từ năm 1941, phát xít Nhật đã cho xây dựng sân bay Hương Gia trên địa bàn
Vĩnh Phúc nhằm phục vụ cho nhu cầu quân sự. Hoà bình lập lại tại khu vực Đa
Phúc - Kim Anh, Nhà nước ta đã xây dựng sân bay quân sự Đa Phúc, về sau sân
bay này được cải tạo xây dựng thành sân bay Nội Bài, sân bay quốc tế quan
trọng nhất ở khu vực phía Bắc.
Về khí hậu, chế độ gió mùa và sự thay đổi khí hậu trong năm một mặt
tạo điều kiện cho việc thực hiện thâm canh, gieo cấy nhiều vụ, đa dạng hoá sản
xuất nông nghiệp, tăng hệ số sử dụng đất nông nghiệp. Song, mặt khác cũng gây
ra không ít khó khăn như úng lụt, khô hạn, sương muối, lốc xoáy, mưa đá ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân.
Nguồn tài nguyên khoáng sản của Vĩnh Phúc không phong phú. Tuy
có một số loại khoáng sản quý hiếm như thiếc, vàng sa khoáng nhưng trữ lượng
thấp, phân tán, do vậy không thuận lợi cho đầu tư khai thác. Khoáng sản có trữ
lượng đáng kể nhất là vật liệu xây dựng như đá xây dựng, đá granit (khoảng 50
triệu m
3
), cao lanh, cát sỏi và đất sét,…
Tài nguyên rừng của Vĩnh Phúc tương đối đa dạng do có địa hình
rừng núi và gò đồi, nhất là có vườn quốc gia Tam Đảo, có giá trị về kinh tế lâm
nghiệp và du lịch. Hiện đất lâm nghiệp đang sử dụng có 27,3 ngàn ha, trong đó
đất có rừng trồng 13,4 nghìn ha, đất có rừng tự nhiên 9,8 nghìn ha và trong
tương lai có thể trồng thêm 11 nghìn ha đất trống đồi trọc thuộc đất lâm nghiệp,
đất chưa sử dụng và trồng cây phân tán.
Ngoài Tam Đảo, Vĩnh Phúc còn có nhiều tiềm năng để phát triển du
lịch. Tài nguyên du lịch của tỉnh rất đa dạng và phong phú, nhiều điểm du lịch
lại nằm trong quy hoạch tổng thể về du lịch của vùng Bắc Bộ.
So với các tỉnh, thành trong cả nước, Vĩnh Phúc là tỉnh có dân số
thuộc loại trung bình. Hiện nay, toàn tỉnh có hơn 1 triệu người sinh sống, trong
đó người Kinh chiếm trên 97%, người Sán Dìu chiếm 2,5%, dân cư thuộc các
5
thành phần dân tộc khác có số lượng ít chủ yếu đến Vĩnh Phúc do quá trình
chuyển cư và hôn nhân.
Năm 1997, nguồn lực lao động của tỉnh là 584,59 nghìn người:
khoảng 7,3% lao động có trình độ chuyên môn kĩ thuật; lao động chưa qua đào
tạo chiếm số lượng lớn. Hiện nay, lao động có trình độ đại học và cao đẳng trở
lên đang có chiều hướng tăng.
Bên cạnh những thuận lợi rất căn bản, sự phát triển kinh tế của Vĩnh
Phúc cũng có nhiều khó khăn và hạn chế. Một trong những khó khăn lớn nhất là
nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, chưa có tích luỹ, đời sống của một bộ phận
cư dân còn khó khăn, dẫn đến hạn chế khả năng tự đầu tư phát triển.
Cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu
cầu của nền sản xuất hàng hoá và phát triển thương mại trong cơ chế thị trường.
Những năm gần đây, tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chưa đủ để
đảm bảo phát triển ổn định và bền vững. Đó là những thách thức cơ bản của
Vĩnh Phúc khi bước vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.1 Khung chính sách FDI
Chính sách thu hút vốn FDI tại Việt Nam đã được thực hiện ngay
từ khi Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và được thể chế hóa thông qua ban
hành luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Cho đến nay luật Đầu tư nước ngoài đã
được sửa đổi và hoàn thiện 4 lần vào các năm 1990, 1992, 1996, và gần đây nhất
là năm 2000. Năm 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Đầu tư mới áp dụng chung
cho cả đầu tư trong nước và nước ngoài. So với các đạo luật khác thì gần như
trong cùng thời gian ngắn, đây là đạo luật mà có nhiều thay đổi nhất. Sự thay đổi
này một mặt thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với thành phần
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, mặt khác đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy
luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát
triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo
6
luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập, nâng cao khả năng thu
hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.1.1 Các hiệp ước quốc tế về FDI
- Hiệp định thương mại tự do Việt Nam_ Hoa kỳ (BTA): Là một hiệp định quan
trọng được ký giữa Việt Nam và Hoa kỳ năm 2001, quy định cụ thể về Thương
mại hàng hóa, các quyền sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và việc phát triển
các quan hệ đầu tư giữa hai nước
- Hiệp định về tự do hoá, khuyến khích và bảo hộ đầu tư Việt Nam_ Nhật Bản:
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (tiếng Nhật: 日越経経連携協定,
hay được gọi tắt là JVEPA) là một hiệp định tự do hóa thương mại, dịch vụ, bảo
hộ đầu tư và khuyến khích thương mại điện tử giữa Việt Nam và Nhật Bản,
chính thức ký hiệp định vào ngày 25 tháng 12 năm 2008.
- Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN: được ký kết bởi Chính phủ các
nước Brunei Darussalam, Cộng hoà In-đô-nê-xia, Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
Lào, Ma-lai-xia, Liên bang Myanmar, Cộng hoà Phi-líp-pin, Cộng hoà Xing-ga-
po, Vương quốc Thái Lan và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày
28/01/1992 tại Phillipin nhằm tạo sự thống nhất và tăng cường hợp tác giữa các
nước trong khu vực
- Các cam kết khi Việt nam tham gia WTO: Việc gia nhập WTO là một trong
những nỗ lực nhằm tiếp cận thị trường thương mại toàn cầu, nâng cao vị thế của
Việt Nam trên thị trường thương mại quốc tế, tạo tiền đề hội nhập và phát triển
nền kinh tế. Do vậy Việt Nam tuân thủ các cam kết là cần thiết
7
1.1.1.2 Các quyết định liên quan đến việc đăng ký kinh doanh, thành lập
doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp 2005: Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam quy định
về việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp
gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân. Luật doanh nghiệp 2005 còn quy định về nhóm công ty.
-Nghị định số 101/2006/NĐ-CP quy định việc đăng ký lại, chuyển đổi và đăng
ký đổi Giấy chứng nhận đầu tư của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.
- Thông tư liên tịch số 0505/2008/TTLT/BKH-BTC-BCA giữa Bộ Kế hoạch
Đầu tư và Bộ Tài chính, Bộ Công an
- Vấn đề đất đai, giải phóng mặt bằng
1.1.1.3 Thủ tục quản lý dự án FDI
Ngày 15/1/2001, UBND tỉnh đã ra quyết định số 60/QĐ-UB (quyết định thực
hiện “cơ chế một cửa” về hợp tác đầu tư trong nước và nước ngoài trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc). Quyết định này quy định nội dung chủ yếu để tổ chức thực hiện
quy chế một cửa (một đầu mối) trong việc xúc tiến, quản lý đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở tuân thủ Luật ĐTNN tại Việt Nam,
Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và các văn bản pháp luật có
liên quan để cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi
nhất cho đầu tư phát triển. Hiện nay, cơ chế một cửa liên thông đang thực hiện ở
03 đơn vị: Sở Kế hoạch & Đầu tư thực hiện lĩnh vực cấp phép đăng ký kinh
doanh, mã số thuế và giấy phép khắc dấu; UBND TP Vĩnh Yên thực hiện lĩnh
vực đất đai; Sở Tư pháp thực hiện lĩnh vực hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp.
"Cơ chế một cửa" trong quyết định này được thống nhất hiểu như sau:
8
- "Một cửa" là thực hiện theo một đầu mối, một cơ quan giải quyết
mọi vấn đề liên quan đến nhà đầu tư từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định dự án
đến cấp giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật.
- "Một cửa" không phải là một cơ quan làm thay tất cả các công việc của các
ngành liên quan mà là đầu mối khâu nối tổng hợp ý kiến các ngành trên cơ sở
thống nhất ý kiến của các ngành dưới sự chỉ đạo của UBND tỉnh.
- Nhà đầu tư có nguyện vọng đầu tư vào tỉnh Vĩnh Phúc chỉ phải đến một cơ
quan mà không phải đến nhiều cơ quan để liên hệ công tác từ khâu khảo sát ban
đầu cho đến khi nhận được giấy phép đầu tư.
Biểu đồ 1 : Thủ tục hành chính có liên quan đến thu hút đầu tư
(Nguồn : Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc )
9
1.1.1.4 Chính sách thuế.
a. Chính sách ưu đãi đầu tư của nhà nước:
Thuế thu nhập doanh nghiệp:
- Đối với dự án sản xuất trong KCN: mức thuế suất thuế TNDN là 25% áp dụng
trong suốt thời hạn thực hiện dự án
- Đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao: mức thuế suất thuế TNDN là
10% áp dụng trong 15 năm, sau đó là 25% trong các năm tiếp theo; Dự án được
miễn thuế TNDN trong vòng 04 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm
50% trong 09 năm tiếp theo.
- Đối với dự án có quy mô lớn, công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu
tư thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài nhưng tổng thời gian áp
dụng thuế suất 10% không quá 30 năm. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc
kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất 10% theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ
Tài chính. Dự án được miễn thuế TNDN trong vòng 04 năm kể từ khi có thu
nhập chịu thuế và giảm 50% trong 9 năm tiếp theo.
- Đối với dự án đầu tư trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn
hoá, thể thao và môi trường: mức thuế suất thuế TNDN là 10% trong suốt thời
gian hoạt động áp dụng đối với phần thu nhập của doanh nghiệp. Dự án được
miễn thuế TNDN trong 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp
theo.
- Các loại thuế khác và lệ phí theo quy định hiện hành tại thời điểm nộp thuế
hàng năm.
Các ưu đãi áp dụng chung cho các doanh nghiệp:
10
- Nhà đầu tư được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
trong thời hạn thuê đất, thuê lại đất tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật.
- Miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định cho doanh
nghiệp
- Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành có các quyền lợi và ưu đãi cao
hơn so với quyền lợi và ưu đãi mà nhà đầu tư đã được hưởng trước đó thì nhà
đầu tư được hưởng các quyền lợi và ưu đãi mới trong thời gian ưu đãi còn
lại( nếu có) kể từ ngày pháp luật, chính sách mới có hiệu lực
- Các ưu đãi khác do Chính phủ ban hành tại từng thời điểm.
b. Một số ưu đãi đầu tư và các hỗ trợ của tỉnh:
- Tỉnh xây dựng cơ sở hạ tầng gồm đường giao thông, hệ thống cấp điện, cấp
nước, thông tin liên lạc… đến hàng rào khu công nghiệp;
- Giá thuê đất sẽ được áp dụng ở mức thấp nhất trong khung quy định của Nhà
nước
- Ưu tiên cung ứng lao động và hỗ trợ tiền đào tạo nghề theo yêu cầu từng loại
lao động của dự án, phù hợp với quy định của tỉnh
- Tạo điều kiện thuận lợi để Chủ đầu tư tiếp cận vay vốn ngân hàng trong trường
hợp Chủ đầu tư cần vay;
- Đối với các dự án có quy mô lớn do Chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp tham gia xử
lý. Ngoài ra, tuỳ thuộc vào tính chất, quy mô của từng dự án, tỉnh Vĩnh Phúc sẽ
dành thêm những hỗ trợ khác.
- Bảo hộ tài sản công nghệ, thương mại
11
1.1.2 Môi trường kinh tế- xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.2.1 Kết cấu hạ tầng.
a. Giao thông vận tải
Giao thông vận tải được xác định là một bộ phận rất quan trọng trong kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế và là một trong
những phương tiện hàng đầu liên kết tỉnh với bên ngoài, vì vậy Vĩnh Phúc chú
trọng ưu tiên phát triển giao thông vận tải đi trước một bước.
Vĩnh Phúc có mạng lưới giao thông đa dạng, phân bổ đồng đều trong toàn tỉnh,
bao gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy. Mặt khác, Vĩnh Phúc nằm sát sân
bay quốc tế Nội Bài, do vậy việc đi lại hay vận chuyển hàng hóa hết sức thuận
tiện.
Về đường bộ, có 4 tuyến quốc lộ: Quốc lộ 2, 2B, 2C và quốc lộ 23. Trong đó
quốc lộ 2 là tuyến quan trọng, xuyên suốt từ các tỉnh phía Bắc chạy dọc theo
chiều dài của tỉnh về Hà Nội và nối đến các tỉnh phía Nam, đưa Vĩnh Phúc hòa
nhập vào mạng giao thông của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng
Ninh. Đường sắt Hà Nội – Lào Cai nối với Vân Nam – Trung Quốc đi qua Vĩnh
Phúc có 6 ga, là tuyến giao thông quan trọng, vận tải hàng hóa, hành khách.
Vĩnh Phúc có các con sông lớn đi qua như: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy,
với các cảng sông Chu Phan, Vĩnh Thịnh, Như Thụy có thể vận chuyển nguyên
vật liệu, nhiên liệu, hàng hóa thiết bị, máy móc từ cảng biển Hải Phòng, Quảng
Ninh về Vĩnh Phúc thuận lợi.
Nhằm góp phần thu hút, mời gọi đầu tư, năm 2010, nhiều tuyến đường quan
trọng đã và đang được khởi công phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là
công nghiệp và đô thị. Bên cạnh việc chi trên 1.000 tỷ đồng cho đầu tư phát
triển hạ tầng, tỉnh Vĩnh Phúc đã tích cực mời gọi các doanh nghiệp có năng lực
đầu tư vào lĩnh vực này. Đến nay, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã cơ bản đáp ứng
được yêu cầu của các doanh nghiệp đến đầu tư. Con đường xương sống của tỉnh
12
là quốc lộ 2A đoạn Vĩnh Yên - Nội Bài đã hoàn thành và đưa vào sử dụng
không chỉ giải quyết sự ùn tắc của lượng xe cộ lưu thông mà còn mở rộng hơn
cánh cửa thu hút đầu tư đối với Vĩnh Phúc. Đường từ quốc lộ 2A nối khu công
nghiệp Bình Xuyên với khu công nghiệp Bá Thiện đã hoàn thành; một loạt
tuyến đường khác như đường Nguyễn Tất Thành nối 4 khu công nghiệp, quốc lộ
2B, 2C, Đại Lải - Đạo Tú cũng đang triển khai thi công phục vụ chủ trương
“Đưa công nghiệp lên đồi”.
b. Mạng lưới thông tin và truyền thông
Cùng với sự phát triển nhanh của mạng lưới thông tin trong cả nước, mạng lưới
bưu chính, viễn thông, thông tin trong tỉnh đã đáp ứng được yêu cầu thông tin
phục vụ sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân. Mạng thông tin phục vụ
công tác quản lý ngày càng hiện đại đã đáp ứng được đầy đủ và kịp thời công
tác thông tin phục vụ yêu cầu chỉ đạo, điều hành quản lý của các cấp lãnh đạo.
Hạ tầng viễn thông, thông tin của Vĩnh Phúc đã có những bước phát triển mạnh,
mạng viễn thông trên địa bàn tỉnh được trang bị tổng đài hiện đại, đáp ứng tốt
các dịch vụ và có khả năng nâng cấp, cung cấp các dịch vụ mới. Về mặt phổ cập
dịch vụ, 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã có máy điện thoại, mật độ
thuê bao điện thoại (cả cố định và di động) năm 2010 đạt 48,38 thuê bao/100
dân.
Mạng phục vụ Bưu chính hiện nay đã được phát triển rộng khắp trong toàn tỉnh
đáp ứng các dịch vụ bưu chính cơ bản. Đến hết năm 2010, tất cả các xã đã có
điểm phục vụ, với 176 điểm phục vụ, trong đó có 27 bưu cục và 123 điểm bưu
điện văn hoá xã (BĐVHX). Bán kính phục vụ bình quân là 1,7-1,5 km/điểm, số
dân bình quân được phục vụ là 5.764 người/1 bưu cục. Toàn tỉnh có 211 thùng
thư được đặt ở tất cả các xã, phường, thị trấn.
Mạng viễn thông phát triển mạnh với các công nghệ hiện đại tương đương với
mức trung bình cuả khu vực. Các tổng đài độc lập có dung lượng trên 5.000 số
đang từng bước được thay thế bằng các tổng đài vệ tinh hoặc thiết bị truy nhập
13
V5.x. Tất cả các xã đều có truyền dẫn quang. Có 3 tuyến cáp quang liên tỉnh của
VNPT, Viettel và EVN Telecom hướng Hà Nội - Vĩnh Phúc - Việt Trì.
Truyền dẫn nội tỉnh do viễn thông tỉnh quản lý; kết nối giữa các tổng đài thường
sử dụng từ 2 đến 5 luồng 2 Mb/s. Các tuyến viba nội tỉnh thường sử dụng 2
luồng 2 Mb/s. Về mạng ngoại vi, cáp ngầm thường sử dụng các loại cáp từ 200
đến 600 đôi, các tuyến cáp treo dưới 200 đôi và trên 1000 km cáp đi trong cống.
Có 80.000 đôi cáp gốc và bán kính phục vụ thường từ 4 - 7 km. Do đặc thù địa
lý của tỉnh là diện tích không lớn và địa hình trung du nên mạng viễn thông
nông thôn sử dụng cáp đồng.
Trong tỉnh có đầy đủ các mạng điện thoại di động hiện có trong nước như:
Mobifone, Vinaphone, Viettel Mobile, EVNTelecom, Vietnamobile, G-Tel
Tất cả các huyện trong tỉnh đều có trạm phát sóng. Đến cuối năm 2008 toàn tỉnh
có khoảng 432 trạm BTS, cơ bản đảm bảo thông tin thông suốt trên địa bàn.
Về mạng Internet và VoIP, tại Vĩnh Yên có 1 POP của VDC cung cấp dịch vụ
truy nhập Internet và VoIP. Mạng Internet của Vĩnh Phúc đã triển khai 2 thiết bị
DSLAM cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng tại Vĩnh Yên và Phúc
Yên. Đường truyền băng thông rộng ADSL, truyền hình cáp cũng đang được các
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ triển khai đầu tư lắp đặt thiết bị.
c. Điện lực
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh nằm trong vùng thuận lợi về cung cấp điện
từ lưới điện quốc gia, với việc hệ thống truyền tải và phân phối được quy hoạch
và đầu tư đồng bộ đảm bảo thuận lợi, cung cấp đủ nhu cầu cho phát triển các
khu công nghiệp của tỉnh.
Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã
cùng Tổng Công ty Điện lực Việt Nam có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm
nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện tại, trên địa bàn tỉnh hệ thống cấp điện gồm có:
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét