Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Vận dụng mô hình kim cương để phân tích lợi thế cạnh tranh của Hàn Quốc

KHỐI KIM CƯƠNG CỦA M.PORTER
 Điều kiện các yếu tố sản xuất
Việc đánh giá năng lực cạnh tranh theo yếu tố đầu vào được xây dựng từ năm
nhóm đầu vào, đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyện thiên nhiên, nguồn tri thức,
nguồn vốn và cơ sở hạ tầng. Mỗi nhóm đầu vào lại bao gồm nhiều yếu tố cụ thể
hơn.
Việc duy trì lợi thế cạnh tranh phụ thuộc nhiều vào việc đầu vào đó là đầu vào cơ
bản hay cao cấp, được sử dụng phổ biến hay mang tính chất chuyên ngành. Đầu
vào cơ bản bao gồm nguồn tài nguyên, khí hậu, vị trí địa lí, lao động giản đơn và
nguồn vốn tài chính. Đầu vào cao cấp bao gồm: hệ thống hạ tầng viễn thông hiện
đại, lao động có tay nghề và trình độ cao. Tầm quan trọng của đầu vào cơ bản trong
việc tạo ra lợi thế cạnh tranh ngày một giảm do nhu cầu sử dụng chúng giảm dần.
Ngược lại các đầu vào cao cấp hiện đang là những đầu vào quan trọng nhất giúp
các doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh trình độ cao, đó là lợi thế cạnh tranh
5
Cơ hội
Chiến lược, cơ cấu và môi
trường cạnh tranh ngành
Điều kiện các yếu
tố sản xuất
Điều kiện về cầu
Các ngành hỗ trợ và có
liên quan
Chính
phủ
dựa vào tính chất độc đáo sản phẩm và công nghệ. Tuy nhiên các đầu vào cao cấp
của quốc gia lại được xây dựng từ các nhân tố đầu vào cơ bản.
 Điều kiện về cầu
Sự cấu thành của các nhu cầu tại thị trường địa phương mà nó phản ánh bởi các
khía cạnh thị trường, tính chất tinh vi của người mua và nhu cầu cảu người mua tại
thị trường địa phương tốt như thế nào đối với những người mua khác tại thị trường
nước khác.
Quy mô và mô hình tăng trưởng nhu cầu trong nước có tác dụng tăng cường lợi
thế quốc gia. Quy mô thị trường lớn có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh trong những
ngành có hiệu quả kinh tế nhờ quy mô. Mặt khac, quy mô thị trường lớn cũng có
thể làm giảm sức ép bán hàng ra thị trường quốc tế và do đó làm giảm tính năng
động của doanh nghệp trong nước.
Tốc độ tăng trưởng nhu cầu trong nước nhanh sẽ kích thích doanh nghiệp áp
dụng các công nghệ mới nhanh hơn. Mặt khác nhu cầu bão hòa nhanh chóng cũng
có thể tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước.
 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan
Đối với mỗi doanh nghiệp, các ngành sản xuất hỗ trợ là những ngành sản xuất
cung ứng đầu vào cho chuỗi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó các ngành sản xuất liên quan là những ngành doanh nghiệp phối hợp
hoặc chia sẻ hoạt động thuộc chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh. Nói chung một
quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành hỗ trợ và nhiều ngành liên quan sẽ
tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
 Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành
Khả năng cạnh tranh còn được quyết định bởi các yếu tố như mục tiêu, chiến
lược và cách thức tổ chức doanh nghiệp. Lợi thế cạnh tranh thường là kết quả của
việc kết hợp tất cả các yếu tố trên với cơ sở của lợi thế cạnh tranh .
6
Lợi thế cạnh tranh dựa vào tính chất độc đáo của sản phẩm, hàm lượng công
nghệ hơn là lợi thế về tài nguyên và chi phí lao động thấp. Toàn bộ ngành công
nghiệp sẽ tiến bộ nhanh hơn do những ý tưởng mới được phổ biến và ứng dụng
nhanh hơn.
 Vai trò của chính phủ và cơ hội
Chính phủ có thể tác động tới tới lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua 4 nhóm
nhân tố là các điều kiện nhân tố đầu vào, nhu cầu trong nước, các ngành công
nghiệp hỗ trợ và liên quan, chiến lược, cơ cấu và môi trường cạnh tranh.
Cơ hội là những sự kiện xảy ra ít liên quan đến tình trạng hiện tại của quốc gia
và thường nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của các công ti.Các cơ hội rất quan trọng
vì chúng tạo ra sự thay đổi bất ngờ cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh.
3. Vai trò của đổi mới, cải tiến theo M. Porter
Porter tin rằng sự đổi mới (cũng được hiểu là sự cải tiến, sáng tạo, tìm tòi) là
thách thức chính trong mục tiêu nâng cao năng suất và mở rộng quy mô trên toàn
cầu.
Porter thường xuyên nhấn mạnh rằng sản xuất chiếm vai trò trọng tâm quyết
định khả năng cạnh tranh và sự thịnh vượng của một quốc gia .Sản xuất tốt giống
như một chiếc chìa khóa vạn năng đem lại nhiều giá trị về kinh tế.
Theo Porter, không có ngành công nghiệp công nghệ thấp, mà chỉ có các công
ty công nghệ thấp, những người chưa đủ nhận thức để tiến bộ và biết cách làm
tăng giá trị của những gì họ sản xuất. Theo ông, khả năng cạnh tranh của một quốc
gia ngày nay lại phụ thuộc vào khả năng sáng tạo và sự năng động của ngành của
quốc gia đó. Khi thế giới cạnh tranh mang tính chất toàn cầu hóa thì nền tảng cạnh
tranh sẽ chuyển dịch từ các lợi thế tuyệt đối hay lợi thế so sánh mà tự nhiên ban
cho sang những lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và duy trì vị thế cạnh tranh
lâu dài của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế.
7
Khi nền tảng của cạnh tranh càng chuyển dịch sang sự sáng tạo và tri thức mới
thì vai trò của quốc gia càng tăng lên. Lợi thế cạnh tranh quốc gia được tạo ra và
thông qua quá trình địa phương hóa cao độ. Sự khác biệt về giá trị quốc gia, văn
hóa, cấu trúc kinh tế, thiết chế và lịch sử, tạo nên ưu thế quyết định sự thành công
trong cạnh tranh. Các quốc gia thành công ở một số ngành trên thị trường toàn cầu
vì môi trường trong nước của họ năng động, đi tiên phong và nhiều sức ép nhất.
Các Công ty của họ thu được lợi thế so với các đối thủ quốc tế nhờ việc có các đối
thủ mạnh trong nước, nhờ có các nhà cung cấp có khả năng trong nước, nhờ sự
phong phú nhu cầu khách hàng trong nước và sự liên kết chặt chẽ của các ngành
phụ trợ. Chẳng hạn, các nước nổi tiếng về du lịch như Ý và Thái Lan đã tận dụng
lợi thế so sánh về thiên nhiên và các công trình văn hóa di tích lịch sử để phát triển
ngành công nghiệp không khói này rất thành công và hiệu quả. Tuy nhiên, họ thành
công không phải chỉ dựa vào những di sản văn hóa và thiên nhiên ban cho, mà vì
họ đã tạo ra cả một nền kinh tế phục vụ cho du lịch với rất nhiều dịch vụ gia tăng
kèm theo, từ dịch vụ khách sạn, nhà hàng, lễ hội đến các dịch vụ vui chơi giải trí,
các trung tâm mua sắm và các chương trình tiếp thị toàn cầu. Điều đó đã tạo cho họ
có lợi thế cạnh tranh quốc gia mà các nước khác khó có thể vượt trội. Điều này
đồng nghĩa với việc bất kể ngành công nghiệp nào cho dù trực thuộc một quốc gia
có tính chuyên môn sản xuất cao cũng có thể mất đi một lợi thế cạnh tranh đáng kể
nếu chưa biết cách kiểm soát và điều chỉnh các lợi thế về công nghệ các lợi thế
công nghệ. Điều này đưa chúng ta trở lại với sự khác biệt giữa các quốc gia tiên
tiến và các nước đang phát triển. Nhóm nước phát triển có sự đầu tư mạnh mẽ vào
sản xuất còn các nước đang phát triển thì khả năng này yếu hơn, những giá trị họ có
thể bổ sung cho sản xuất là rất thấp.Vậy làm thế nào để rút ngắn sự chên lệch này
chúng tôi nhận ra rằng giải pháp duy nhất cho các đất nước đang phát triển là một
sự gia tăng về năng suất ròng. Vậy cần phải làm như thế nào? Điều này chỉ có thể
thực hiện nhờ khả năng sáng tạo. Theo ý tưởng của Porter, các nước phát triển hiện
8
nay đang và sẽ giữ ổn định một bước tiến về đổi mới, cho phép các nước đang phát
triển không gian để sản xuất hàng hóa và dịch vụ còn các nước kém phát triển đang
cạnh tranh tìm cách thích nghi và do đó bắt đầu quá trình công nghiệp hóa và phát
triển, cho đến khi mình có thể cạnh tranh về sự đổi mới. Cần có sự sáng tạo và cải
tiến trong 3 vấn đề cơ bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền
vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành.
Trong trường hợp của Hàn Quốc, sự đổi mới là chìa khóa trung tâm của mọi
thành công.
II. Ứng dụng mô hình kim cương vào Hàn Quốc
1. Điều kiện các yếu tố sản xuất
Hàn Quốc là một nước thuộc khí hậu ôn hòa. Đây là điều kiện tốt cho sự phát
triển bởi ít chịu ảnh hưởng những tác động xấu của thiên nhiên như: hạn hán, bão
lũ…Tuy nhiên, nhìn chung, nguồn tài nguyên thiên nhiên của Hàn Quốc rất hạn
chế : diện tích đất đai nhỏ hẹp chỉ với khoảng 100 nghìn km2, chủ yếu là đồi núi
với trữ lượng tương đối các khoáng sản như: than, vonfram, than chì. Về vị trí địa
lý, Hàn Quốc là một quốc gia thuộc Đông Á, nằm ở nửa phía nam của bán đảo
Triều Tiên.Phía Bắc giáp với Bắc Triều Tiên.Phía Đông Hàn Quốc giáp với biển
Nhật Bản, phía Tây là Hoàng Hải.Có thể nói, đây vừa là khó khăn, vừa là một lợi
thế đối với Hàn Quốc.Khó khăn là bởi, đường biên giới trên đất liền duy nhất của
Hàn Quốc là tiếp giáp với Triều Tiên – một quốc gia luôn duy trì một cách nghiêm
ngặt chính sách đóng cửa nền kinh tế và có nhiều mâu thuẫn với Hàn Quốc. Nhưng
lợi thế là nhờ nằm trong lục địa Châu Á,– một châu lục năng động, luôn đạt tốc
tăng trưởng và phát triển cao và giữa 2 cường quốc trên thế giới là Nhật Bản và
Trung Quốc. Điều này đã tạo điều kiện học hỏi và phát triển cho Hàn Quốc.
Đối với các yếu tố cao cấp, cần phải đề cập đến đầu tiên là một hạ tầng viễn
thông hiện đại.Người dân Hàn Quốc luôn được tiếp xúc với những sản phẩm công
nghệ cao. Từ những đường ray tàu điện ngầm cho đến những thiết bị giải trí rất đa
9
dạng, những chiếc điện thoại di động đa chức năng…người ta nhận thấy rằng, xét
về công nghệ, Hàn Quốc có thể đi trước nhiều nước ở Châu Âu cũng như Châu Mỹ.
Hàn Quốc còn được xếp thứ 4 về số lượng kết nối internet và là người tiên phong
trong việc sử dụng kết nối tốc độ cao. Ngoài ra, Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên ứng
dụng và phát triển Wibro – một công nghệ mới về internet bang rộng không dây tốc
độ cao. Cùng với công nghệ truyền hình kỹ thuật số DMB, công nghệ truyền hình
Internet (IPTV), Wibro đã đưa Hàn Quốc trở thành một trong những quốc gia tiến
tiến nhất trên thế giới.
Tiếp theo, không thể không nhắc đến hệ thống giáo dục chất lượng cao của Hàn
Quốc. Cũng giống như Nhật Bản, bị ảnh hưởng bởi triết lý Khổng Tử, giáo dục
Hàn Quốc mang tính hà khắc và chuẩn tắc. Những yêu cầu cao trong việc học hành
cũng như trong các kì thi trong nước đã giúp cho sinh viên Hàn Quốc luôn giành
được thứ hạng cao trong các bài kiểm tra so sánh quốc tế, đưa Hàn Quốc lên vị trí
thứ hai về toán học, văn học và vị trí dẫn đầu về giải quyết vấn đề. Điều này đã
giúp cho Hàn Quốc có được một nguồn nhân lực chất lượng cao, những lao động
có tay nghề…
Cuối cùng, cần phải nhắc đến yếu tố văn hóa và lịch sử riêng có của vùng Nam
Triều Tiên này. Cách đây nửa thế kỷ, đất nước này đã phải trải qua cuộc chiến
tranh với người anh em Bắc Triều Tiên, dẫn đến sự phân cắt đất nước thành hai
vùng riêng biệt, đối nghịch nhau về thể chế chính trị : một đi theo chế độ cộng hòa
( Bắc Triều Tiên), một đi theo chế độ tư bản (Hàn Quốc). Chính điều này đã tạo
thành một động lực, thúc đẩy những người dân Hàn Quốc làm việc chăm chỉ hơn,
với mong muốn thể hiện ưu thế vượt trội của người Nam so với người Bắc. Xét về
góc độ văn hóa, người Hàn Quốc cũng giống như người Nhật Bản ở phong cách
làm việc đầy trách nhiệm và tập trung. Từ những người công nhân kĩ thuật cho đến
những nhân viên văn phòng, họ không nề hà cống hiến sức lao động cũng như thời
10
gian lao động cho công việc. Chính vì vậy mà lực lượng của Hàn quốc không chỉ
có tay nghề cao mà còn có những phẩm chất thiết yếu cho công việc.
Từ những phân tích trên cho thấy, mặc dù không có nhiều thuận lợi về mặt tự
nhiên, nhưng Hàn Quốc đã biết tạo ra những ưu thế cho mình bằng chính sự nỗ lực
của toàn nhân dân cùng với những đường lối phát triển đúng đắn của chính phủ.
Điều này là nền tảng vững chắc cho Hàn Quốc không ngừng vươn lên, trở thành
một trong 4 con rồng của Châu Á.
2. Điều kiện nhu cầu trong nước
Tốc độ tăng trưởng nhu cầu trong nước có thể được xem xét qua tình hình xuất
nhập khẩu được biểu hiện qua mô hình dưới đây:
(Nguồn: Hội thảo, Nhật Bản và Hàn Quốc đối với toàn cầu hóa)
11
Sơ đồ trên cho thấy, nhìn chung, lượng nhập khẩu cũng như xuất khẩu của Hàn
Quốc có xu hướng tăng lên, đặc biệt trong những năm gần đây. Tuy nhiên, từ năm
1997 trở lại đây, xuất khẩu luôn cao hơn nhập khẩu, thể hiện sự ưa thích của người
dân trong nước cũng như ngoài nước đối với sản phẩm của Hàn Quốc. Với một
lượng cầu lớn và ngày càng tăng lên như vậy đã tạo nên động cơ để các doanh
nghiệp đổi mới sản phẩm, cải tiến kỹ thuật, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản
xuất…tạo nên một lợi thế cạnh trang cho sản phẩm của Hàn Quốc trên thế giới.
Một ví dụ rõ nét nhất là về các sản phẩm điện thoại di động của một hãng sản xuất
rất nổi tiếng của Hàn Quốc là Sam Sung. Nhờ vào ưu điểm mẫu mã đẹp; đa dạng
về chức năng, phong phú về hình thức; giá thành hợp túi tiền, mà những chiếc điện
thoại Samsung đã chinh phục được người tiêu dùng không chỉ trong nước mà còn
trên toàn thế giới.
Điều kiện nhu cầu trong nước còn được thể hiện rõ nét qua tốc độ tăng GDP
cả nước được thể hiện ở bảng dưới đây
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tỷ
đôla
345,43
2
504,586 575,929 643,762 732,975 844,863 951,773
1,049
triệu
931,402
834,0
6
1,014
triệu
(Nguồn: Ngân hàng thế giới)
Nhìn chung, GDP của Hàn Quốc luôn tăng đều qua các năm và đã vượt ngưỡng
1 triệu tỷ đôla vào năm 2007 và 2010. Điều này cho thấy một nền kinh tế phát triển
rất vững mạnh, xứng tầm vị trí 12 trên Thế giới. Cùng với sự tăng trưởng của Tổng
sản phẩm quốc nội thì sức mua của người dân cũng ngày càng được nâng cao, quy
mô thị trường tiêu thụ trong nước lớn giúp các doanh nghiệp trong lĩnh vực công
nghiệp điện tử hay sản xuất ôtô đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, tạo lợi thế
cạnh tranh so với các nước khác.
12
Giáo dục Hàn Quốc cũng góp phần tạo nên đặc trưng của cầu trong nước thông
qua việc nâng cao nhận thức của người dân.Trình độ học vấn càng cao thì yêu cầu
về chất lượng, mẫu mã sản phẩm…ngày càng khắt khe hơn. Với nền giáo dục
nghiêm khắc theo quan điểm Đạo Khổng đã tạo nên cho Hàn Quốc những con
người luôn đặt yêu cầu cao về sản phẩm. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp Hàn
Quốc luôn chịu áp lực đáp ứng những tiêu chuẩn cao đó, tạo ra lợi thế cạnh tranh
khi mở rộng ra thị trưởng ngoài nước.Như vậy có thể nói, chính những quan điểm,
thị hiếu của người dân trong nước đã góp phần hình thành nên lợi thế cạnh tranh
cho các sản phẩm của Hàn Quốc trên trường quốc tế.
3. Các ngành hỗ trợ và liên quan
a. Các ngành công nghiệp hỗ trợ
Duy trì sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc là những ngành công nghiệp then
chốt và đã được thế giới công nhận. Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế
giới; chất bán dẫn: đứng thứ 3 thế giới; hàng điện tử: đứng thứ 4. May mặc, sắt
thép và các sản phẩm hóa dầu của Hàn Quốc đứng thứ 5 nếu xét về tổng giá trị và ô
tô đứng thứ 6 trên thế giới. Chiếm khoảng 11% thị phần toàn cầu, ngành sản xuất
chất bán dẫn của Hàn Quốc là một ngành công nghiệp mũi nhọn đặc biệt là khi nói
tới bộ nhớ động và chíp hệ thống (SOC).
Trong năm 2004, thanh DRAM (bộ nhớ truy xuất động) của Hàn Quốc đứng thứ
nhất trên thế giới với thị phần 47.1%.
b. Các ngành liên quan
 Mạng lưới truyền thông
Hàn Quốc được thế giới biết đến như một trong những nước đi đầu về công nghệ
thông tin và được đánh giá cao về tỉ lệ kết nối Internet tốc độ cao. 11 triệu trong
tổng số 16 triệu hộ gia đình ở Hàn Quốc kết nối mạng Internet băng thông rộng.
Trên 70% trong tổng số 48 triệu dân sử dụng và truy cập mạng thông tin Internet
hàng ngày và đã trở thành nước đi đầu trên thế giới trong xây dựng Chính phủ điện
13
tử. Hàn Quốc hiện đang là quốc gia đề xướng các xu thế công nghệ thông tin và
truyền thông của toàn cầu, với tốc độ phát triển công nghệ không dây cao nhất và
cơ sở hạ tầng tiên tiến. Tăng trưởng mạnh nhất là sự chuyển đổi nhanh của quốc gia
này từ mạng điện thoại cố định hữu tuyến sang truyền thông không dây, hiện đã
phổ cập gần 100% đất nước này. Năm 1960, Hàn Quốc có tỷ lệ hộ dân sử dụng
điện thoại là 36%, gần bằng 1/10 tỷ lệ trung bình của thế giới vào lúc đó. Hiện nay,
hơn 92% hộ gia đình ở Hàn Quốc đã có điện thoại cố định, đồng thời hơn 75% dân
số gồm 48 triệu người của đất nước này thuê bao các dịch vụ di dộng. Thành công
về viễn thông của Hàn Quốc một phần là do Chính phủ đã thành công khi đặt mục
tiêu vào các ngành công nghiệp chủ chốt. Chính phủ đã thúc đẩy lĩnh vực công
nghệ thông tin và truyền thông, coi đó là động lực tăng trưởng mới sau cuộc khủng
hoảng tài chính của châu Á năm 1997-1998 và tập trung nỗ lực nâng cấp cơ sở hạ
tầng và tạo lập môi trường thị trường hỗ trợ cho các hãng và người tiêu dùng.
 Mạng lưới giao thông
Về mạng lưới giao thông, Hàn Quốc có 63200 km đường bộ trên tổng diện tích
99.538 km2 trong khi tỷ lệ đó ở Pháp là 894 000km đường bộ trên tổng diện tích
674 843km 2 . Mạng lưới giao thông đường bộ ở Hàn Quốc cần phải được mở
rộng. Cũng tương tự với hệ thống đường sắt tại quốc gia này. Tuy nhiên, Hàn Quốc
lại có lợi thế về giao thông đường không, trong số 10 cảng hàng không có tới 4
cảng là cảng quốc tế, trong khi tại Pháp con số này là 1/10. Hàn Quốc do đó mà có
lợi thế tốt hơn về cơ sở hạ tầng vận chuyển hàng không đến các công ty xuất khẩu
trong nước cũng như các nước nhập khẩu. Hàn Quốc có 10 cảng trong đó có 2
cảng rất lớn là Pusan và Icheon ( Pusan là cảng lớn thứ năm thế giới về lưu lượng
container). Việc phát triển cơ sở hạ tầng là một lợi thế rất lớn đối với một quốc gia
đặc biệt trong trường hợp của Hàn quốc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét