Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Các biện pháp hoàn thiện tổ chức hoạt động marketing hội chợ thương mại của công ty Vitex.

cứu và vận dụng có thể dựa vào một số các tiêu tiêu thức để phân loại hội chợ th-
ơng mại nh sau:
1.1.2.1. Phân loại theo tính chất ngành hàng:
- Hội chợ triển lãm tổng hợp: Với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp
trong nớc và nớc ngoài thuộc nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. Các mặt hàng đ-
ợc trng bày tại đây có các hàng tiêu dùng, hàng công nghiệp, các dây chuyền
công nghệ và có thể là các dự án đang kêu gọi vốn đầu t nhằm mục đích giới
thiệu và bán sản phẩm. Các hội chợ này thờng có quy mô quốc tế.
- Hội chợ triển lãm chuyên ngành: Mục đích của loại hội chợ này là giới
thiệu sản phẩm của một lĩnh vực kinh tế nào đó trong nền kinh tế nh: Hội chợ
công nghiệp, triển lãm môi trờng, hội chợ xanh, hội chợ triển lãm ngành hoá
chất, hội chợ viễn thông, tin học, xây dựng. Những hội chợ này thờng đợc tổ
chức cho giới kinh doanh đến thăm. Tuy nhiên cũng có công chúng vào thăm nh-
ng chỉ trong một thời gian nhất định. Nó mang tính chất triển lãm nhiều hơn.
1.1.2.2. Phân loại theo chu kỳ:
- Hội chợ thơng mại định kỳ: thờng đợc tổ chức hàng năm vào một thời
gian và địa điểm nhất định. Đây là cuộc hội chợ thơng mại tổng hợp với một quy
mô lớn và mang một ý nghĩa rất lớn trong nền kinh tế, khách hàng tham quan
đông và quen thuộc giới thiệu những sản phẩm có thị trờng lớn, thờng là nơi gặp
mặt đông đủ các doanh nghiệp, thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề
trong cả nớc và quốc tế. Vì vậy nó luôn giành đợc sự quan tâm đặc biệt của
khách hàng và giới kinh doanh.
- Hội chợ thơng mại không định kỳ: Là hội chợ thơng mại đợc tổ chức rải
rác trong các năm và thờng không có sự tổ chức lại vào các năm kế tiếp. Hội chợ
đợc tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp có sản phẩm phẩm ở
các thị trờng hẹp hơn nh: các địa phơng, các ngành kinh tế. Các hội chợ này th-
ờng có quy mô không lớn so với các hội chợ thơng mại đợc tổ chức định kỳ.
1.1.2.3. Phân loại theo phạm vi tổ chức:
5
- Hội chợ thơng mại quốc tế: đợc tổ chức ở trong nớc hoặc ở nớc ngoài với
sự tham gia của khách hàng từ nhiều quốc gia khác nhau, theo nội dung thì có
thể là hội chợ tổng hợp hay hội chợ chuyên ngành, định kỳ hay không định kỳ
nh triển lãm hàng không Pháp, hội chợ triển lãm Hambuốc (Đức), hội chợ quốc
tế hàng công nghiệp Việt Nam tháng 10, triển lãm quốc tế TECDM về viễn
thông tháng 11 năm 2001, hội chợ triển lãm quốc tế EXPO tháng 4 hàng năm ở
Việt Nam. Trong một số hội chợ này thờng đợc cấp huân chơng, chứng chỉ, bằng
về chất lợng, giá trị sản phẩm.
- Hội chợ thơng mại trong nớc: Khách hàng tham gia hội chợ này chỉ gồm
các doanh nghiệp trong nớc nhằm tiếp xúc bán hàng, phát huy nội lực của các
doanh nghiệp nội địa nh hội chợ xuân, hội chợ thời trang, hội chợ hàng tiêu dùng
Việt Nam chất lợng cao.
- Hội chợ thơng mại địa phơng: Những hội chợ này đợc tổ chức trong
phạm vi của tỉnh, thành phố hoặc một địa phơng nào đó với sự tham gia của các
doanh nghiệp trong địa phơng đó nhằm khuyến khích phát triển kinh tế địa ph-
ơng và hợp tác liên doanh.
1.1.3. Các chủ thể tham gia hội chợ thơng mại:
Bất kỳ một cuộc hội chợ triển lãm nào, kể cả hội chợ địa phơng, hội chợ
triển lãm thơng mại quốc tế hay hội chợ tổng hợp cũng đều gồm 3 thành phần
chính:
- Ngời tổ chức.
- Ngời tham dự.
- Khách tham quan.

H- 1.1: Mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hội chợ thơng mại.
1.1.3.1. Ngời tổ chức:
6
Người tổ chức
Lựa chọn giá
thích hợp
Người tham dự
(doanh nghiệp)
Khách tham
quan
Là ngời đứng ra tổ chức hội chợ thơng mại, là ngời đề ra chủ đề hội chợ
thơng mại, ổn định thời gian và địa điểm tổ chức cũng nh là ngời đứng ra vận
động các doanh nghiệp tham gia vào hội chợ thơng mại. Ngời tổ chức là ngời
đóng vai trò của ngời trung gian tạo điều kiện tiếp xúc giữa các doanh nghiệp với
các khách hàng tham quan triển lãm.
Ngời tổ chức có thể là cơ quan chuyên ngành nhng cũng có thể là đơn vị
liên quan trong bộ máy quản lý của nhà nớc. Theo quy định của chính phủ, ở
Việt Nam ngời tổ chức một cuộc hội chợ triển lãm do Bộ thơng mại cấp. Ngời tổ
chức có thể là nhiều doanh nghiệp khác nhau nhng ít nhất cũng phải có một
doanh nghiệp có giấy phép kinh doanh hội chợ thơng mại.
1.1.3.2. Ngời tham dự:
Đây là thành phần cốt lõi của một cuộc hội chợ triển lãm thơng mại. Nó
quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc hội chợ thơng mại đó. Ngời tham
dự chính là các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trờng.
Qua hội chợ thơng mại, các doanh nghiệp tham gia có thể đa thông tin trực tiếp
tới công chúng và bạn hàng, tìm các nhà phân phối có tiềm lực mạnh hay tìm đ-
ợc nguồn đầu t có lãi xuất u đãi và đó chính là mục tiêu cụ thể đặt ra cho các nhà
doanh nghiệp khi tham gia. ở đây ta phải đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa các
doanh nghiệp với nhau trong một kỳ hội chợ thơng mại chuyên đề với ý nghĩa là
nơi giao lu kinh tế, mở rộng hợp tác. Điều này càng chứng tỏ tại sao số lợng các
doanh nghiệp tham gia hội chợ thơng mại quốc tế ngày càng tăng nhất là các
cuộc triển lãm chuyên đề có quy mô lớn.
1.1.3.3. Khách tham quan:
Đó là những ngời đặc biệt quan tâm tới các sản phẩm trng bày trong hội
chợ thơng mại, họ đến đó để tìm kiếm những thông tin phục vụ cho mục đích
riêng của mình. Thành phần những ngời mua và khách tham quan rất phong phú,
nhất là trong các cuộc hội chợ thơng mại tổng hợp. Không chỉ ít ngời đến đó chỉ
với mục đích đơn giản là thoả mãn óc tò mò của họ và họ có thể tìm kiếm những
giây phút th giãn khi ngẵm nhìn các hàng hoá trng bày.
7
Tuy nhiên quan trọng nhất là những ngời đến tham quan triển lãm vì mục
đích kinh tế thực sự. Họ có thể là thành viên của một số tổ chức, cơ quan hay
doanh nghiệp nào đó, do các điều kiện và hoàn cảnh nào đó nhất định mà không
thể tham gia hội chợ thơng mại. Họ đến đây là để mua một mặt hàng cụ thể nào
đó đợc trng bày bán trong các kiốt của hội chợ.
1.1.4. ý nghĩa của hội chợ thơng mại trong kinh doanh hiện đại của
các doanh nghiệp nớc ta:
Các hội chợ thơng mại có vai trò to lớn đối với hoạt động của các nhà kinh
doanh nói riêng và tổng thể nền kinh tế quốc dân nói chung. Tham dự hội chợ th-
ơng mại sẽ giúp tuyên truyền, khuếch trơng cho sản phẩm, hình ảnh của công ty.
Thiết lập, mở rộng, phát triển quan hệ của công ty với các đối tợng khách hàng
khác nhau và nhận biết, dự báo tình hình cạnh tranh. Ngày nay, việc tổ chức hợp
lý và hiệu quả một hội chợ thơng mại sẽ giúp cho công ty có thể nghiên cứu thị
trờng mục tiêu, nhu cầu tiêu dùng tại thị trờng đó để từ đó có sự tác động hiệu
quả vào tập khách hàng trong điểm của doanh nghiệp. Đồng thời có chiến lợng
kinh doanh hiệu quả cũng nh việc cải tiến, thay đổi các biến số marketing-mix
một cách phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt
Nam vào thị trờng mục tiêu đó. Mặt khác thông qua các hội chợ thơng mại giúp
cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể lựa chọn đợc thị trờng mục tiêu phù hợp
với khả năng, nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp mình. Bên cạnh đó việc tổ
chức hợp lý các hội chợ thơng mại quốc tế cũng sẽ đẩy mạnh đợc khả năng giao
lu kinh tế ở trong nớc và trong nớc với quốc tế, phát huy đợc thế mạnh kinh tế
của các địa phơng, các ngành và các doanh nghiệp, thị trờng trong nớc đợc phát
triển sôi động và là một công cụ quan trọng để đẩy mạnh sự hội nhập nền kinh tế
nớc ta với nền kinh tế khu vực và thế giới, đối tợng khách hàng đợc tiếp cận rộng
rãi, nhanh chóng hơn với các tiến độ, các thành tựu trong phát triển kinh tế, các
doanh nghiệp có điều kiện thẩm định chính xác hơn năng lực cạnh tranh, định h-
ớng và nâng cao kết quả, hiệu quả kinh doanh của mình.
8
1.2. Phận định nội dung của marketing dịch vụ hội chợ th-
ơng mại
1.2.1. Các khái niệm cốt lõi:
1.2.1.1. Sản phẩm dịch vụ hội chợ thơng mại.
Sản phẩm dịch vụ là một tập hợp các giá trị làm thoả mãn khách hàng. Giá
trị đợc xác định ở ngời mua theo mối quan hệ với lợi ích mà họ nhận đợc. Điều
quan trọng là chúng ta cần thấy rằng mọi khách hàng đề không giống nhau do đó
những yêu cầu của khách hàng rất khác nhau về các lợi ích, những đặc trng và
thuộc tính rất khác nhau đối với từng loại thị trờng. Điều này đợc minh chứng rõ
ràng qua bản chất của sản phẩm dịch vụ.
+ Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ hội chợ thơng mại.
Các dịch vụ đều vô hình, chúng ta không thể nhìn thấy đợc, không nếm đ-
ợc, không nghe, ngửi, cảm thấy đợc trớc khi mua chúng. Để giảm bớt mức độ
không chắc chắn ngời mua sẽ tìm kiếm những dấu hiệu hay bằng chứng về chất
lợng của dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lợng dịch vụ từ địa điểm, con ngời, thiết
bị, tài liệu thông tin, biểu tợng và giá cả mà họ thấy.
+ Tính không tách rời khỏi nguồn gốc của dịch vụ hội chợ thơng mại.
Việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ song song với việc cung ứng dịch vụ.
+ Tính không ổn định về chất lợng.
Sản phẩm dịch vụ phi tiêu chuẩn hoá, có giá trị cao.
+ Tính không lu giữ đợc:
Sản phẩm dịch vụ tiêu dùng trự tiếp hoặc chóng hỏng không có khả năng
cất giữ trong kho.
Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên
kia và chủ yếu là không sờ thấy đợc và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì
đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có và cũng có thể không liên quan đến hàng
hoá dới dạng vật chất của nó. Ngoài những đặc tính trên của dịch vụ hội chợ th-
ơng mại thì hoạt động hội chợ thơng mại cũng là một loại hàng hoá trên thị tr-
ờng, nó cũng có đủ hai thuộc tính của hàng hoá đó là nhu cầu của sản xuất kinh
9
doanh muốn giới thiệu, quảng cáo, bán sản phẩm trực tiếp tới tay ngời tiêu dùng
và nhu cầu đợc xem và đợc lựa chọn các loại sản phẩm mới. Khác với các loại
hàng hoá khác hoạt động dịch vụ hội chợ thơng mại là hàng hoá dịch vụ gồm
nhiều dịch vụ cộng lại. Ngoài ra hội chợ thơng mại còn là hình thức xúc tiến th-
ơng mại trực tiếp, tiếp nhận nhiều nguồn thông tin thực tế từ đối thủ, đánh giá
sản phẩm từ ngời tiêu dùng, có cơ hội để ký kết hợp đồng mua bán, liên kết làm
tăng thu nhập cho các doanh nghiệp tham gia.
1.2.1.2. Khách hàng của hội chợ thơng mại :
Dựa trên những thông tin đã thu thập đợc thì các nhà tổ chức sẽ lựa chọn
những thị trờng và khách hàng của mình.
Khách hàng tham gia hội chợ thơng mại là những pháp nhân có nhu cầu tr-
ng bày hoặc bán các sản phẩm của mình trong hội chợ thơng mại. Nói cách khác
đó là các doanh nghiệp, tổ chức tham dự với mục đích giới thiệu và quảng cáo
các sản phẩm mới cho ngời tiêu dùng nhằm củng cố vị trí cho sản phẩm của
doanh nghiệp trên thị trờng.
Do đó trong đó trong quá trình nghiên cứu thị trờng và khách hàng thì các
nhà tổ chức hội chợ thơng mại cần có những câu hỏi sau:
- Ai tham gia thị trờng này?
- Ngời tham gia quyết định mua dịch vụ gì?
- Cái gì ảnh hởng đến quyết định của ngời mua?
- Ngời mua quyết định nh thế nào?
Với mỗi loại hội chợ thơng mại thì việc lựa chọn những khách hàng trọng
điểm sẽ khác nhau. Đối với các hội chợ thơng mại đa ngành thì thị trờng khách
hàng rộng lớn hơn so với hội chợ thơng mại chuyên ngành, hội chợ thơng mại
quốc tế rộng hơn hội chợ thơng mại trong nớc. Vì lý do trên, các nhà tổ chức cần
phải có sự lựa chọn khách hàng sao cho phù hợp với chủ đề của từng hội chợ thơng
mại.
Khách hàng tham gia hội chợ thơng mại, trng bày và bán các sản phẩm
dịch vụ trong hội chợ thơng mại thờng là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh
10
loại hàng hoá dịch vụ nào đó, sản phẩm mà họ mua ở đây chính là việc tham gia
vào các hội chợ thơng mại và những lợi ích, hiệu quả thu đợc sau mỗi lần tham
gia hội chợ thơng mại.
Việc họ tham gia trng bày là để giới thiệu hoặc bán sản phẩm của mình
cho ngời tiêu dùng hoặc nhằm mục đích tìm kiếm bạn hàng, nhà đầu t, nhà nhập
khẩu, xuất khẩu và các hoạt động kinh tế khác. Mặt khác họ hy vọng có đợc một
số lợi ích mới nh hình thành danh sách mối tiêu thụ mới, duy trì sự tiếp xúc với
khách hàng, giới thiệu sản phẩm mới, gặp gỡ các khách hàng mới, bán đợc nhiều
hàng hơn cho các khách hàng hiện có, và giáo dục khách hàng bằng những ấn
phẩm phim ảnh và t liệu nghe nhìn. Ngoài số khách hàng tham gia thì lợng
khách tham quan cũng góp phần không nhỏ vào việc thu lợi nhuận cho ban tổ
chức, lợng khách hàng này còn là còn là mối liên hệ trực tiếp với khách hàng
tham gia trng bày. Nếu nhà sản xuất hay nhà cung cấp nào mà làm tốt đợc việc t
vấn cho khách hàng những hàng hoá mà họ quan tâm thì sẽ thu hút đợc lợng
khách hàng tơng lai rất lớn cho sản phẩm của chính họ.
1.2.1.3.Thị trờng của hội chợ thơng mại.
Thị trờng khách hàng . Công ty trớc hết phải tập trung marketing vào thị
trờng khách hàng.Đó là nhu cầu của ngời mua đối với loại sản phẩm dịch vụ nào
đó. Mức tác động thấp nhất của marketing vào thị trờng này là xây dựng mối
quan hệ lâu dài với khách hàng và thu hút khách hàng mới. Có thể tiếp cận khách
hàng thông qua marketing giao dịch hoặc marketing quan hệ. Khách hàng dịch
vụ rất nhạy cảm, cần nghiên cứu các yếu tố văn hoá xã hội, kinh tế, chính trị chi
phố họ.
Thị trờng chuyển giao.Thị trờng chuyển giao xuất hiện giữa công ty và các
loại khách hàng của mình.Thị trờng này đợc hình thành từ nội tại giữa các dịch
vụ thành phần, các dịch vụ phụ của hệ thống quá trình dịch vụ do nhiều thành
viên tham gia cung ứng. Họ phụ thuộc nhau, cung cấp dịch vụ cho nhau và cho
khách hàng. Do đó mức độ trung thành và sự thoả mãn của họ là yếu tố rất quan
trọng. Không phải chỉ khách hàng tiêu dùng dịch vụ mới là nguồn của sự chuyển
giao.
11
Thị trờng cung cấp. Thị trờng cung cấp ngày càng có nhiều biến đổi và trở
nên rất quan trọng không chỉ đôí với dịch vụ mà còn đối với hàng hoá hiện hữu.
Sản xuất hàng hoá càng phát triển, phân công lao động càng sâu sắc.Sự phụ
thuộc lẫn nhau trong sản xuất kinh doanh càng nhiều ,đó là nhân tố chủ yếu thúc
đẩy thị trờng này phát triển.
Thị trờng tuyển dụng (bổ sung). Nguồn lao động có kỹ năng luôn cần thiết
và bức xúc trong chuyển giao dịch vụ. Đây là nguồn lực rất khan hiếm đối với
các tổ chức kinh doanh dịch vụ và các tổ chức kinh doanh khác. Thị trờng tuyển
dụng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, trong đó bao hàm cả yếu tố phi kinh tế
nh nhân khẩu xã hội, tự nhiên quan hệ cung cầu trong thị tr ờng này diễn ra rất
phức tạp và biến động. Do yêu cầu chất lợng dịch vụ cao, nhu cầu lại năng động
nên đòi hỏi lao động vừa có kỹ năng chuyên sâu cao lại vừa đa dạng ở một số
loại ngành.
Nh vậy, thị trờng của hội chợ thơng mại là những thị truờng ở trên.
1.2.1.3. Giá trị khách hàng và quá trình cung ứng giá trị khách hàng.
Giá trị khách hàng:
Tiền đề của ta là ngời mua sẽ mua hàng của những công ty nào mà họ có
thể nhận đợc giá trị cao nhất dành cho khách hàng. Chúng ta định nghĩa giá trị
này nh sau:
Giá trị giành cho khách hàng là chênh lệch giữa tổng giá trị của khách
hàng và tổng chi phí của khách hàng .Tổng giá trị của khách hàng là toàn bộ
những lợi ích mà khách hàng trông đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ nhất định.
Rõ ràng là ngời mua phải chịu những ràng buộc khác nhau và hơn nữa họ
thờng lựa chọn một cách tuỳ tiện, miễn sao có hiệu quả, có lợi ích cho cá nhân
hơn là lợi ích đố với công ty. Tuy nhiên chúng tôi cảm thấy việc tăng tối đa giá
trị khách hàng vẫn là một căn cứ hữu hiệu để giải thích nhiều tình huống và cho
ta cách nhìn nhận sáng suốt hơn.Sau đây là những hàm ý của nó:
Thứ nhất là ngời bán phải đánh giá đợc tổng giá trị của khách hàng tơng
ứng với sản phẩm của từng đối thủ cạnh tranh để biết rõ vị trí sản phẩm của mình
ở đâu.
12
Thứ hai là ngời bán có giá trị giành cho khách hàng ít hơn, có hai phơng
án để lựa chọn. Ngời bán đó có thể cố gắng tăng tổng giá trị của khách hàng hay
giảm tổng chi phí của khách hàng. Phơng án đầu đòi hỏi phải củng cố hay nâng
cao lợi ích của sản phẩm dịch vụ, nhân sự và hình ảnh của hàng hoá. Phơng án
thứ hai đòi hỏi phải giảm chi phí của ngời mua. Ngời bán có thể giảm giá, đơn
giản hoá thủ tục đặt hàng và giao hàng hay gánh chịu một phần nào đó rủi ro của
ngời mua bằng cách áp dụng chế độ bảo hành.
Quá trình cung ứng dịch vụ.
Trong kinh doanh dịch vụ hội chợ thơng mại các nhà marketing phải theo
dõi để sao cho việc cung ứng giá trị cho khách hàng đạt kết quả tốt nhất. Việc
cung ứng giá trị khách hàng bao gồm:
+ Mức độ thoả mãn khách hàng sẽ thấp hơn ở những ngành hàng cung
ứng sản phẩm đồng nhất cho một thị trờng không đồng nhất. Mặt khác, những
ngành cung ứng sản phẩm đồng nhất chất lợng cao cho một thị ttờng đồng nhất
sẽ đảm bảo mức độ thoả mãn cao.
+ Mức độ thoả mãn của khách hàng thấp hơn ở những ngành mà những
ngời mua nhiều lần gặp phải giá rất hay biến động. Họ phải mua của ngời cung
ứng cho dù mức độ thoả màn của họ thấp.
+ Những ngành dựa vào việc mua bán nhiều lần nói chung đều tạo ra
mức độ thoả mãn của khách hàng cao hơn.
+ Khimột công ty tăng thị phần của mình thì mức độ thoả mãn khách
hàng có thể giảm sút. Sở dĩ nh vậy là vì có nhiều khách hàng với những yêu cầu
không đồng nhất hơn bị lôi kéo vào việc mua một loại sản phẩm khá đồng nhất.
1.2.1.4. Marketing và t tởng cơ bản của nó:
Khái niệm marketing dới góc độ Micro marketing.
*Viện Marketing Vơng Quốc Anh khái niệm marketing (Micro):
- Theo góc độ tổ chức chức năng marketing đợc hiểu là một chức năng quản
trị công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc
phát hiện ra và chuyển hoá sức hoá của ngơpì tiêu dùng thành cầu thực sự và một
13
mặt hàng cụ thể đến việc đa hàng hoá đến ngời tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm
bảo cho công ty thu đợc lợi nhuận nh dự kiến.
- Theo góc độ vận hành chức năng, marketing của công ty kinh doanh là một
quá trình quản trị và công nghệ vận hành nhằm nhận biết ,tiên lợng và điều hành
cung ứng cho nhu cầu khách hàng một cách hiệu quả và sinh lợi.
* Khái niệm của trờng đại học George Town Mỹ:
Marketing bao gồm nhiều hoạt động kinh doanh liên quan trực tiếp đến
việc xác định các thị trờng mục tiêu, chuẩn bị thông đạt và thoả mãn các thị tr-
ờng đó.
* Khái niệm của học viện quản lý Malaysia:
Marketing là nghệ thuật kết hợp, vận dụng các nỗ lực thiết yếu nhằm
khám phá, sáng tạo, thoả mãn và gợi lên những nhu cầu của khách hàng để tạo ra
lợi nhuận.
* Khái niệm của Ph.Kotler (Mỹ):
Marketing là sự phân tích, kế hoạch hoá, tổ chức và kiểm tra những khả
năng câu khách của một công ty cũng nh những chính sách và hoạt động với
quan điểm thoả mãn nhu cầu mong muốn của nhóm khách hàng mục tiêu.
* Khái niệm của G.I.Dragon Nguyên chủ tịch liên đoàn Marketing
quốc tế (Rumania):
Marketing là một rada theo dõi, chỉ đạo hoạt động của các xí nghiệp
và nh một máy chỉnh lu để kịp thời ứng phó với mọi biến động sinh ra trong
quá trình tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng.
* Trong t liệu thông tin nhanh: Marketing các hoạt động thơng mại,
G.Audigier (Pháp) thể hiện các định nghĩa micro-marketing:
- Theo góc độ tiếp cận thị trờng của công ty, marketing đợc hiểu là tổng
hợp các phơng pháp mà công ty thực hiện nhằm mục tiêu xâm nhập, bảo vệ và
phát triển các thi trờng hay các khách hàng của công ty.
Theo góc độ tiếp cận thuộc tính liên kết, điều hoà, phối hợp : Marketing đ-
ợc định nghĩa là một nghệ thuật đồng quy các hoạt động kinh doanh của công
ty với mục tiêu thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trong khuôn khổ chính
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét