LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Xây dựng được mô hình Mail Exchange Server 2007": http://123doc.vn/document/1038727-xay-dung-duoc-mo-hinh-mail-exchange-server-2007.htm
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
4
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của tin học và công nghệ
Internet, hầu hết mọi người đều thấy rõ lợi ích mà các dịch vụ do mạng Internet mang
lại.
Dịch vụ thư điện tử (E-Mail) là một trong những dịch vụ đã và đang được sử
dụng nhiều trên mạng Internet hiện nay. Dịch vụ này cho phép các cá nhân hay tổ
chức trao đổi thư tín với nhau thông qua mạng Internet. Nhiều người sử dụng Internet
chỉ để sử dụng dịch vụ này.
Thông thường, khi sử dụng dịch vụ E-Mail, người sử dụng ít khi quan tâm xem
hệ thống được cài đặt, cấu hình và thực hiện như thế nào. Vì vậy những người sử
dụng chỉ thấy được một nửa ứng dụng của dịch vụ E-Mail và phần ứng dụng đó được
gọi là Mail Client, hay còn được gọi là dịch vụ thư tín máy trạm.
Nhằm để hiểu rõ hơn hoạt động của hệ thống E-Mail, trong đồ án này em xin
trình bày về Mail Server, cụ thể là các mô hình truyền thông, các giao thức truyền
thông, các hoạt động của một hệ thống Mail Server.
Vì thời gian có hạn và có rất nhiều vấn đề liên quan, do đó trong đồ án này em
chỉ xin trình bày những vấn đề cơ bản nhất về dịch vụ E-Mail và cài đặt một hệ
thống Mail Server mang tính thử nghiệm.
Đồ án gồm bốn chương:
Chương 1: Mạng máy tính và các dịch vụ trên Internet
Chương 2: Kiến trúc mạng và các giao thức truyền thông mạng
Chương 3: Các giao thức truyền nhận Mail
Chương 4: Xây dựng và cài đặt Mail Server
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
5
Chương 1: Mạng máy tính và các dịch vụ trên Internet
1.1. Các khái niệm cơ bản về mạng
Ngày nay chúng ta đã quá quen thuộc về mạng điện thoại trong việc trao đổi
thông tin, tương tự mạng trong máy tính cũng sử dụng một số nguyên tắc cơ bản sau.
- Bảo đảm thông tin không bị mất hay thất lạc trên đường truyền.
- Thông tin được truyền nhanh chóng và kịp thời.
- Các máy tính trong cùng một mạng phải nhận biết nhau.
- Cách đặt tên trên mạng cũng như cách xác định các đường truyền trên mạng phải
tuân theo một chuẩn thống nhất.
Các nguyên tắc trên có vẽ rất cơ bản nhưng nó hết sức quan trọng. Nhưng tại sao
cần phải nối mạng? Có nhiều lý do nhưng có thể kể các lý do sau:
- Tăng hiệu quả làm việc.
- Xây dựng mô hình làm việc thống nhất, tập trung cho tất cả mọi người sử dụng
mạng.
- Cho phép đưa tất cả các vấn đề cần giải quyết lên mạng dưới dạng thảo luận theo
quan điểm phóng khoáng, thoải mái hơn là phải đối thoại nhau trong một không khí gò
bó.
- Loại bỏ các thông tin thừa, trùng lặp.
Mạng có thể đơn giản chỉ gồm hai máy tính được nối với nhau bằng cáp qua
cổng máy in để truyền file, phức tạp hơn thì hiện nay có thể chia mạng ra thành các
loại sau:
- Mạng cục bộ
1
: Là một hệ thống bao gồm các nút là các máy tính nối kết với nhau
bằng dây cáp qua card giao tiếp mạng trong phạm vi nhỏ tại một vị trí nhất định. Tuỳ
theo cách giao tiếp giữa các nút mạng, người ta chia làm hai loại:
+ Mạng ngang hàng
2
: là một hệ thống mà mọi nút đều có thể sử dụng tài nguyên
của các nút khác. Nghĩa là các máy tính trên mạng đều ngang nhau về vai trò, không
có máy nào đóng vai trò trung tâm.
+ Mạng khách chủ
3
: có ít nhất một nút trong mạng đảm nhiệm vai trò trạm dịch
vụ (Server) và các máy khác là trạm làm việc (Client) sử dụng tài nguyên của các trạm
1
Local Area Network (LAN)
2
Peer to peer: Mang ngang hàng
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
6
dịch vụ. Server chứa hầu hết tài nguyên quan trọng của mạng và phân phối tài nguyên
này tới các Client.
Hình 1.1. Mô hình mạng Clients/Server
- Mạng đô thị
4
: Là mạng đặt trong phạm vi một đô thị, một thành phố. Là mạng chỉ
với một đường truyền thuê bao tốc độ cao qua mạng điện thoại hoặc thông qua các
phương tiện khác như radio, microway, hay các thiết bị truyền dữ liệu bàng laser.
MAN cho phép người dùng mạng trên nhiều vị trí địa lý khác nhau vẫn có thể truy cập
các tài nguyên mạng theo cách thông thường như ngay trên mạng LAN. Tuy nhiên
nhìn trên phương diện tổng thể MAN cũng chỉ là mạng cục bộ.
- Mạng diện rộng
5
: Phạm vi của mạng vượt qua biên giới quốc gia và thậm chí cả lục
địa. WAN có nhiệm vụ kết nối tất cả các mạng LAN và MAN ở xa nhau thành một
mạng duy nhất có đường truyền tốc độ cao. Tốc độ truy cập tài nguyên của mạng
WAN thường bị hạn chế bởi dung lượng truyền của đường điện thoại thuê bao (phần
lớn các tuyến điện thoại số cũng chỉ ở mức 56 kbps) và chi phí thuê bao rất đắt, đây là
vấn đề để cho một công ty hay tổ chức nào muốn thiết lập mạng MAN cho công ty
mình.
- Mạng Internet:
+ Mạng Internet là một tập hợp gồm rất nhiều mạng (LAN, MAN và WAN) trên
khắp thế giới kết nối với nhau qua Router (là thiết bị phân tuyến các luồn dữ liệu giữa
các mạng) tạo thành một mạng chung trên toàn cầu theo mô hình Clients/Server, được
phát triển vào đầu thập niên 70. Internet là công nghệ thông tin liên lạc mới, và hiện
đại, nó tác động sâu sắc vào xã hội cuộc sống chúng ta, là một phương tiện cần thiết
như điện thoại hay tivi, nhưng ở mức độ bao quát hơn. Chẳng hạn điện thoại chỉ cho
3
Clients/Server: Mạng khách chủ
4
Metropolitan Area Network (MAN)
5
Wide Area Network (WAN)
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
7
phép trao đổi thông tin qua âm thanh, giọng nói. Với Tivi, thông tin nhận được trực
quan hơn. Còn Internet đưa chúng ta vào thế giới có tầm nhìn rộng hơn và bạn có thể
làm mọi thứ: viết thư, đọc báo, xem bản tin, giải trí, tra cứu và kinh doanh Số lượng
máy tính nối mạng và số lượng người truy cập vào mạng Internet trên toàn thế giới
đang ngày càng tăng lên nhanh chóng. Đặc biệt từ năm 1993 trở đi, mạng Internet
không chỉ cho phép truyền tải thông tin nhanh chóng mà còn giúp cung cấp thông tin,
nó cũng là diễn đàn và là thư viện toàn cầu đầu tiên. Các thông tin được đặt rải rác trên
toàn cầu có thể truyền thông được với nhau như một thiết bị Modem và đường dây
điện thoại.
+ Internet bắt đầu từ đầu năm 1969 dưới cái tên là ARPANET
6
thuộc bộ quốc
phòng Mỹ. Đầu tiên nó chỉ có 4 máy được thiết kế để minh hoạ khả năng xây dựng
mạng bằng cách dùng máy tính nằm rải rác trong một vùng rộng. Vào năm 1972, khi
ARPANET được trình bày công khai, đã được trên 50 trường đại học và các viện
nghiên cứu nối kết vào. Mục tiêu của ARPANET là nghiên cứu hệ thống máy tính cho
các mục đích quân sự. Chính phủ và quân đội tìm kiếm những phương cách để làm
cho mạng tránh được các lỗi, mạng này thiết kế chỉ cho phép các văn thư lưu hành từ
máy tính này đến máy tính khác, đối với chính phủ và quân đội, máy tính đã có những
công dụng rõ ràng và sâu rộng. Tuy nhiên, một trong những mối bận tâm chính yếu là
tính đáng tin cậy vì nó có liên quan đến vấn đề sinh tử. Kế hoạch ARPANET đã đưa ra
nhiều đường nối giữa các máy tính. Điều quan trọng nhất là các máy tính bạn có thể
gửi các văn thư bởi bất kỳ con đường khả dụng nào, thay vì chỉ qua một con đường cố
định. Đây chính là nơi mà vấn đề về giao thức đã xuất hiện. Đầu năm 1980 trung tâm
DARPA
7
thử nghiệm giao thức TCP/IP và được các trường đại học mỹ cho phép nối
với hệ điều hành UNIX BSD do đại học Califorlia tại Berkeley xây dựng.
+ Hệ điều hành UNIX là hệ phát triển mạnh với rất nhiều công cụ hỗ trợ và đảm
bảo các phần mềm ứng dụng có thể truyền qua lại trên các họ máy tính khác nhau. Bên
cạnh đã hệ điều hành UNIX BSD còn cung cấp nhiều thủ tục Internet cơ bản, đưa ra
khái niệm Socket và cho phép chương trình ứng dụng thâm nhập vào Internet một cách
dễ dàng.
6
Advanced Research Projects Agency Network: Mạng lưới cơ quan với các đề án nghiên cứu tân tiến
7
Defense Advanced Research Projects Agency: Cơ quan với các đề án nghiên cứu tân tiến của Bộ quốc phòng
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
8
+ Internet có thể tạm hiểu là liên mạng gồm các máy tính nối với nhau theo một
giao thức và một số thủ tục chung gọi là TCP/IP
8
. Thủ tục và giao thức này trước kia
đã được thiết lập và phát triển là cho một đề án nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Mỹ
với mục đích liên lạc giữa các máy tính nối đơn lẻ và các mạng máy tính với nhau mà
không phụ thuộc vào các hãng cung cấp máy tính. Sự liên lạc này vẫn được bảo đảm
liên tục ngay cả trong trường hợp có nút trong mạng không hoạt động.
+ Ngày nay, Internet là một mạng máy tính có phạm vi toàn cầu bao gồm nhiều
mạng nhỏ cũng như các máy tính riêng lẻ được kết nối với nhau để có thể liên lạc và
trao đổi thông tin. Việc truyền và nhận thông tin trên Internet được thực hiện bằng
giao thức TCP/IP. Giao thức này gồm hai thành phần là Internet Protocol(IP) và
Transmission Control Protocol(TCP). IP cắt nhỏ và đóng gói thông tin truyền qua
mạng, khi đến máy nhận, thì thông tin đó sẽ được ráp nối lại. TCP bảo đảm cho sự
chính xác của thông tin được chuyền đi cũng như của thông tin được ráp nối lại đồng
thời TCP cũng sẽ yêu cầu truyền lại tin thất lạc hay hư hỏng. Tùy theo thông tin lưu
trữ và mục đích phục vụ mà các Server trên Internet sẽ được phân chia thành các loại
khác nhau như Web Server, E-Mail Server hay FTP Server. Mỗi loại Server sẽ được
tối ưu hoá theo mục đích sử dụng.
+ Từ quan điểm người sử dụng, Internet trông như là bao gồm một tập hợp các
chương trình ứng dụng sử dụng những cơ sở hạ tầng của mạng để truyền tải những
công việc thông tin liên lạc. Hầu hết người sử dụng truy cập Internet thực hiện công
việc đơn giản là chạy các chương trình ứng dụng trên máy Client mà không cần hiểu
loại máy tính đang được truy xuất, kỹ thuật TCP/IP, cấu trúc hạ tầng mạng hay
Internet ngay cả con đường truyền dữ liệu đi qua để đến được đích của nó.
Hình 1.2. Liên lạc trên Internet
8
Transmission Control Protocol/ Internet Protocol (TCP/IP)
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
9
1.2. Động lực thúc đẩy sự ra đời của mô hình Clients/Server
Ngày nay với xu hướng mạng toàn cầu hoá, thì sự liên lạc thông tin qua lại giữa
các máy theo mô hình Clients/Server là một trong những ứng dụng quan trong cơ bản
về mạng và nó không thể thiếu trong hệ thống liên lạc thông tin hiện nay. Có rất nhiều
dịch vụ hỗ trợ trên Internet theo mô hình này như E-Mail, Web, FTP, Usernet, Telnet,
truyền File, đăng nhập từ xa, Chat Vào những thập niên 90, khi bắt đầu bùng nổ sự
truy cập Web cũng như mạng hoá trong các lĩnh vực của nhiều quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam chúng ta. Một vấn đề đặt ra cho các nhà lập trình, các nhà quản
lý và nhiều hơn nữa là những người sử dụng máy tính điều có thể truy cập thông tin
trên Intranet hay Internet nhanh chóng, chính xác mà các thông tin hay dữ liệu này vẫn
được an toàn. Lập trình mạng theo mô hình Clients/Server sẽ là giải pháp an toàn cho
các nhà lập trình.
1.3. Nguyên tắc hoạt động mạng theo mô hình Clients/Server
Mạng Clients/Server đơn thuần chỉ có một tiêu chuẩn cơ bản là không có một
Client nào sử dụng tài nguyên của một Client khác. Tài nguyên dùng chung được đặt
trên một hay nhiều Server chuyên dụng theo từng dịch vụ như E-Mail, File Server,
Chat, Web, Ftp…hay nói một cách khác những Client không bao giờ nhìn thấy nhau
mà chỉ giao tiếp với Server. Mô hình Clients/Server này rất hữu dụng trong các công
ty hay những tổ chức cần đến việc quản lý tài nguyên hay người sử dụng một cách
hiểu quả.
Thuật ngữ Server dùng để chỉ bất kỳ chương trình nào hỗ trợ dịch vụ có thể truy
xuất qua mạng. Một Server nhận yêu cầu qua mạng thực hiện cho một dịch vụ nào đó
và trả kết quả về cho nơi yêu cầu. Với những dịch vụ đơn giản nhất, mỗi yêu cầu gửi
đến chỉ trong một địa chỉ IP datagram và Server trả về lời đáp trong một datagram
khác. Các Server có thể thực hiện những công việc đơn giản nhất đến phức tạp nhất.
Ví dụ như time-of-day Server chỉ đơn giản trả về giờ hiện hành bất cứ khi nào Client
gửi tới Server này thông tin. Hay một Web Server nhận yêu cầu từ một trình duyệt
(Borwser) để lấy một bản sao của trang web, Server sẽ lấy bản sao của tập tin trang
web này trả về cho trình duyệt.
Mô hình Clients/Server thực hiện việc phân tán xử lý giữa các máy tính. Về bản
chất là một công nghệ được chia ra và xử lý bởi nhiều máy tính, các máy tính được
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
10
xem là Server thường được dùng để lưu trữ tài nguyên để nhiều nơi truy xuất vào. Các
Server sẽ thụ động chờ để giải quyết các yêu cầu từ Client truy xuất đến chúng. Thông
thường, các Server được cài đặt như một chương trình ứng dụng. Vì vậy ưu điểm của
việc cài đặt các Server như những chương trình ứng dụng là chúng có thể xử lý trên hệ
máy tính bất kỳ nào hỗ trợ thông tin liên lạc theo giao thức TCP/IP hay một giao thức
thông dụng khác. Như thế, Server cho một dịch vụ cụ thể có thể chạy trên một hệ chia
thời gian cùng với những chương trình khác, hay nó có thể xử lý trên cả máy tính cá
nhân.
Một chương trình ứng dụng trở thành Client khi nó gửi yêu cầu tới Server và đợi
lời giải đáp trả về. Cũng vì thế mà mô hình Clients/Server là sự mở rộng tự nhiên của
tiến trình thông tin liên lạc trong nội bộ máy tính và xa hơn nữa là Intarnet/Internet.
Ứng dụng đầu tiên của mô hình Clients/Server là ứng dụng chia sẻ file (các tổ chức có
nhu cầu chia sẻ thông tin giữa các bộ phận trong tổ chức được dễ dàng và nhanh chóng
hơn). Trong ứng dụng này thông tin được chứa trong các file đặt tại máy Server của
một phòng ban nào đó. Khi một phòng ban khác có nhu cầu trao đổ thông tin với
phòng ban này thì sẽ sử dụng một máy tính khác kết nối với Server và tải những file
cần thiết về máy Client.
1.4. Các dịch vụ ứng dụng trên mô hình Clients/Server của Internet
Tùy theo thông tin lưu trữ và mục đích phục vụ mà các Server trên mạng Internet
sẽ được phân chia thành các loại như Web Server, E-Mail Server, Chat Server, hay
FTP Server mỗi loại sẽ được tối ưu hoá theo mục đích sử dụng giao thức và cổng kết
nối khác nhau.
1.4.1. Dịch vụ World Wide Web
9
Web là một ứng dụng khá hoàn hảo và phổ biến nhất hiện nay, và ngày nay nó
cấu thành phần lớn nhất của Internet dựa trên kỹ thuật biểu diễn thông tin gọi là siêu
văn bản(.html), trong đó các từ được chọn trong văn bản có thể được mở rộng bất cứ
lúc nào để cung cấp đầy đủ hơn thông tin về từ đó. Sự mở rộng ở đây theo nghĩa là
chúng có thể liên kết tới các tài liệu khác: văn bản, hình ảnh, âm thanh, hay hỗn hợp
các loại có chứa thông tin bổ sung. Nói cách khác WWW là phần đồ hoạ của Internet.
Ban đầu, Internet là hệ thống truyền thông dựa trên văn bản; việc liên kết với những
9
World Wide Web(WWW)
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
11
site khác có nghĩa là phải gõ những địa chỉ mã hoá dài dằng dặc với độ chính xác
100%. Công nghệ WWW xuất hiện như là một vị cứu tinh. Khả năng đặt hình ảnh lên
Web Site bất ngờ làm cho thông tin trên Web trở nên hấp dẫn hơn, lôi cuốn hơn. Ngoài
ra HTTP cho phép trang Web kết nối với nhau qua các siêu liên kết (hyperlink), nhờ
vậy mà người dùng dễ dàng "nhảy" qua các Web site nằm ở hai đầu trái đất, World
Wide Web chỉ là một phần cấu thành nên Internet ngoài ra còn có rất nhiều thành phần
khác như: E-Mail, Gopher, Telnet, Usenet Các trình duyệt ở các máy Client sẽ thay
mặt người sử dụng yêu cầu những tập tin. html từ Web Server bằng cách thiết lập
một kết nối với máy Server Web và đưa ra các yêu cầu tập tin đến Server. Server nhận
những yêu cầu này, lấy ra những tập tin và gửi chúng đến cửa sổ của trình duyệt ở
Client.
Web Server là máy chủ cung cấp các trang Web (.html). Các trang có chứa các
liên kết tham chiếu đến các trang khác hoặc đến các tài nguyên khác trên cùng một
Web Server hoặc trên một Web Server khác. Các trang tư liệu siêu văn bản sau khi
soạn thảo sẽ được quản lý bởi chương trình Web Server chạy trên máy Server trong hệ
thống mạng.
1.4.2. Dịch vụ thư điện tử
Là dịch vụ rất phổ biến và thông dụng trong mạng Internet/Intranet và hầu như
không thể thiếu được trong Internet/Intranet hiện nay. Nó là dịch vụ kiểu lưu và truyền
tiếp (store and forward) thư được truyền từ máy này sang máy khác cho tới khi máy
đích nhận được. Người nhận cũng chỉ thực hiện một số thao tác đơn giản để lấy thư,
đọc thư và nếu cần thì cho in ra. Cách liên lạc này thuận tiện hơn nhiều so với gửi thư
thông thường qua bức điện hoặc Fax, lại rẻ và nhanh hơn. Cách thực hiện việc truyền
thư không cần phải kết nối trực tiếp với nhau để truyền thư, thư có thể được truyền từ
máy này đến máy khác cho tới máy đích Giao thức truyền thống sử dụng cho hệ
thống thư điện tử của Internet là SMTP
10
.
10
Simple Mail Transfer Protocol (SMTP)
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
12
Hình 1.3. Cơ chế hoạt động của thư điện tử
Giao thức liên lạc: mặc dù gửi thư trên Internet sử dụng nhiều giao thức khác
nhau, nhưng giao thức SMTP được dùng trong việc vận truyền Mail giữa các trạm. Là
giao thức cơ bản để truyền thư giữa các máy Clients, SMTP có một bộ gửi thư, một bộ
nhận thư, và một tập hợp lệnh dùng để gửi thư từ người gửi đến người nhận. Giao thức
SMTP hoạt động theo mô hình Clients/Server với một tập lệnh đơn giản, SMTP Mail
Client sẽ bắt tay với SMTP Mail Server gửi các yêu cầu tiếp nhận Mail. SMTP Mail
Server đọc nội dung Mail do SMTP Mail Client gửi đến và lưu vào một thư mục nhất
định tương ứng với từng User trên Server.
Mỗi Client đều phải kết nối với một E-Mail Server gần nhất (đóng vai trò bưu
cục địa phương) phải có một tên (E-Mail account) trên một trạm E-Mail và sử dụng
chương trình E-Mail Client (ví dụ như Eudora, Netscape ). Sau khi soạn thảo xong
thư và đề rõ địa chỉ người nhận rồi gửi thư tới E-Mail Server của mình. E-Mail Server
này có nhiệm vụ sẽ tự động kiểm tra và định hướng truyền thư tới người nhận hoặc
truyền thư tới một E-Mail Server trung gian khác. Thư truyền tới E-Mail Server của
người nhận và được lưu ở đó. Đến khi người nhận thiết lập tới một cuộc kết nối tới E-
Mail Server đó thì thư sẽ truyền về máy người nhận, nếu không thì thư vẫn tiếp tục
giữ lại ở Server đảm bảo không bị mất.
Phần khác của ứng dụng thư điện tử là cho phép người sử dụng đính kèm
(attachments) theo thư một tập tin bất kỳ (có thể dạng nhị phân). E-Mail đã và đang
hết sức thành công đến nỗi những người sử dụng Internet phục vụ dùng nó đối với hầu
hết các trao đổi của họ. Một lý do làm E-Mail Internet phổ biến là vì việc thiết kế nó
rất cẩn thận: giao thức làm cho việc "phát thư" có độ tin cậy cao. Không chỉ hệ thống
thư tín trên máy của người gửi tương tác trực tiếp trên máy của người nhận mà giao
thức còn đặc tả một thông điệp không thể bị xoá bởi người gửi cho đến khi người nhận
đã thật sự có một phiên bản của thông điệp trên bộ lưu trữ của họ.
Đồ án tốt nghiệp ngành CNTT Mail Exchange Server
Sinh viên: Phạm Văn Bắc - Lớp CT1002
13
Như vậy để gửi (nhận) thư người sử dụng chỉ cần quan tâm tới cách sử dụng
chương trình E-Mail Client. Hiện nay có nhiều chương trình E-Mail Client như
Microsoft Outlook Express, Web Mail, Eudora Pro, Peagasus Mail,
1.4.3. Dịch vụ Chat
Chat là tài nguyên được mọi người sử dụng trên Internet ưa chuộng nhất. Đây là
tài nguyên rất lý thú, nó cho phép bạn thiết lập các cuộc đối thoại thông qua máy vi
tính với người dùng khác trên Internet. Sau khi bạn đã thiết lập được hệ thống này,
những gì bạn gõ trên máy tính của bạn gần như tức thời trên máy tính kia và ngược lại.
Những cuộc trao đổi thông qua chương trình Chat là sự đối mặt trực tiếp giữa hai
người đối thoại với nhau thông qua ngôn ngữ viết nên sẽ chậm hơn so với đối thoại
bằng miệng nhưng chỉ có lợi ích nhất là với những người không cùng ngôn ngữ vì gõ-
đọc dễ hơn nghe-nói và trong một số trường hợp khác thì gõ (viết) dễ hơn là nói.
1.4.4. Dịch vụ FTP
11
Dịch vụ truyền tệp tin FTP cho phép người sử dụng nhận các tệp tin từ máy tính
ở xa hay chuyển các tập tin tới đó. Dịch vụ này sử dụng giao thức truyền tệp FTP
thuộc họ giao thức TCP/IP làm công cụ truyền tệp. Các tệp tin có thể ở dạng: tập tin
văn bản, tư liệu, cơ sở dữ liệu, chương trình ứng dụng hay hệ điều hành máy tính, tập
hình ảnh tĩnh hay động (video, movie), tập âm thanh thoại hay nhạc (sound, music).
Để sử dụng các dịch vụ này, trên máy tính của người sử dụng phải có phần mềm FTP
(FTP Client) và đăng lý quyền sử dụng dịch vụ (account) với máy tính dịch vụ FTP ở
xa (FTP Server) cho phép truyền tải các tệp tin. Các nhà cung cấp dịch vụ thường tạo
lập các máy tính dịch vụ FTP giấu tên kết nối với các máy tính chủ ở xa và chuyển tải
các tệp tin từ các máy chủ về mà không cần phải đăng ký quyền sử dụng (account) trên
các máy chủ đó. Các máy dịch vụ FPT dấu tên là một trong những phương tiện chính
để phân phát các tài nguyên phần mềm và thông tin tư liệu trên toàn bộ Internet. Trên
máy tính dịch vụ FTP dấu tên lưu trữ phần mềm khác nhau, như các hệ điều hành cho
các hệ thống máy tính khác nhau (UNIX, IBMPC, Macintosh ), các hệ ứng dụng,
truyền thông các tập nhạc, phim ảnh và nhiều thông tin tư liệu. Hầu hết chúng đều
cung cấp miễn phí cho người sử dụng
11
File Transfer Protocol (FTP)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét