có sinh lời và có rủi ro.
* Có sử dụng vốn:
Vốn là nguồn lực không thể thiếu trong các hoạt động kinh doanh., sản xuất của
các nhà đầu tư. Vốn đầu tư có thể tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau mà chủ yếu là 3
hình thái: tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc, thiết bị, hàng hóa, nguyên vật liệu
v.v…), tài sản vô hình (bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật, bí quyết kinh doanh,
nhãn hiệu, quyền sử dụng đất…), tài sản tài chính (tiền, cổ phiếu, hối phiếu, trái phiếu,
các giấy tờ có giá khác ).
* Có sinh lời: lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội
Người ta không thể bỏ ra một số lượng tài sản mà lại không dự tính thu được giá trị
cao hơn giá trị ban đầu. Lợi nhuận là chênh lệch giữa thu nhập mà hoạt động đầu tư đem
lại cho chủ đầu tư với chi phí mà chủ đầu tư phải bỏ ra để tiến hành hoạt động đầu tư đó.
Lợi ích kinh tế xã hội là chênh lệch giữa những gì mà xã hội thu được với những gì mà
xã hội mất đi từ hoạt động đầu tư. Lợi ích kinh tế xã hội được đánh giá qua các chỉ tiêu
định tính và các chỉ tiêu định lượng. Thông thường, tư nhân và doanh nghiệp theo đuổi
mục tiêu lợi nhuận; còn chính phủ theo đuổi mục tiêu lợi ích kinh tế xã hội.
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
* Có rủi ro:
Hoạt động đầu tư thường diễn ra trong thời gian dài vì vậy nó có tính rủi ro. Thời
gian càng dài mức độ rủi ro càng cao. Ngoài ra, trình độ quản lý của nhà đầu tư và thực
trạng nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến mức độ rủi ro.
1.1.1.2. Khái niệm, đặc điểm cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) tuy không còn là
hình thức quá mới mẻ ở Việt Nam nhưng để đưa ra một khái niệm tổng quát về FDI
cũng không phải là dễ. Xuất phát từ nhiều khía cạnh, góc độ, quan điểm khác nhau trên
thế giới đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về FDI.
Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Monetary Fund), đầu tư trực tiếp
nước ngoài là một công cuộc đàu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư
trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một
doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác.
Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI.
Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa: đầu tư trực tiếp nước ngoài là người sở hữu tại
nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác. Đó là một khoản tiền
mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối
với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy.
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: một doanh nghiệp
đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp
nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền
biểu quyết.
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) lại đưa ra định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước( nước chủ đầu tư) có
được một tài sản ở một nước khác( nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản
đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương Mại và phát triển (UNCTAD) cũng đưa ra
một khái niệm về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp( trực tiếp
hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư nước ngoài cho các doanh
nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp
FDI.
Còn luật đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào đó được chính phủ Việt Nam chấp thuận để
hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này.
Luật đầu tư 2005 không có định nghĩa cụ thể về đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng
theo khoản 2 và khoản 12 điều 3 định nghĩa:
• “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham
gia quản lý hoạt động đầu tư”.
• “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn
bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư”.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc
gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào
quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể
kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình. Như vậy, FDI bao giờ
cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài.
b. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Tìm kiếm lợi nhuận: do chủ thể là tư nhân nên tìm kiếm lợi nhuận được coi là
mục đích ưu tiên hàng đầu của hoạt động FDI. Do đó, các nước nhận đầu tư, nhất là các
nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho
mình một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng
FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình
trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư.
- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một tỷ lệ vốn tối thiểu trong vốn pháp
định hoặc vốn điều lệ tuỳ theo quy định của luật pháp từng nước để giành quyền kiểm
soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là
10%, Pháp và Anh là 20%, Việt Nam theo luật hiện hành là 30% còn theo qui định của
OECD (1996) thì tỷ lệ này là 10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh
nghiệp - mức được công nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản
lý doanh nghiệp. Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy
định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời đây cũng là căn cứ để phân chia lợi nhuận
và rủi ro. Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, trong doanh nghiệp liên doanh, các
bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần
vốn góp vào vào vốn pháp định của liên doanh.
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi
tức.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư,
hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, tự đưa
ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính khả thi và hiệu
quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần
cho nền kinh tế nước nhận đầu tư.
- FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư.
Thông qua hoạt động FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kĩ thuật tiên
tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý. Ví dụ trong lĩnh vực bưu chính viễn thông của Việt
Nam, hầu hết công nghệ mới trong lĩnh vực này có được nhờ chuyển giao công nghệ từ
nước ngoài.
* Tóm lại:
- Điểm quan trọng để phân biệt FDI với các hình thức khác là quyền kiểm soát,
quyền quản lý đối tượng tiếp nhận đầu tư.
- Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì ưu điểm của hình thức này là tính ổn định và
hiệu quả sử dụng vốn của FDI cao hơn các hình thức khác do nhà đầu tư trực tiếp sử
dụng vốn. Nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn để chuyển sang các hình thức đầu tư khác
nếu thấy sự bất ổn của nền kinh tế nước nhận đầu tư. Do đó mức độ ổn định của dòng
vốn đầu tư đối với nước tiếp nhận đầu tư cao hơn. Nhược điểm là nước nhận đầu tư bị
phụ thuộc vào kinh tế ở khu vực FDI.
- Đối với nhà đầu tư: Chủ động nên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư,
lợi nhuận thu về cao hơn. Có thể chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm, khai thác
nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và những lợi thế khác của nước nhận đầu tư, tranh
thủ những ưu đãi từ các nước nhận đầu tư. Tuy nhiên hình thức này mang tính rủi ro cao
vì nhà đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về dự án đầu tư. Hoạt động đầu tư chịu sự điều
chỉnh từ phía nước nhận đầu tư. Không dễ dàng thu hồi và chuyển nhượng vốn.
1.1.2. Các hình thức FDI cơ bản
FDI không chỉ là sự lưu chuyển vốn mà còn thường đi kèm theo công nghệ, kiến
thức kinh doanh và mạng lưới phân phối rộng khắp toàn cầu. Do vậy FDI là hình thức có
ưu thế đối với các nước đang phát triển. FDI có nhiều hình thức nhưng trong phạm vi
của chuyên đề tôi chỉ đề cập đến 3 hình thức chủ yếu và đây cũng là 3 hình thức cơ bản
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
được áp dụng ở Việt Nam. Đó là: hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, hình thức
doanh nghiệp liên doanh, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
1.1.2.1. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)
BCC là hình thức đầu tư mà các bên tham gia hợp đồng ký kết thỏa thuận để cùng
nhau tiến hành thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh ở nước sở tại, trên cơ sở
quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên. Trên thế giới, biểu
hiện của hình thức BCC cũng khác nhau về tên gọi, địa vị pháp lý và mục tiêu áp dụng.
Theo luật ĐTNN Việt Nam, BCC là văn bản được ký kết giữa hai hoặc nhiều bên để tiến
hành hoạt động đầu tư mà không hình thành pháp nhân mới. Quy định này thực tế làm
nhiều nhà đầu tư phải cân nhắc vì có thể hạn chế khả năng khuyếch trương thương hiệu
ra bên ngoài.
Như vậy, đặc điểm cơ bản của hình thức BCC là các bên cùng nhau góp vốn, cùng
tham gia quản lý hoạt động kinh doanh thông qua một ban điều phối chung, cùng phân
chia kết quả kinh doanh theo vốn góp. Đối với các nhà ĐTNN, hình thức này có ưu điểm
là thủ tục thành lập và triển khai thực hiện tương đối đơn giản, giúp dự án nhanh đi vào
hoạt động. Hình thức này thường không đòi hỏi vốn lớn và thời hạn hợp đồng thường
ngắn, cũng chính vì vậy mà ít thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng.
1.1.2.2. Hình thức doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghệp được thành lập tại nước nhận đầu tư
(nước chủ nhà) giữa các bên nước ngoài và nước chủ nhà trong đó các bên cùng đóng
góp vốn, cùng kinh doanh và cùng hưởng quyền lợi, nghĩa vụ theo tỷ lệ góp vốn. Nó có
thể dựa trên cơ sở hợp đồng liên doanh, hoặc Hiệp định ký giữa chính phủ Việt Nam và
chính phủ nước ngoài, hoặc là do doanh nghiệp có vốn FDI hợp tác với doanh nghiệp
Việt Nam.
Đặc điểm pháp lý, tỷ lệ góp vốn pháp định và điều kiện áp dụng hình thức doanh
nghiệp liên doanh giữa các nước có sự khác nhau nhất định. Trung Quốc quy định trong
doanh nghiệp liên doanh, bên nước ngoài không được góp vốn ít hơn 25%. ở Malaysia
đưa ra nhiều mức vốn góp cho bên nước ngoài tùy theo tỷ lệ xuất khẩu. Nếu tỷ lệ xuất
khẩu đạt trong khoảng 51- 79% thì chỉ được sở hữu vốn tối đa đến 79%, đối với các dự
án có tỷ lệ xuất khẩu 20- 25% thì mức sở hữu vốn của bên nước ngoài chỉ từ 30- 51%.
Trong khi đó, Luật pháp Việt Nam quy định tỷ lệ góp vốn pháp đinh tối thiểu của bên
nước ngoài là 30%.
Lựa chọn hình thức doanh nghiệp liên doanh có thể mang lại cho nhà đầu tư một số
lợi thế nhất định. Thứ nhất, thông qua các đối tác sở tại, các nhà ĐTNN có thể am hiểu
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
thêm về môi trường đầu tư tại nước sở tại. Thứ hai, các nhà ĐTNN có thể chia sẻ bớt chi
phí và rủi ro với các đối tác ở nước sở tại. Thứ ba, do một số quốc gia bắt buộc áp dụng
hình thức doanh ngiệp liên doanh khi đầu tư vào một số ngành và lĩnh vực nhất định, khi
đó doanh nghiệp liên doanh được xem là phương thức thâm nhập thị trường duy nhất khi
muốn đầu tư vào lĩnh vực đó.
Bên cạnh đó, đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có những nhược
điểm nhất định. Thứ nhât, đầu tư theo hình thức doanh nghiệp liên doanh có nguy cơ bị
lộ bí quyết công nghệ cho đối tác về lâu dài. Thứ hai, hạn chế khả năng kiểm soát đối
với các chi nhánh ở nước ngoài trong một số trường hợp. Ngoài ra, nước chủ nhà cũng
có thể gặp bất lợi nếu trình độ quản lý yếu kém hơn nhiều so với phía nước ngoài vì khi
đó sẽ dế bị phía nước ngoài chi phối, hiệu quả đầu tư có thể không cao như dự kiến.
1.1.2.3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Có quan điểm cho rằng doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp
thuộc sở hữu hoàn toàn của nhà ĐTNN, được thành lập và hoạt động tại nước sở tại, do
nhà ĐTNN trực tiếp quản lý đối tượng bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Cũng có quan điểm cho rằng doanh nghiệp 100% vốn đầu tư
nước ngoài là thực thể kinh doanh quốc tế, có tư cách pháp nhân trong đó nhà ĐTNN
góp 100% vốn pháp định, tự quản lý hoạt động kinh doanh và tư chịu trách nhiệm hoàn
toàn về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam có những đặc điểm cơ bản như thuộc quyền sở hữu của nhà ĐTNN,
do nhà ĐTNN thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam. Sự khác nhau giữa các quốc gia là
đưa ra những điều kiện cho các nhà ĐTNN khi lựa chọn hình thức này. Malaysia quy
định muốn áp dụng hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, dự án đó phải
có từ 80% sản phẩm xuất khẩu; hay Trung Quốc, Hàn Quóc và Thái Lan quy định chỉ áp
dụng hình thức này cho các dự án FDI trong các ngành kỹ thuật cao và phần lớn sản
phẩm xuất khẩu. Chính vì vậy mà hình thức này ít được khuyến khích ở một số quốc gia
và vùng lãnh thổ.
Hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có thể mang lại nhiều lợi thế
cho cả nước chủ nhà và nước đi đầu tư. Nước chủ nhà không phải góp vốn và không
phải chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của đầu tư đối với những lĩnh vực có độ rủi
ro cao hoặc với những ngành sản xuất mới. Với phía nước ngoài thì đây cũng là hình
thức được ưa chuộng bởi ngoài việc tuân thủ những quy định có tính pháp luật của nước
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Th.S Nguyễn Thị Phương Thu
chủ nhà thì bên phía nước ngoài được toàn quyền trong việc điều hành và quản lý doanh
nghiệp của mình, không bị bất kỳ sự can thiệp nào khác, không mất thời gian cho việc
tìm “tiếng nói chung” với những người cùng tham gia điều hành như hình thức liên
doanh. Bên cạnh đó, hình thức này cũng có bất lợi là chi phí thành lập và rủi ro hoạt
động cao hơn so với các hình thức khác.
1.1.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.3.1. Vai trò của FDI đối với nước đi đầu tư
Trong thời đại và bối cảnh thế giới hiện nay, trên cơ sở đem lại lợi ích cho cả hai
bên, vai trò của hoạt động FDI được hiểu là do sự tác động đồng thời của bản thân hoạt
động đầu tư đối với cả nước đi đầu tư và nước nhận đầu tư. Bài viết này chủ yếu đề cập
đến vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước phát triển khi ở vị trí các
nước đi đầu tư và các nước đang phát triển khi ở vị trí các nước nhận đầu tư.
a. Tích cực
Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước đi đầu tư có thể tận dụng
được lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư. Đối với các nước đi đầu tư, họ nhận thấy tỷ
suất lợi nhuận đầu tư ở trong nước có xu hướng ngày càng giảm, kèm theo hiện tượng
thừa tương đối tư bản. Bằng đầu tư ra nước ngoài, họ tận dụng được lợi thế về chi phí
sản xuất thấp ở nước nhận đầu tư (chủ yếu là các nước đang phát triển thường có nguồn
tài nguyên phong phú, nhưng do hạn chế về vốn và công nghệ nên chưa được khai thác,
tiềm năng còn rất lớn nên chi phí khai thác nguyên vật liệu thấp, giá lao động rẻ). Nhờ
đó, hạ giá thành sản phẩm. giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế
nhập khẩu của nước nhận đầu tư, vì vậy mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.
Thứ hai, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm thông qua chuyển giao công nghệ.
Thông qua đầu tư trực tiếp, các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần
các sản phẩm công nghiệp (chủ yếu là các máy móc thiết bị) ở giai đoạn cuối của chu kỳ
sống của chúng sang nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như là sản phẩm mới ở
các nước này hay ít ra cũng như các sản phẩm đang có nhu cầu trên thị trường nước
nhận đầu tư, nhờ đó mà tiếp tục duy trì việc sử dụng các sản phẩm này, tạo thêm lợi
nhuận cho các nhà đầu tư. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học – kỹ thuật ngày
nay thì bất cứ một trung tâm kỹ thuật tiên tiến nào cũng cần phải luôn luôn có thị trường
công nghệ loại hai, có như vậy mới đảm bảo thường xuyên thay đổi công nghệ, kỹ thuật
mới.
Thứ ba, bành trướng sức mạnh kinh tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép chủ
đầu tư bành trướng sức mạnh kinh tế nhờ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, lại tránh
SV: Lê Thị Huệ Lớp: Kinh tế phát triển 48B
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét