Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Tài liệu Thông tư số 92/2000/TT-BTC ppt

- Xử lý các khoản dự phòng: Mục đích của việc lập các khoản dự phòng là để bù đắp các
khoản tổn thất do giảm giá hàng tồn kho, giảm giá chứng khoán đầu tư. Các khoản tổn
thất về giảm giá hàng tồn kho và giảm giá chứng khoán được hạch toán vào kết quả kinh
doanh, do vậy Tổ chức tín dụng phải hoàn nhập tất cả các khoản dự phòng nói trên vào
thu nhập, cụ thể: Cuối mỗi năm, trước khi khoá sổ kế toán lập báo cáo quyết toán tài
chính Tổ chức tín dụng hoàn nhập toàn bộ khoản dự phòng đã trích lập cuối năm trước
vào thu nhập trong năm để xác định kết quả kinh doanh, đồng thời tiến hành trích lập dự
phòng mới cho năm sau theo các quy định hiện hành.
II. QUẢN LÝ DOANH THU, CHI PHÍ
1. Quản lý doanh thu:
1.1. Doanh thu của Tổ chức tín dụng bao gồm các khoản thu quy định tại Điều 16 Nghị
định số 166/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ, bao gồm:
a. Thu từ hoạt động nghiệp vụ: Thu lãi cho vay, tiền gửi, nghiệp vụ cho thuê tài chính,
dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ chiết khấu, bảo lãnh và các dịch vụ khác
liên quan đến hoạt động nghiệp vụ ngân hàng.
b. Thu từ hoạt động khác: Thu lãi góp vốn, mua cổ phần; tham gia thị trường tiền tệ; kinh
doanh vàng bạc, ngoại tệ; nghiệp vụ uỷ thác đại lý; dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn;
nghiệp vụ mua bán nợ giữa các Tổ chức tín dụng; cho thuê tài sản và thu dịch vụ khác.
c. Thu hoàn nhập các khoản dự phòng đã trích trong chi phí; thu các khoản vốn đã được
xử lý bằng dự phòng rủi ro; thu từ nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; thu về chênh lệch
tỷ giá theo quy định của pháp luật.
d. Thu khác.
1.2. Nguyên tắc xác định doanh thu:
a. Doanh thu từ hoạt động cho vay, thu lãi tiền gửi, thu nghiệp vụ cho thuê tài chính và số
lãi phải thu trong kỳ được xác định theo nguyên tắc sau:
- Tổ chức tín dụng hạch toán số lãi phải thu đối với các khoản nợ trong hạn vào thu nhập.
Đối với số lãi phải thu của các khoản nợ quá hạn không phải hạch toán thu nhập, Tổ chức
tín dụng theo dõi ngoại bảng để đôn đốc thu, khi thu được thì hạch toán vào thu nghiệp
vụ.
- Số lãi phải thu của các khoản cho vay trong hạn đã hạch toán thu nhập nhưng khách
hàng không thanh toán được đúng hạn, sau 90 ngày khách hàng chưa thanh toán hoặc
chưa đến 90 ngày nhưng khoản vay chuyển sang nợ quá hạn Tổ chức tín dụng được hạch
toán giảm thu và theo dõi ngoại bảng để đôn đốc thu, khi thu được thì hạch toán vào thu
nghiệp vụ.
b. Đối với các khoản thu từ các hoạt động góp vốn liên doanh, liên kết, mua cổ phần
doanh thu phát sinh là số thu được trong năm.
c. Đối với doanh thu từ hoạt động còn lại: Doanh thu là toàn bộ số tiền bán hàng hoá,
dịch vụ sau khi đã trừ (-) các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng
từ hợp lệ) được khách hàng chấp nhận thanh toán, không phân biệt đã thu hay chưa thu
được tiền.
1.3. Tổ chức tín dụng được quyền miễn, giảm lãi cho khách hàng theo quy định của Luật
các Tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Tổ chức tín dụng phải xây
dựng quy chế miễn, giảm lãi và công bố công khai cho khách hàng. Chủ tịch Hội đồng
quản trị và Tổng Giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm về các khoản
miễn, giảm lãi của Tổ chức tín dụng.
1.4. Các khoản thu của Tổ chức tín dụng phát sinh trong kỳ phải có hoá đơn hoặc chứng
từ hợp lệ và phải được hạch toán đầy đủ vào doanh thu.
2. Quản lý chi phí: Chi phí của Tổ chức tín dụng là số phải chi phát sinh trong kỳ cho
hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác theo quy định tại Điều 17 Nghị định số
166/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ, một số khoản chi phí Tổ chức tín
dụng thực hiện theo hướng dẫn dưới đây:
2.1. Chi phí hoạt động kinh doanh:
a. Chi phí phải trả lãi tiền gửi, lãi tiền vay.
b. Chi phí khấu hao tài sản cố định cho hoạt động kinh doanh theo quy chế quản lý, sử
dụng và trích khấu hao tài sản cố định hiện hành.
c. Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương theo quy định tại Nghị định
số 166/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ.
d. Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn được tính trên cơ sở quỹ
tiền lương của Tổ chức tín dụng và theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
đ. Chi phí dịch vụ mua ngoài:
- Là các khoản chi phí sửa chữa tài sản cố định thuê ngoài, vận chuyển, điện, nước, điện
thoại, vật liệu, giấy tờ in, văn phòng phẩm, công cụ lao động, phòng cháy chữa cháy, tư
vấn, kiểm toán, tiền mua bảo hiểm tài sản, chi hoa hồng, đại lý môi giới, uỷ thác và các
dịch vụ khác.
- Các khoản chi trên phải có đầy đủ hoá đơn hoặc chứng từ hợp lệ theo quy định của Bộ
Tài chính.
- Chi phí sửa chữa tài sản cố định nhằm khôi phục năng lực của tài sản được hạch toán
trực tiếp hoặc phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong năm. Đối với những tài sản cố
định đặc thù mà chi phí sửa chữa tài sản cố định phát sinh không đều giữa các kỳ, các
năm nếu Tổ chức tín dụng muốn trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định vào chi phí
kinh doanh phải lập kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa tài sản cố định báo cáo với Bộ
Tài chính để xem xét, quyết định. Sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài
chính, Tổ chức tín dụng phải thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý biết. Tổ chức
tín dụng phải quyết toán chi phí sửa chữa thực tế phát sinh với chi phí sửa chữa đã trích
trước, nếu chi phí sửa chữa thực tế lớn hơn số đã trích thì phần chênh lệch được hạch
toán thẳng hoặc phân bổ dần vào chi phí trong kỳ, nếu chi phí sửa chữa thực tế nhỏ hơn
số đã trích thì phần chênh lệch được hạch toán vào thu nhập trong kỳ.
- Chi phí tiền thuê tài sản được hạch toán vào chi phí kinh doanh theo số tiền phải trả
trong năm căn cứ vào hợp đồng thuê. Trường hợp trả tiền thuê tài sản một lần cho nhiều
năm thì tiền thuê được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo số năm sử dụng tài sản.
- Các khoản chi phí hoa hồng đại lý, uỷ thác phải thể hiện trong các hợp đồng đại lý, uỷ
thác và chỉ được hạch toán chi theo số phải chi, có đủ chứng từ hợp pháp.
- Chi phí hoa hồng môi giới:
+ Việc chi hoa hồng môi giới của Tổ chức tín dụng phải gắn với hiệu quả kinh tế do việc
môi giới mang lại. Tổ chức tín dụng căn cứ văn bản hướng dẫn chi phí hoa hồng môi giới
của Bộ Tài chính, điều kiện và đặc điểm cụ thể của mình để xây dựng quy chế chi hoa
hồng môi giới áp dụng thống nhất và công khai trong Tổ chức tín dụng. Hội đồng quản trị
Tổ chức tín dụng phê duyệt quy chế nói trên áp dụng trong đơn vị mình.
+ Căn cứ vào quy chế được duyệt, tuỳ theo từng nghiệp vụ môi giới phát sinh trong hoạt
động mà Tổng Giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng quyết định chi hoa hồng cho từng
hoạt động môi giới.
+ Đối tượng được hưởng tiền chi hoa hồng môi giới là các tổ chức, cá nhân (trong và
ngoài nước) có làm môi giới, dịch vụ cho Tổ chức tín dụng.
+ Hoa hồng môi giới không được áp dụng cho các đối tượng là đại lý của Tổ chức tín
dụng, các khách hàng được chỉ định, các chức danh quản lý, nhân viên của Tổ chức tín
dụng.
+ Việc chi hoa hồng môi giới phải căn cứ vào hợp đồng hoặc giấy xác nhận giữa Tổ chức
tín dụng và bên nhận hoa hồng, trong đó phải có các nội dung cơ bản: tên của bên nhận
hoa hồng; nội dung chi; mức chi; phương thức thanh toán; thời gian thực hiện và kết
thúc; trách nhiệm của các bên.
+ Đối với khoản chi môi giới để cho thuê lại tài sản (bao gồm cả tài sản xiết nợ, gán nợ):
mức chi môi giới để cho thuê lại tài sản của Tổ chức tín dụng tối đa không quá 3% tổng
số tiền thu được từ cho thuê tài sản do môi giới mang lại trong năm.
+ Đối với khoản chi môi giới bán tài sản chế chấp, cầm cố: Mức chi hoa hồng môi giới
bán tài sản thế chấp, cầm cố của Tổ chức tín dụng không vượt quá 1% giá trị thực tế thu
được từ tiền bán tài sản qua môi giới, mức chi môi giới để bán một tài sản không vượt
quá 20 triệu đồng.
e. Chi phí nộp thuế, phí, tiền thuê đất phải nộp có liên quan đến hoạt động kinh doanh
(trừ thuế thu nhập doanh nghiệp) bao gồm: thuế môn bài, thuế sử dụng đất hoặc tiền thuê
đất, thuế tài nguyên, lệ phí cầu phà, lệ phí sân bay, các loại thuế và lệ phí khác.
g. Chi phí khác
- Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, tiếp tân, khánh tiết, giao dịch đối ngoại, chi phí
hội nghị và các loại chi phí khác phải có hoá đơn hoặc chứng từ theo quy định của Bộ Tài
chính, gắn với kết quả kinh doanh. Mức chi không vượt quá 7% tổng chi phí trong 2 năm
đầu đối với Tổ chức tín dụng mới thành lập, sau đó không quá 5% tổng chi phí.
- Chi bảo hộ lao động đối với những đối tượng cần trang bị bảo hộ lao động trong khi làm
việc và chi trang phục giao dịch cho cán bộ nhân viên làm việc trong Tổ chức tín dụng
theo chế độ quy định.
- Chi trợ cấp thôi việc cho người lao động thực hiện theo Nghị định số 198/CP ngày
31/12/1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều trong Bộ
luật Lao động về hợp đồng lao động và các văn bản hiện hành khác của Nhà nước.
- Chi phí cho lao động nữ theo chế độ quy định.
- Chi phí tiền ăn giữa ca cho người lao động do Tổ chức tín dụng quy định phù hợp với
hiệu quả kinh doanh, nhưng mức chi hàng tháng trong năm cho mỗi người không vượt
quá mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước.
- Đóng phí hiệp hội ngành nghề trong nước mà Tổ chức tín dụng tham gia theo mức phí
do Hiệp hội quy định đã được Bộ Tài chính chấp thuận. Đối với việc tham gia Hiệp hội
ngành nghề ngoài nước, Tổ chức tín dụng được hạch toán vào chi phí khoản phí do Hiệp
hội ngành nghề nước ngoài quy định.
- Chi trích lập dự phòng trong hoạt động của Tổ chức tín dụng theo quy định tại điểm 9
mục I chương II của Thông tư này.
- Chi phí tham gia tổ chức Bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức tín dụng được chi thưởng sáng kiến cải tiến, thưởng tiết kiệm vật tư theo hiệu
quả thực tế đem lại từ các sáng kiến cải tiến, tiết kiệm vật tư. Hội đồng quản trị Tổ chức
tín dụng phải xây dựng và công bố công khai các quy chế thưởng trong Tổ chức tín dụng.
- Tổ chức tín dụng được hạch toán các khoản chi nghiên cứu khoa học, chi nghiên cứu
đổi mới công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Tổ chức tín dụng. Đề tài
nghiên cứu và dự toán chi phí nghiên cứu của từng đề tài phải được Hội đồng quản trị
phê duyệt và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả đề tài đó.
- Khoản chi cho các trường lớp, đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề, năng lực quản lý
chỉ được hạch toán vào chi phí khoản chi cho các đối tượng là cán bộ, nhân viên trong Tổ
chức tín dụng. Tổ chức tín dụng được hạch toán vào chi phí phần chênh lệch sau khi trừ
các khoản hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước (nếu có). Mức chi tối đa không vượt quá 1,3
lần định mức chi sự nghiệp cho các đối tượng trên do Nhà nước quy định.
- Khoản chi hỗ trợ giáo dục cho các tổ chức giáo dục thành lập theo quy định của Nhà
nước (nếu có) như: quỹ khuyến học, trường học sinh tàn tật, học sinh không nơi nương
tựa, Tổng giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng căn cứ vào chế độ quy định và khả
năng tài chính, quyết định và tự chịu trách nhiệm về mức chi hỗ trợ nói trên.
- Chi bảo vệ cơ quan.
- Chi về nghiệp vụ kho quỹ.
- Chi cho công tác bảo vệ môi trường. Nếu số chi trong năm lớn và có tác dụng trong
nhiều năm thì được phân bổ cho các năm sau.
- Chi tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.
2.2. Chi phí hoạt động khác
a. Chi cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc.
b. Chi cho hoạt động mua bán cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu.
c. Chi cho hoạt động cho thuê tài sản.
d. Chi phí nhượng bán, thanh lý tài sản cố định (bao gồm cả giá trị còn lại của tài sản cố
định khi thanh lý và nhượng bán).
đ. Chi phí hoạt động liên doanh, hợp doanh, góp vốn, mua cổ phần.
e. Chi cho nghiệp vụ mua bán nợ giữa các Tổ chức tín dụng.
g. Chi phí cho việc thu hồi các khoản nợ đã xoá, chi phí thu hồi nợ quá hạn khó đòi.
- Tổ chức tín dụng được chi cho các Tổ chức có tư cách pháp nhân đã có đóng góp trong
việc thu hồi các khoản nợ đã xoá, nợ quá hạn khó đòi cho Tổ chức tín dụng trên cơ sở
công sức đóng góp và hiệu quả đem lại của các tổ chức này.
- Tổ chức tín dụng xây dựng quy chế chi cho việc thu hồi các khoản nợ đã xoá, nợ quá
hạn khó đòi trình Hội đồng quản trị phê duyệt và công bố công khai các quy chế này.
Tổng giám dốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm về các khoản chi này.
- Mức chi cho các tổ chức có tư cách pháp nhân có đóng góp trong việc thu hồi các khoản
nợ đã xoá, nợ quá hạn khó đòi trong năm của Tổ chức tín dụng không được vượt quá 2%
số nợ thu hồi. Mức chi thu hồi nợ tối đa đối với một món nợ không vượt quá 50 triệu
đồng.
h. Khoản tổn thất tài sản còn lại sau khi đã bù đắp các nguồn theo quy định tại điểm 6
mục I chương II Thông tư này.
i. Chi phí cho Tổ chức Đảng, đoàn thể tại Tổ chức tín dụng được lấy từ nguồn kinh phí
của tổ chức này, nếu nguồn kinh phí của tổ chức trên không đủ thì phần chênh lệch thiếu
dược hạch toán vào chi phí của Tổ chức tín dụng.
k. Các khoản chi hợp lý, hợp lệ khác.
Riêng đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hạch toán vào chi phí
khoản chi quản lý kinh doanh của trụ sở chính phân bổ cho chi nhánh Việt Nam theo tỷ lệ
giữa doanh thu của chi nhánh Việt Nam và doanh thu trụ sở chính theo quy định của pháp
luật.
2.3. Tổ chức tín dụng không được tính vào chi phí các khoản sau đây:
- Các khoản tiền phạt vi phạm pháp luật như: luật giao thông, luật thuế, luật môi trường,
luật lao động, vị phạm chế độ báo cáo thống kê, tài chính kế toán và các luật khác. Nếu
do tập thể hoặc cá nhân vi phạm pháp luật, thì đối tượng vi phạm phải nộp phạt. Ngoài
khoản tiền đền bù nói trên, phần nộp phạt còn lại lấy từ lợi nhuận sau thuế.
- Các khoản đầu tư xây dựng cơ bản, chi mua sắm tài sản cố định hữu hình và vô hình,
chi ủng hộ cho các tổ chức, cá nhân.
- Chi phí đi công tác nước ngoài vượt định mức Nhà nước áp dụng cho cán bộ công chức
Nhà nước và cán bộ doanh nghiệp Nhà nước khi đi công tác nước ngoài.
- Các khoản thuộc nguồn kinh phí khác đài thọ như khoản chi sự nghiệp đã được Ngân
sách Nhà nước, cơ quan cấp trên hoặc các tổ chức khác tài trợ; chi trả lãi vay vốn đầu tư
xây dựng cơ bản trong thời kỳ công trình chưa hoàn thành, số lãi này được hạch toán vào
chi phí đầu tư xây dựng cơ bản.
- Các khoản chi phí không hợp lý.
3. Tổ chức tín dụng có các hoạt động kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra
đồng Việt Nam theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
III. PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN THÔNG QUA CÁC QUỸ
Việc phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ và mục đích sử dụng các quỹ của Tổ chức tín
dụng thực hiện theo quy định tại các Điều 21, 22, 23, 24 của Nghị định số 166/1999/NĐ-
CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ.
IV. CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN, THỐNG KÊ, KIỂM TOÁN, BÁO CÁO VÀ CÔNG KHAI
TÀI CHÍNH:
1. Tổ chức tín dụng thực hiện chế độ kế toán, thống kê theo quy định của pháp luật, ghi
chép đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ sách kế toán và phản ánh đầy đủ, kịp thời,
trung thực, chính xác, khách quan các hoạt động kinh tế, tài chính.
2. Năm tài chính của Tổ chức tín dụng bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày
31 tháng 12 năm dương lịch.
3. Tổ chức tín dụng thực hiện quyết toán tài chính và chấp hành đầy đủ các quy định về
báo cáo tài chính, lập và gửi cho cơ quan tài chính Nhà nước, cơ quan thống kê, cơ quan
thuế và Ngân hàng Nhà nước theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và quy
định tại Thông tư này.
3.1. Nội dung báo cáo tài chính.
a. Báo cáo kế hoạch tài chính. Các Tổ chức tín dụng lập kế hoạch tài chính hàng năm
gồm:
- Kế hoạch nguồn vốn và sử dụng vốn.
- Kế hoạch thu nhập, chi phí kết quả kinh doanh và chỉ tiêu Nộp ngân sách Nhà nước.
- Kế hoạch lao động, tiền lương.
b. Báo cáo tài chính: Các Tổ chức tín dụng có trách nhiệm lập và gửi đầy đủ các báo cáo
tài chính sau:
- Bảng cân đối tài khoản cấp III của Tổ chức tín dụng bao gồm cả tài khoản ngoại bảng.
- Bảng tổng kết tài sản (bảng cân đối tài chính) của Tổ chức tín dụng.
- Thuyết minh báo cáo tài chính bao gồm một số nội dung (theo mẫu biểu đính kèm):
+ Tình hình tăng giảm tài sản cố định.
+ Kết quả kinh doanh, tình hình thực hiện thu nộp ngân sách Nhà nước.
+ Thực hiện lao động tiền lương của Tổ chức tín dụng.
+ Tình hình tăng, giảm biến động nguồn vốn, sử dụng vốn.
+ Tình hình nợ quá hạn, nợ khó đòi có khả năng thu hồi, nợ không thu hồi được, tình
hình tài sản thế chấp đang tồn đọng.
- Báo cáo kết quả kiểm toán tài chính độc lập.
3.2. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng chịu trách
nhiệm về tính chính xác, tính trung thực của các báo cáo này.
3.3. Thời hạn gửi báo cáo.
a. Thời hạn gửi kế hoạch tài chính:
Các kế hoạch tài chính do Tổ chức tín dụng xây dựng phải được Hội đồng quản trị Tổ
chức tín dụng xem xét phê duyệt đồng thời gửi cho cơ quan tài chính trước ngày 15 tháng
11 năm trước năm kế hoạch. Ngoài ra các Tổ chức tín dụng Nhà nước xây dựng kế hoạch
đơn giá tiền lương, kế hoạch thu nhập nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật
Ngân sách Nhà nước và quy định khác của pháp luật.
b. Thời hạn gửi báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kiểm toán:
- Báo cáo quý được gửi chậm nhất sau 45 ngày kể từ ngày kết thúc quý.
- Báo cáo năm được gửi chậm nhất sau 60 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
- Kết quả kiểm toán báo cáo tài chính của Tổ chức tín dụng do tổ chức kiểm toán độc lập
thực hiện được gửi cho cơ quan tài chính Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước chậm nhất
sau 15 ngày kể từ khi có kết quả kiểm toán.
3.4. Nơi nhận báo cáo.
Các Tổ chức tín dụng gửi kế hoạch tài chính, báo cáo tài chính đến Bộ tài chính, cơ quan
trực tiếp quản lý Tổ chức tín dụng, cơ quan thống kê và Ngân hàng Nhà nước.
4. Công khai tài chính đối với các Tổ chức tín dụng. Các Tổ chức tín dụng thực hiện chế
độ công khai tài chính theo các quy định dưới đây:
4.1. Hình thức công khai.
a. Công khai với Nhà nước:
Hàng quý, năm Tổ chức tín dụng phải lập và gửi báo cáo tài chính cho các cơ quan quản
lý Nhà nước theo quy định tại điểm 3 mục IV chương II nêu trên. Hội đồng quản trị,
Tổng giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng có trách nhiệm giải trình các vấn đề tài
chính liên quan theo yêu cầu của các cơ quan quản lý Nhà nước khi thực hiện chức năng
quản lý Nhà nước theo quy định của Chính phủ.
b. Công khai với tổ chức Đảng, đoàn thể và người lao động trong nội bộ Tổ chức tín
dụng.
- Sau khi kết thúc năm tài chính Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) Tổ
chức tín dụng có nghĩa vụ công khai tình hình tài chính của đơn vị mình. Nội dung công
khai bao gồm:
+ Tình hình nguồn vốn: Vốn Nhà nước, vốn của các cổ đông, các quỹ, vốn huy động, các
khoản nợ phải trả
+ Tình hình sử dụng vốn: Tài sản cố định, dư nợ cho vay
+ Tình hình thu nhập, chi phí: Các khoản doanh thu, chi phí hoạt động kinh doanh, kết
quả kinh doanh, tình hình thu nộp Ngân sách Nhà nước, nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế, kinh phí công đoàn.
+ Tình hình lao động và thu nhập của cán bộ, nhân viên trong Tổ chức tín dụng, việc áp
dụng các biện pháp về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng trong Tổ
chức tín dụng.
- Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc) phối hợp với tổ chức công đoàn để lựa
chọn hình thức công khai phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, việc công khai
tài chính có thể được thực hiện tại Đại hội công nhân viên chức, thông báo trong các cuộc
họp của Tổ chức tín dụng, tại các cuộc họp của tổ chức công đoàn và tổ chức chính trị xã
hội trong Tổ chức tín dụng hoặc thông báo bằng văn bản đến cán bộ, công nhân viên
trong Tổ chức tín dụng.
c. Công khai ra ngoài Tổ chức tín dụng để các nhà đầu tư, các khách hàng có căn cứ
quyết định các quan hệ kinh tế, giao dịch với Tổ chức tín dụng.
- Những nội dung cần công bố công khai là vốn điều lệ thực có tại thời điểm công khai,
các khoản nợ phải trả, cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn, kết quả kinh doanh của Tổ chức
tín dụng. Ngoài ra Tổ chức tín dụng có trách nhiệm trả lời các yêu cầu khác tuỳ theo mối
quan hệ với các chủ nợ và các nhà đầu tư, khách hàng.
4.2. Thời điểm công khai tài chính: Sau 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm Tổ chức tín
dụng phải công khai tình hình tài chính năm của mình cho các đối tượng nêu trên.
5. Công tác kiểm toán:
Tổ chức tín dụng phải tổ chức kiểm toán nội bộ các báo cáo tài chính của mình phù hợp
với quy định của Luật các Tổ chức tín dụng.
Chậm nhất 30 ngày trước khi kết thúc năm tài chính, Tổ chức tín dụng phải lựa chọn một
tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để thực hiện việc kiểm toán
báo cáo tài chính.
V. KIỂM TRA, THANH TRA TÀI CHÍNH VÀ XỬ LÝ VI PHẠM ĐỐI VỚI CÁC
TỔ CHỨC TÍN DỤNG:
1. Các Tổ chức tín dụng tự chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các báo tài
chính của mình. Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành chế độ tài
chính của các Tổ chức tín dụng. Việc kiểm tra tài chính được tiến hành theo các hình
thức:
- Kiểm tra tài chính định kỳ hoặc đột xuất.
- Kiểm tra theo từng chuyên đề theo yêu cầu của công tác quản lý tài chính.
2. Xử lý vi phạm:
- Tổ chức tín dụng có vi phạm chế độ tài chính của Nhà nước sẽ bị xử phạt theo quy định
của pháp luật.
- Trong trường hợp Tổ chức tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các
quy định về chế độ báo cáo tài chính nêu tại điểm 3 mục IV chương II Thông tư này sẽ bị
xử phạt theo quy định tại Nghị định số 49/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế toán.
Chương 3
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký, mọi quy định trước đây về
quản lý tài chính đối với các Tổ chức tín dụng trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
- Căn cứ vào hướng dẫn chế độ tài chính đối với các Tổ chức tín dụng tại Thông tư này,
các văn bản quy định về chế độ tài chính của Nhà nước, các Tổ chức tín dụng xây dựng
quy chế tài chính của mình trình Hội đồng quản trị phê duyệt để làm căn cứ thực hiện.
Các Tổ chức tín dụng Nhà nước (Ngân hàng thương mại quốc doanh) hướng dẫn, xây
dựng quy chế tài chính trong hệ thống, báo cáo Bộ Tài chính chấp thuận trước khi thực
hiện.
- Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh về Bộ Tài chính để
nghiên cứu, xem xét, giải quyết.


Lê Thị Băng Tâm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét