LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đông y chẩn đoán và luận trị": http://123doc.vn/document/1037497-dong-y-chan-doan-va-luan-tri.htm
www.baolongduong.com.vn
5
Có ba chữ khí: một chữ khí có nghóa là bỏ đi, lìa xa, quên
đi, một chữ khí ám chỉ công cụ, đồ dùng và một chữ khí thể hiện
cả sinh thái của sự sống và vật chất. Chúng ta chỉ đề cập, nghiên
cứu chữ khí này thôi. Chỉ một chữ khí này mà biết bao nhiêu hợp
từ có nó. Chữ Hán được tạo thành mang tính chất tượng nghóa,
tượng thanh, tượng hình và trong nguyên tắc cấu trúc những
chữ đồng âm mà khác về ý nghóa, khác về bản chất thì chữ viết
khác nhau. Vậy mà biết bao nhiêu hợp từ có chữ khí. Chữ khí
này có bộ mễ, thể hiện một ý nghóa là có sự sống và có sự sống
là có nó. Chúng ta đi vào nghiên cứu ba loại khí:
- Không khí.
- Thần khí.
- Dinh khí.
(Không khí, thần khí, dinh khí về ý nghóa hoàn toàn khác
nhau, nhưng có chung bản chất nên có chung một chữ viết).
2.1. Không khí: Là khí trời, con người ta sống trong khí
trời như cá sống trong nước.
Không khí gồm có khí ôxy, nitơ, hydrô, cácbon
2.2. Thần khí: Có dũng khí, hào khí, sầu khí
Đó là cái khí thể hiện từ trong thần phách, tâm hồn, tinh
lực con người. Ví như:
- Dũng khí là cái khí tạo nên sự dũng cảm và từ hành
động dũng cảm nó toát ra cái khí mà gọi là dũng khí. Trong
thần khí còn có chính khí. Ý nghóa chính khí này khác với
6
chính khí trong điều trò (chính khí hư). Tại các bàn thờ của
người Hoa kiều, người ta có thờ Quan Vân Trường mà phía
chính diện có chữ “chính khí” có ý là họ tôn sùng Quan Vân
Trường mọi tư duy, hành động đều chính đáng và tư duy hành
động đó luôn toát ra chính khí.
Còn sinh khí hợp từ này không có nghóa là khí sống mà
sinh khí là bực tức, uất ức, cáu giận. Cái khí này là một trong
tứ độ tường cùng với tửu, sắc, tài.
Người xưa coi: Tửu, sắc, tài, khí (rượu, gái, tiền bạc,
khí) là 4 bức tường kìm hãm chí tiến thủ của con người, cái
khí đó cũng thuộc về thần khí.
2.3. Dinh khí: Là thành phần trong dinh dưỡng, một
thành phần cấu tạo của cơ thể, là chất cơ bản duy trì sự sống
của con người có tác dụng thúc đẩy huyết và các công năng
tạng phủ, kinh lạc hoạt động. Trong dinh khí có nguyên khí.
Nguyên khí còn gọi là chân khí, khí của chân nguyên, do tiên
thiên sinh ra được tàng trữ ở thận.
- Vinh khí: Trong đồ ăn thức uống của con người, chỉ có 5
loại gọi là “ngũ vò”: tân, toan, cam, hàm, khổ (tân là vò cay, toan
là vò chua, cam là vò ngọt, hàm là vò mặn, khổ là vò đắng). Năm
vò này sau khi nhập vò (đưa vào bao tử) thì được hỗ trợ do sự vận
hóa thủy cốc của tỳ và được nguyên khí từ thận đưa lên xúc tác,
ngũ vò đã được hóa thành ngũ khí. Đó là chiêm, tinh, hương, tiêu,
hủ (chiêm là mùi của cầm thú chết, tinh là mùi tanh, hương là
mùi thơm, tiêu là mùi khét, hủ là mùi mục nát).
TẬP ĐỒN Y DƯỢC BẢO LONG
www.baolongduong.com.vn
7
Ngũ khí này còn gọi là khí tỳ vò. Ngũ khí được đưa lên
thủ thái âm phế rồi từ đó phân bổ tới các ngũ tạng lục phủ
củng cố huyết và nuôi dưỡng cơ thể.
Phần khí này được vào mạch thành một bộ phận của
huyết dòch gọi là vinh khí.
- Tông khí: Tông khí là khí trời hợp với khí của tì vò mà
thành, sự vận hành của khí huyết. Sự hô hấp hơi thở tiếng nói và
mọi hoạt động đều quan hệ mật thiết đến tông khí.
- Vệ khí: Vệ khí bắt nguồn từ tiên thiên do dương khí
của thận sinh ra, được bổ sung không ngừng bằng khí Tỳ vò,
hoạt động được là do sự tuyên phát của phế.
Vệ khí đi ngoài mạch phân bố toàn thân trong thì làm
ấm nội tạng, ngoài thì thấm nhuận da lông, đóng mở tuyến
mồ hôi, bảo vệ cơ thể chống ngoại tà xâm nhập.
Vậy chúng ta có thể đi đến kết luận rằng: Khí là một
dạng hợp chất chưa hữu hình trong thành phần cơ cấu không
gian và cơ thể con người ta cũng như trong mọi sinh thái của
vũ trụ, do sự vận hóa khác nhau mà tạo thành các loại khí
khác nhau và mang tính chất khác nhau.
II. HUYẾT
Khái niệm về huyết
Sự sống còn và mạnh yếu của con người là phụ thuộc ở
thành phần huyết, chức năng huyết và khối lượng huyết.
Chẳng những thế huyết còn quyết đònh cả tình cảm, lý trí, tính
tình và đặc điểm riêng của con người như người ta thường nói:
8
“anh ấy có máu liều lónh, bà này có máu ghen, ông này có máu
nóng, anh kia có máu cờ bạc ”.
- Ngoài danh từ huyết nói huyết còn gọi là tâm huyết,
can huyết.
- Tâm huyết là huyết do tâm quản lý và thuộc về tâm.
- Can huyết là huyết tàng trữ tại can do can quản lý và
điều hành.
Hai loại huyết trên là một song khi bất bình thường thì
nó là hình thái và phương tiện biểu hiện bệnh lý của tâm và
biểu hiện bệnh lý của can. Tính chất bệnh lý của tâm và can
khác nhau nên 2 loại “phương tiện” đó được mang tên theo
bản tông của nó.
- Tóm lại những thành phần tạo nên huyết là dạng vật
chất hữu hình ở thể lỏng đài tải thủy, hỏa, khí, tân dòch đi điều
hòa nuôi dưỡng bảo vệ và phát triển cơ thể.
III. THỦY
Khái niệm về thủy
Nếu đònh nghóa theo ngôn ngữ và văn phạm thì có thể
nói thủy là nước và nước là thủy. Nhưng theo dòch lý thì Thủy
lại là quẻ Khảm và Khảm là Thủy. Theo số lý thì Thủy là
Can Nhâm, Can Quý là Chi Tý, Chi Hợi và ngược lại Nhâm,
Quý, Tý, Hợi là Thủy. Vậy mỗi bộ môn có một ngôn ngữ
danh từ khái niệm khác nhau. Trong Đông y học thì thủy hình
thể là nước, song nước không là thủy mà là nước thuộc thủy vì
trong thủy của y lý không chỉ có nước mà còn bao gồm nhiều
TẬP ĐỒN Y DƯỢC BẢO LONG
www.baolongduong.com.vn
9
thành phần cơ cấu có chức năng khác ở dạng chưa hữu hình
và vô hình.
Vì thế cho nên khi thận thủy suy chúng ta không thể
uống nước hoặc bơm nước vào để bổ thủy hoặc bò phù nề thì
không thể điều trò bằng cách hút nước ra mà chỉ điều trò bằng
cách ổn đònh sự điều tiết vậy có thể khái niệm rằng: Thủy là
dạng vật chất hữu hình hoặc vô hình chủ về sự điều tiết chất
lỏng trong cơ thể.
IV. HỎA
Khái niệm về hỏa
Trong văn phạm và ngôn ngữ thì hỏa có thể hiểu là lửa,
là sự cháy. Song trong y lý Đông phương thì không thể đònh
nghóa hỏa là lửa, là sự cháy. Và khi tâm hỏa suy không thể bổ
hỏa bằng cách nướng tâm hoặc đưa lửa vào cơ thể mà chỉ
điều trò bằng cách ổn đònh và phục hồi chức năng điều nhiệt
cho cơ thể. Vậy có thể đi đến khái niệm rằng: Hỏa là dạng
vật chất vô hình giữ vai trò ổn đònh, điều tiết nhiệt lượng
trong cơ thể và trong sự chuyển hóa, trao đổi chất.
2. KHÁI NIỆM VỀ LƯỢNG NGHI, ÂM DƯƠNG,
TỨ TƯNG, NGŨ HÀNH
10
1. Khái niệm về lưỡng nghi
Trong vũ trụ cũng như mọi sinh thái và con người luôn
tồn tại những sự tương ứng trái ngược nhau và luôn có từng
cặp, hiện tượng trái ngược nhau nhưng lại gắn bó với nhau.
Ví dụ như: động - tónh; trên - dưới; rắn - mềm; hàn -
nhiệt; hư - thực; biểu - lý; âm - dương.
Người xưa đã sắp xếp những cặp trên thành hai mặt
tương ứng qua một đường ngăn cách:
Động
Trên
Rắn
Nhiệt
Thực
Biểu
Dương
Tónh
Dưới
Mềm
Hàn
Hư
Lý
Âm
Gọi đó là lưỡng nghi.
2. Lưỡng nghi là gì ?
Giải nghóa theo nghóa tự thì lưỡng là một tự trong văn
phạm hay trong ngôn ngữ đôi lúc thay thế cho chữ nhò là số 2
nhưng khác nhò là lưỡng còn mang theo hàm ý cân nhắc, so
sánh, đối chiếu, giống như hợp từ: một cặp, một đôi.
Chữ nghi là một từ biểu thò một chỉnh thể tới mức cao nhất
làm khuôn mẫu, làm tiêu chuẩn nói về quy cách thì mẫu mực
nhất về lễ tiết thì trang nghiêm nhất, đẹp mắt nhất. Ví dụ như
trong hợp từ: Nghi thức, nghi lễ, nghi dung Vậy chúng ta có
thể hiểu hợp từ lưỡng nghi như sau:
Lưỡng nghi là những cặp tương ứng của các chỉnh thể (sự
vật, sự việc, hình thức, trạng thái ).
TẬP ĐỒN Y DƯỢC BẢO LONG
www.baolongduong.com.vn
11
II. ÂM DƯƠNG
1. Khái niệm về âm dương
Khi nghiên cứu và vận dụng lưỡng nghi, người ta thấy
rằng: Dương và âm chính là tổng nghi trong các nghi trong
từng mặt tương ứng của lưỡng nghi và từ đó học thuyết ââm
dương được ra đời, nó giữ một vai trò vô cùng quan trọng
trong nhiều lónh vực khoa học và là cương lónh bao trùm, thấm
nhuần trong toàn bộ quá trình nghiên cứu và ứng dụng của y
học cổ truyền.
2. Đònh nghóa về âm dương
2.1. Âm dương là gì?
Bởi tầm quan trọng của học thuyết âm dương nên chúng
ta không thể dừng lại ở khái niệm mà phải mổ xẻ vấn đề cho
rõ ràng hơn. Thiên âm dương ứng tượng đại luận tố vấn 5
viết:
- Hoàng đế nói: “Âm dương là con đường của thiên đòa
là kỷ cương của vạn vật, là cha mẹ của sự biến hóa, là bản
thủy của sự sinh sát, là cái phủ của thần minh ”, cho nên tích
dương thành thiên, tích âm thành đòa, âm tónh, dương sinh, âm
trưởng, dương sát, âm tàn, dương hóa khí, âm hóa hình.
- Khí thanh dương thành thiên, khí trọc âm thành đòa,
khí bốc lên thành mây thiên khí giáng xuống thành mưa, mưa
xuất ra từ đòa khí, mây xuất ra từ thiên khí Thủy thuộc âm,
hỏa thuộc dương, dương thành khí, âm thành vò.
12
Âm: Theo đònh nghóa của sách Thuyết Văn: Âm có
nghóa ám, tối tăm. Theo Lương Khải Siêu giải nghóa trong
kinh thư thì chữ âm có nghóa là mây che mặt trời.
Dương: Theo đònh nghóa của sách Thuyết Văn có nghóa
là cao, sáng. Theo Lương Khải Siêu: Dương có nghóa là mở
rộng ra, là bay rộng ra, là lớn lên, là cứng rắn. Lương Khải
Siêu tóm tắt tự nghóa của chữ âm và dương như sau:
- Chữ âm có chữ vân kèm theo, chữ vân chính là mây có
nghóa gốc của nó là: Mây che mặt trời suy rộng ra chữ âm có
nghóa là che lại, đậy lại. Vì che vậy sẽ làm cho u ám. Những nơi
quay lưng lại với mặt trời thì u ám. Các thành thò xưa thường tựa
vào hướng Bắc và quay lưng lại mặt trời, suy ra âm còn là mặt
sau, mặt trong (lý) hoặc hướng Bắc
- Chữ dương gồm chữ nhật, chữ nhất trên chữ vật ý nói
lúc mặt trời mọc lên. Đây cũng là lúc khí tượng rực rỡ nhất
suy rộng ra dương là biểu tượng sắc thái rực rỡ của mặt trời.
Hướng về phía mặt trời mọc thì thấy ánh sáng của mặt trời.
Do đó suy ra dương là (chính diện) là (biểu diện) hoặc phương
Nam. Qua đó, chúng ta có thể đi đến đònh nghóa như sau:
2.2. Đònh nghóa âm dương
Âm dương là hệ thống sự vật luôn có mâu thuẫn nhưng
thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa, phát
sinh, phát triển và tiêu vong.
2.3. Các quy luật cơ bản trong học thuyết âm dương
TẬP ĐỒN Y DƯỢC BẢO LONG
www.baolongduong.com.vn
13
- Âm dương đối lập với nhau: Âm dương đối lập là sự
mâu thuẫn, chế ước và đấu tranh giữa hai mặt âm dương.
Ví dụ: Ngày và đêm, nước và lửa. Ức chế và hưng phấn.
- Âm dương hỗ căn: Hỗ căn là sự nương tựa với nhau mới
tồn tại được, mới có ý nghóa, cả hai đều là quá trình tích cực
của sự vật, không thể đơn độc phát sinh, phát triển được.
Ví dụ: Có số âm mới có số dương, có đồng hóa mới có dò
hóa hay ngược lại, nếu không có dò hóa thì quá trình đồng hóa
không tiếp tục được
- Âm dương tiêu trưởng: Tiêu là sự mất đi, trưởng là sự
phát triển nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa
lẫn nhau giữa hai mặt âm dương. Ví dụ như sự thay đổi từ
lạnh sang nóng, là quá trình âm tiêu dương trưởng.
Sự thay đổi từ nóng sang lạnh là quá trình dương tiêu âm
trưởng. Do đó có khí nhiệt, ôn, lương, hàn.
Sự vận động của âm dương tới mức độ nào đó sẽ chuyển
hóa sang nhau gọi là dương cực sinh âm, âm cực sinh dương.
- Âm dương bình hành: Âm dương tuy đối lập nhau và
vận động không ngừng nhưng luôn lập được thế thăng bằng,
sự mất thăng bằng giữa hai mặt âm dương là biểu hiện sự mất
bình thường, ảnh hưởng đến sự bảo tồn của sinh thể vật chất
và sự việc
- Trong âm có dương và trong dương có âm: Dựa trên
các quy luật cơ bản của âm dương và căn cứ vào thực tế,
người ta đã chứng tỏ được rằng trong âm có dương và trong
14
dương có âm (âm, dương nương tựa lẫn nhau cùng tồn tại, có
khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển). Ví dụ như sự phân
chia thời gian trong 1 ngày (24 giờ), ban ngày thuộc dương từ
6 giờ đến 12 giờ là phần dương của dương, từ 12 giờ đến 18
giờ là phần âm của dương, ban đêm thuộc âm từ 18 giờ đến
24 giờ là phần âm của âm, từ 0 giờ đến 6 giờ là phần dương
của âm.
Kết luận: Sự mâu thuẫn thống nhất bên trong sự vật là
động lực phát triển biến hóa của âm dương theo một quy luật
nhất đònh (hết thònh lại suy, hết suy lại thònh, âm cực sinh
dương, dương cực sinh âm ). Mặt đối lập này chuyển thành
mặt đối lập kia. Quy luật này được diễn tả bằng hình đồ người
xưa tạo ra và đặt tên cho nó là hình đồ thái cực. Đó là một
hình tròn có hai hình cong hai màu (sáng và tối chia diện tích
làm 2 phần bằng nhau, một phần là âm, một phần là dương.
Trong phần âm có nhân dương và trong phần dương có nhân
âm).
Đó là một hình đồ duy nhất diễn tả quy luật biến hóa
của âm dương
Màu trắng biểu thò dương. Màu
đen biểu thò âm. Trong dương có
âm, trong âm có dương. Dương
phát triển từ dưới hướng lên trên.
Âm phát triển từ trên hướng
xuống dưới
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét