Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Nghiên cứu đề xuất phương thức truyền thông cho hệ thống giao thông thông minh ITS ứng dụng tại việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Nghiên cứu đề xuất phương thức truyền thông cho hệ thống giao thông thông minh ITS ứng dụng tại việt nam": http://123doc.vn/document/1039355-nghien-cuu-de-xuat-phuong-thuc-truyen-thong-cho-he-thong-giao-thong-thong-minh-its-ung-dung-tai-viet-nam.htm




5
5
hệ thống một cách khoa học nhất để mỗi hệ thống có thể đạt được hiệu năng lớn nhất
để thực hiện chức năng của nó và từ đó đạt được mục tiêu của toàn bộ hệ thống. Các
chức năng chính của hệ thống máy chủ trung tâm

 Quản lý cấu hình của toàn bộ hệ thống
 Cập nhật dữ liệu bằng tay
 Quản lý cơ sở dữ liệu
 Giao tiếp với con người thông qua màn hình
.2.2.5. Quản lý sự cố
Trong quá trình hoạt động của một con đường, nhiều sự cố sẽ xảy ra. Một trong
số chúng phải được thông báo cho các phương tiện vì lý do an toàn. Nhưng có những
sự cố không cần thiết cho các phương tiện như công việc bảo dưỡng nhỏ. Hệ thống
quản lý sự cố sẽ quản lý các thông tin về tất cả các sự cố liên quan đến hoạt động trên
đường. Mục đích là để chia sẻ thông tin sự cố với các nhân viên khác tham gia trong
hoạt động đường và lập biên bản các sự cố. Thông tin về sự cố sẽ được đầu vào, cập
nhật, sửa đổi hoặc xóa bởi các nhà điều hành thông qua hệ thống máy chủ trung tâm.
1.2.2.6. Quản lý cơ sở dữ liệu
Giống như các hệ thống thông tin khác, ITS xử lý thông tinsố lượng lớn liên quan
đến con đường và điều kiện giao thông, hoạt động trên đường và tình trạng hệ thống
trục trặc. Những dữ liệu phải được hiệu quả và thống nhất quản lý. Một phần mềm
quản lý cơ sở dữ liệu thương mại có sẵn và một thiết bị lưu trữ bên ngoài có độ tin cậy
cao phải được giới thiệu như là hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu. Các phần mềm phải
phù hợp cho hệ thống hoạt động trên mạng và không bị gián đoạn dịch vụ phải được
yêu cầu cho mục đích duy trì hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu. Năng lực của các thiết bị
lưu trữ phải có đủ lớn để chứa các dữ liệu cần thiết.
1.2.2.7. Đồng hồ đồng bộ hóa
Mỗi hệ thống thành phần sẽ được trang bị với một hệ thống đồng hồ cho hoạt
động của mình. Trong mỗi hệ thống thành phần, bộ điều khiển trung tâm sẽ có một
đồng hồ và mỗi thiết bị đầu cuối sẽ có đồng hồ riêng của mình. Những đồng hồ này
phải được đồng bộ hóa để thu thập và xử lý dữ liệumột cách chính xác nhất. Một hệ
thống máy chủ thời gian sẽ được lắp đặt cho hệ thống máy chủ trung tâm như một
đồng hồ tham chiếu. Tất cả các đồng hồ trong hệ thống thành phần phải được đồng bộ


6
6
với đồng hồ hệ thống bằng cách sử dụng giao thức thời gian mạng (NTP) hoặc giao
thứcthời gian mạng đơn giản (SNTP).Trong trường hợp, bất kỳ đồng hồ trong hệ thống
thành phần, đặc biệt là những thiết bị trong các thiết bị đầu cuối trở nên không chính
xác do bất kỳ lý do như bị gián đoạn cung cấp điện thì phải được đồng bộ với đồng hồ
hệ thống khi thiết bị đầu cuối trở lại hoạt động bình thường.
1.2.2.8. Hệ thống truyền phát số
ITS hay hệ thông giám sát giao thông dựa trên rất nhiều thiết bị như CCTV
camera, điện thoại khẩn cấp, VMS lắp đặt dọc tuyến đường triển khai. Những thiết bị
này được kết nối với thiết bị trung tâm ở trung tâm điều khiển giao thông. Hệ thống
truyền phát số được lắp đặt để thực hiện nhiệm vụ cung cấp liên lạc giữa các hệ thống.
Hệ thông truyền phát số có dây dựa trên công nghệ IP (Internet Protocol) dựa trên
những đặc tính phù hợp với yêu cầu như tính linh hoạt, khả năng mở rộng, và chi phí
xây dựng hệ thống. Do đó các chức năng chính hệ thông truyền phát số đảm nhiệm là:
 Truyền dữ liệu dưới dạng số giữa các khối chức năng và giữa các node
truyền phát
 Theo dõi hoạt động của hệ thống và chuyển hướng tới hệ thống dự trù
trong trường hợp lỗi
1.2.2.9. Hệ thống điện thoại khẩn cấp
Điện thoại khẩn cấp cung cấp kết nối trực tiếp giữa người tham giagiao thông với
trung tâm điều khiển hoặc giữa các bộ phận trong hệ thống với nhau trong trường hợp
có sự cố xảy ra.Các hoạt động ứng cứu sẽ được thực hiện ngay lập tức sau khi có
thông tin, các xe cứu hộ và cứu thương có thể khởi hành ngay lúc đó. Tuy điện thoại di
động đã khá là phổ biến tại Việt Nam nhưng hệ thống điên thoại khẩn cấp vẫn cần
thiết trong trường hợp người lái xe không có thông tin về số điện thoại hỗ trợ do đi vào
lần đầu. Thứ hai, điện thoại khẩn cấp giúp cho cơ quan có chức năng liên quan xác
định ngay được vị trí của cuộc gọi từ đó có các hành động kịp thời và chính xác vì vị
trí của người tham gia giao thông trên đường rất khó xác định trong một số trường hợp
như đường cao tốc, vùng hẻo lánh …. Hệ thống điện thoại khẩn cấp bao gồm các chức
năng chính sau:
 Nhận và phản hồi các cuộc gọi khẩn cấp
 Phát hiện tai nạn
 Chuyển cuộc gọi tới tổ chức phù hợp


7
7
 Thu lại cuộc gọi để sử dụng cho các vấn đề an toàn
1.2.2.10. Hệ thống điện thoại nội bộ
Hệ thống điện thoại nội bộ sử dụng công nghệ VoIP sử dụng chuyển mạch gói để
kết nối giữa các nhân viên làm việc tại các bộ phận của hệ thống.Hệ thống cũng được
kết nối tới mạng chuyển mạch dân dụng để có khả năng kết nối ra ngoài và với các tổ
chức khác.
1.2.2.11. Hệ thông liên lạc không dây
Hệ thống thông tin liên lạc không dây cung cấp các công cụ truyền thông tức
thời và hiệu quả giữa hai điểm.Hệ thống này dùng cho các giao tiếp bằng lời nói giữa
trung tâm điều khiển giao thông và những nhân viên trên đường hoặc các địa điểm
khác nơi mà hệ thống điện thoại nội bộkhông được lắp đặt hoặc không lắp đặt được.
Hệ thống phải bao gồm toàn bộ con đường.
1.2.2.12. Hệ thống theo dõi chất lượng
Các chức năng của hệ thống giám sát cơ sở có thể không được tích hợp trong
một hệ thống duy nhất. Chúng có thể đạt được chức năng thông qua hoạt động của các
hệ thống thành phần.Vai trò của hệ thống giám sát cơ sở để củng cố các chức năng
giám sát được thực hiện bởi hệ thống thành phần, trình bày tình trạng hệ thống một
cách súc tích để điều hành và ghi chép lại thông tin trong quá trình hoạt động của hệ
thống. Trong trường hợp bất thường hay trục trặc được phát hiện, hệ thống sẽ phát
hành một báo động cùng với các thông tin liên quan đến loại và vị trí của sự việc để
hành động khắc phục hậu quả có thể được thực hiện nhanh chóng.
1.3. Hệ thống liên lạc của ITS
1.3.1 .Hệ thống truyền dẫn số
Hệ thống ITS hay hệ thống giám sát giao thông đường cao tốc sử dụng hệ thống
liên lạc tương thích với các cấu phần thiết bị khác nhau như bộ dò tìm phương tiện,
camera CCTV, điện thoại khẩn và các biển báo điện tử dọc hai bên đường cao tốc.
Những thiết bị này được kết nối với các thiết bị trung tâm tại văn phòng điều khiển và
quản lý vận hành giao thông và các dữ liệu dạng văn bản text, âm thanh và hình ảnh
được truyền thông liên tục qua lại giữa các thiết bị với các phương thức truyền dẫn
mã hóa khác nhau. Yêu cầu bắt buộc với hệ thống ITS là phải có hệ thống truyền dẫn
số để thực hiện truyền thông dữ liệu và âm thanh, hình ảnh. Đối với hệ thống ITS, hệ
thống truyền dẫn số kết hợp giữa hạ tầng cáp quang và các phương thức truyền dẫn
vô tuyến dựa trên giao thức mạng IP được đề xuất áp dụng. Tuy nhiên, đối với hệ
thống điện thoại khẩn cấp, hệ thống truyền dẫn tương tự bằng cáp đồng cũng sẽ được


8
8
chấp nhận khi truyền dẫn từ điện thoại khẩn cấp đến tổng đài hoặc trung kế mạng gần
nhất.
1.3.2. Hệ thống truyền dẫn liên lạc vô tuyến
Tổng quát
Nhà thực hiện công nghệ ITS phải cung cấp một hệ thống thông tin vô tuyến để
các nhân viên sử dụng trong việc vận hành và bảo dưỡng đường cao tốc. Hệ thống phải
phủ sóng trên toàn tuyến đường cao tốc với chất lượng truyền thông thoại tốt và phải
phù hợp với với các tần số và các quy tắc truyền dẫn sóng vô tuyến hiện hữu
Điện thoại khẩn cấp
Điện thoại khẩn lắp đặt dọc đường phải được xây dựng kiên cố và có mái che.
Điện thoại khẩn phải được trang bị một ống nghe đặt trên giá đỡ. Có thể gắn thêm cửa
buồng điện thoại để bảo vệ các thiết bị bên trong khỏi các tác động của thời tiết và bụi
bặm. Nếu thiết bị cơ khí được dùng làm giá đỡ ống nghe thì thiết bị này phải có đủ độ
tin cậy để vận hành thuận lợi trong môi trường mà nó được sử dụng. Khi ống nghe
được nhấc lên, cuộc gọi sẽ được tự động thực hiện và vị trí gọi điện sẽ được hệ thống
nhận diện. Đầu nghe và đầu nói của ống nghe điện thoại phải là loại thích hợp cho sử
dụng ngoài trời với chức năng chống ồn.
Điện thoại khẩn phải có các ký tự và số hiệu nhận dạng. Các ký tự và số
hiệu này phải được thể hiện trên điện thoại
Biển báo điện thoại
Điện thoại khẩn phải được trang bị một biển báo gắn đèn bên trong hay một
thiết bị tương tự đặt thẳng đứng so với chiều lưu thông để người điều khiển phương
tiện dễ dàng nhận thấy khi trời tối. Biển báo có thể được tách rời hoặc ngắn liền với
buồng điện thoại. Và phải được chiếu sáng tự động bằng bộ chuyển nhạy sáng. Nguồn
điện chiếu sáng phải được lấy từ mạng điện nguồn lắp đặt dọc tuyến đường cao tốc
hay bằng hệ thống pin và năng lượng mặt trời.
1.3.6. Lắp đặt
Điện thoại khẩn phải được lắp đặt bên ngoài tường cánh trên cầu cạn. Tấm panen
phía trước của buồng điện thoại được lắp song song với chiều lưu thông để người gọi
điện có thể quay mặt ra ngoài trong khi thực hiện cuộc gọi. Nhà thực hiện công nghệ
phải đặt một ống dẫn cáp dọc theo tường và bắt vít tại vị trí lắp đặt điện thoại khẩn.
Nhà thực hiện công nghệ phải cung cấp và lắp đặt ống dẫn, hộp kéo cáp, cáp truyền
thông, cáp nguồn và các thiết bị phụ trợ giữa điện thoại khẩn và hố thăm tại dải phân
cách giữa.
1.3.7 .Hệ thống điện thoại nội bộ IP
Tổng quát


9
9
Nhà thực hiện công nghệ phải trang bị hệ thống điện thoại nội bộ sử dụng công
nghệ VoIP và chuyển gói truyền thông thoại giữa các nhân viên làm việc tại các văn
phòng đặt dọc tuyến Đường cao tốc như Văn phòng điều khiển và quản lý vận hành
giao thông, trạm thu phí và khu vực dịch vụ. Hệ thống phải được kết nối với mạng
điện thọai chuyển mạch công cộng để truyền thông đến cộng đồng và các tổ chức
khác.
1.4. Kết luận chương
Toàn bộ chương 1, đã tập chung nghiên cứu về tổng quan của hệ thống giao
thông thông minh ITS, giới thiệu được các thành phần, chức năng của hệ thống. Ngoài
ra, còn tìm hiểu được hệ thống liên lạc trong hệ thống.
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC TRUYỀN THÔNG CHO
ITS
2.1. Giới thiệu chương
Trong hệ thống giao thông thông minh thì đối tường quan trong mà ta xét đến là
các phương tiện tham gia giao thông. Để các phương tiện hòa nhập vào với hệ thống,
thì chúng ta phải có những phương thức truyền tin giữa các đối tượng với nhau, cụ thể
là giữa xe với xe, giữa xe với đường, giữa xe với hệ thống điều khiển trung tâm, đường
đến trung tâm hạ tầng. Và đây, cũng là nội dung chính mà chương 2 sẽ tập trung
nghiên cứu.
2.2. Các phương thức truyền thông cho ITS
2.2.1. Phương thức truyền thông phương tiện tới phương tiên C2C
Hệ thống liên lạc không dây đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống thường
ngày.Trong vòng 10 đến 15 năm trở lại đây, trong lĩnh vực điện thoại, dịch vụ dữ liệu
và mạng không dây khu vực (WLANs) mạng liên lạc kỹ thuật số trở nên nổi tiếng và
phổ thông giúp việc liên kết các thiết bị đầu cuối linh hoạt hơn. Sự phát triển hướng tới
kết nối không dây sẽ còn trở nên mạnh mẽ hơn trong tương lai.
Một trong những mảng mà mạng không dây có thể nhắm tới để phát triển trong
tương lai gần đó là giao tiếp không dây giữa các phương tiện trong mạng lưới giao
thông nhằm mục đích tang sự an toàn và tiện dụng cho con người. Mạng kết nối
Vehicles-To-X (V2X). Ký hiệu “X” ở đây là muốn nhấn mạnh là phương tiện có thể
liên lạc với các phương tiện khác hoặc có thể liên lạc với các điểm thuộc cơ sở hạ tầng


10
10
của đường bộ. Kết nối cho cả 2 loại có thể dung cùng một công nghệ và có thể sử dụng
chung một loại mạng. Để có thể trao đổi thông tin trực tiếp giữa các phương tiện với
nhau, từng phương tiện phải có khả năng phát hiện các phương tiện khác trong khu
vực xung quanh phương tiện và có thể tính toán được tình trạng giao thông hiện tại
thông qua các thông tin thu thập được. Những chiếc xe như thế có thể cảnh báo tới lái
xe nếu cần thiết như là trong trường hợp có các nguy hiểm bất ngờ như là khả năng
xảy ra va chạm với xe khác hay là có vật cản trên đường. Kết nối phải đáp ứng được
yêu cầu về chất lượng cao nhất như là thông tin phải được truyền với độ tin cậy cao và
thời gian trễ ngắn trong điều kiện biến động và bất lợi của môi trường.
2.2.2. Phương thức truyền thông phương tiện tới đường V2R
Đây là phương thức trao đổi thông tin giữa các phương tiện đi trên đường với con
đường mà phương tiện đó đi qua. Một trong những việc quan trọng đó là đó là đo lưu
lượng giao thông trên con đường. Để đo được ta sử dụng hệ thống phát hiện phương
tiện VDS.
Hệ thống phát hiện phương tiện đươc cài đặt để đo đạc các thông lưu lượng giao
thông ở từng đoạn đường cũng như sẵn sàng cung cấp các điểm kết nối cho các
phương tiện chạy trên đoạn đường đó. Dữ liệu thu thập được được dùng để xác định
tình trạng giao thông và phát hiện tai nạn xảy ra. Các tham số của giao thông sẽ được
ghi lại vào trong cơ sở dữ liệu để tiện cho việc sử dụng lại sau này.
VDS bao gồm các trạm thiết bị được lắp đặt dọc đường và bộ xử lý thông tin thu
thập được ở trung tâm điều khiển.Thiết bị phải đủ lơn để có thể chứa được bộ cảm
biến phát hiện xe, bộ tiền xử lý dữ liệu và các thiết bị số liên quan.Hệ thống truyền
phát số sẽ kết nối các trạm này với trung tâm điều khiển như trong hình
2.2.3. Phương thức truyền thông từ đường đến trung tâm hạ tầng ( V2I )
Trung tâm hạ tầng của hệ thống giao thông thông minh, là hệ thống máy chủ. Để
hệ thống ITS có thể hoạt động đảm bảo đầy đủ các chức năng mong muốn thì cần rất
nhiều các hệ thống con thành phần. Một vài hệ thống con cần thiết phải phối hợp và
trao đổi dữ liệu với nhau, một vài hệ thống con có thể tự vân hành mà không cân bất
cứ trao đổi dữ liệu nào với các hệ thống khác. Hệ thống máy chủ trung tâm sẻ quản lý
toàn bộ hệ thống và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống
một cách khoa học nhất để mỗi hệ thống có thể đạt được hiệu năng lớn nhất để thực


11
11
hiện chức năng của nó và từ đó đạt được mục tiêu của toàn bộ hệ thống. Các chức
năng chính của hệ thống máy chủ trung tâm:
 Quản lý cấu hình của toàn bộ hệ thống
 Cập nhật dữ liệu bằng tay
 Quản lý cơ sở dữ liệu
 Giao tiếp với con người thông qua màn hình
 Ghi lại các hoạt động của hệ thống và các lỗi
2.3. Các chuẩn truyền thông tiêu biểu trên thế giới
Các nghiên cứu về chuẩn 3G đã trở nên truyền thống và đã có rất nhiều công
trình đề cập đến chuẩn này, trong báo cáo này, nhóm đề tài xin phép được đề cập đến
các chuẩn 3G sơ bộ như sau:
A. W-CDMA:
Tiêu chuẩn W-CDMA (wideband code division mutiple access) là nền tảng của
chuẩn UMTS, dựa trên kỹ thuật CDMA trải phổ dãy trực tiếp, được xem như là giải
pháp thích hợp với các nhà khai thác dịch vụ mạng di động sử dụng GSM
B. CDMA-2000:
Một chuẩn 3G quan trọng khác là CDMA - 2000, là thế hệ kế tiếp của các
chuẩn 2G CDMA và IS – 95.
CDMA 2000 cung cấp tốc độ dữ liêu từ 144 kbit/s tới trên 3 Mbit/s. Chuẩn này
đã được chấp nhận bởi ITU.
Người ta cho rằng sự ra đời thành công nhất của mạng CDMA-2000 là
tại KDDI của Nhận Bản, dưới thương hiệu AU với hơn 20 triệu thuê bao 3G. Kể từ
năm 2003, KDDI đã nâng cấp từ mạng CDMA2000 – 1x lên mạng CDMA2000-
1xEV-DO (EV – DO) với tốc độ dữ liệu tới 2.4 Mbps.
C. TD – CDMA:
Chuẩn TD-CDMA, viết tắt từ Time-division-CDMA, đây là một chuẩn
thương mại áp dụng hỗn hợp của TDMA và CDMA nhằm cung cấp chất lượng dịch vụ
tốt hơn cho truyền thông đa phương tiện trong cả truyền dữ liệu lẫn âm thanh, hình
ảnh.
Chuẩn TD-CDMA và W-CMDA đều là những nền tảng của UMTS, vì vậy
chúng có thể cung cấp cùng loại của các kênh khi có thể. Các giao thức của UMTS


12
12
(universal mobile telecommunications system) là HSDPA/HSUPA cải tiến cũng được
thực hiện theo chuẩn TD-CDMA.
D. TD – SCDMA:
Chuẩn được ít biết đến hơn là TD-SCDMA (Time Division Synchronous Code
Division Multiple Access), nhằm mục đích như là một giải pháp thay thế cho W-
CDMA. Nó thường xuyên bị nhầm lẫn với chuẩn TD-CDMA. Cũng giống như TD-
CDMA, chuẩn này dựa trên nền tảng UMTS-TDD hoặc IMT 2000 Time-Division
(IMT-TD). Tuy nhiên, nếu như TD-CDMA hình thành từ giao thức mạng cũng mang
tên TD-CDMA, thì TD-SCDMA phát triển dựa trên giao thức của S-CDMA.
2.4. Kết luận chương
Chương 2, đã nghiên cứu tìm hiểu được các phương thức truyền thông cho hệ
thống ITS, đưa ra được cách các xe giao tiếp, trao đổi thông tin cho nhau. Giao tiếp
giữa xe với đường. Giao tiếp giữa đường và xe, xe với trung tâm điều hành giao thông.
Đồng thời, tìm hiểu được các chuẩn truyền thông 3G.
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG PHƯƠNG THỨC
TRUYỀN THÔNG 3G CHO HỆ THỐNG ITS ÁP DỤNG TẠI
VIỆT NAM

3.1. Giới thiệu chương
Như ở chương 2, ta đã nghiên cứu các phương thức truyền thông trong hệ
thống. Ta thấy, bộc lộ một số khó khăn sau:
Như có thể thấy từ các ví dụ ứng dụng an toàn những thách thức lớn của V2X
được xác định là tính tin cậy và thời gian trao đổi thông tin dưới điều kiện hạn chế,
khó khan gây ra bởi môi trường liên lạc. Sau đây là một số hạn chế chủ yếu gây khó
khăn chính:
Việc phát radio: khi tín hiệu radio phát đi, đặc tính của chúng thay đổi theo
không gian và thời gian. Sự thay đổi này thường được biểu diễn bằng các phương trình
toán học. Các đặc tính của tín hiệu radio thường liên quan tới hiện tượng mất,bóng và
mờ.Hiệu ứng này gây ra bởi điều kiện vật lý của môi trường truyền dẫn.Ở đầu thu đó
là sự giao thao giữa các tín hiệu của cùng một tín hiệu radio được truyền theo các
hướng khác nhau.


13
13
Vấn đề phân cấp hệ thống: Mạng liên lạc V2X bao gồm một số lượng khổng lồ
các phương tiện được trang bị và các thiết bị lắp đặt dọc đường cũng tham gia vào
mạng lưới.Một hệ thống thông tin liên lạc như thế việc phân phối và phân cấp là cần
thiết để quản lý.Trong vùng hệ thống hạn chế (ví dụ như WLAN điểm truy cập (AP)
cung cấp truy cập không dây cho một phần của một tòa nhà văn phòng) việc kiểm soát
tập trung là có thể và AP có thể cung cấpchức năng cho quản lý và phối hợp.Đối với
mạng truyền thông V2X, ngược lại, tập trung kiểm soát như vậy là không hữu
dụng.Thay vào đó, một thông tin liên lạc ngay lập tức và trực tiếp giữa tất cả các nút
trong một môi trường cụ thể đã được thiết lập, cung cấp một cách phân cấp nhưng
chưa thực sụ phối hợp với nhau.Các khía cạnh của kiểm soát phân cấp là một lý do để
phối hợp không hoàn hảo và dẫn đến nhiễu của máy phát không được điều phối
Đặc điểm phát sóng giao tiếp:Dữ liệu giao thông từ ứng dụng an toàn trong mạng liên
lạc V2X được truyền chủ yếu một cách rộng rãi.Truyền rộng rãi ở đây là nhấn mạnh
rằng thông tin được truyền đi không có địa chỉ cố định của thiết bị nhận, nhưng nội
dung bên trong là mối quan tâm của tất cả các node hiện hữu ở khu vực xung quanh vị
trí phát.Thách thức của việc phân phối tin nhắn như vậy là sự nhận bởi tất cả các nút
trong một vùng xung quanh không thể được đảm bảo là không có cách nào thích hợp
để xác nhận việc tiếp nhận tin nhắn quảng bá đó.Thậm chí nếu có sẽ có phương án ghi
nhận, nó có thể vẫn không được đảm bảo rằng tất cả các máy thu có thể thực sự nhận
được thông báo do thực tế rằng không có thông tin về số lượng đầu thu là bao nhiêu
nút.Kết quả là, độ tin cậy của truyền theo cách cổ điển không thể được đảm bảo cho
thông tin liên lạc quảng bá.Khía cạnh này làm cho những hậu quả (tiêu cực) của các
hiệu ứng giao thoa thậm chí còn nghiêm trọng hơn khi truyền dẫn phát sóng bị ảnh
hưởng.
Tính lưu động: Các node trong V2X có đặc tính lưu động. Hiển nhiên mỗi node
có cách di chuyển riêng của nó theo từng vị trí địa lý mà ngưới điều khiển muốn đi
đến.Tuy nhiên, mức độ tự do bị hạn chế bởi mạng lưới đường bộ, các quy tắc giao
thông và hạn chế bởi các hành vi của các xe khác chia sẻ cùng một con đường.Tuy
nhiên, rất khó để dự đoán sự chuyển động của một chiếc xe cá nhân và nó cũng không
phải tầm thường để mô tả chính xác tình hình giao thông và tiến triển của nó nói
chung. Sự di chuyển của các nút ảnh hưởng đến thông tin liên lạc, do đặc điểm phát
thanh liên tục thay đổi và cấu trúc liên kết mạng khác nhau. Để khác phục những khó


14
14
khăn đó, luận văn đề xuất áp dụng phương thức truyễn thông 3G, và đây cũng
chính là nội dung mà chương 3 tập trung nghiên cứu.
3.2. Đánh giá mô hình ITS tại Việt Nam
 Cơ sở hạ tầng giao thông dù đã phát triển nhanh trong những năm gần đây
nhưng vẫn còn yếu kém, không đồng bộ, không chuẩn hóa. Ngoài những đoạn đường
cao tốc mới xây dựng đại đa số các đường không được phân làn rõ ràng. Phương tiện
giao thông tăng nhanh về số lượng, trong đó xe máy chiếm phần lớn. Dòng giao thông
hỗn hợp đa phương tiện với các tốc độ khác nhau. Điều này không cho phép áp dụng
rộng rãi trực tiếp các công nghệ kỹ thuật, thiết bị ITS nước ngoài.
 Nguồn lực tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó có hạng mục ITS,
hạn hẹp, rất nhỏ so với yêu cầu. Trong khi đó vốn đầu tư cho nghiên cứu ITS không hề
nhỏ. ở Việt Nam mặc dù gần đây nguồn nhân lực tư nhân bắt đầu được huy động
nhưng vốn xây dựng vẫn chủ yếu dựa vào ODA. Việc phụ thuộc nhiều vào nguồn
nhân lực bên ngoài này trong nhiều trường hợp có thể dẫn đến tình trạng manh mún,
cục bộ lệ thuộc vào quyền lợi nhà đầu tư.
 Ý thức chấp hành pháp luật của người dân chưa cao gây khó khăn cho xây
dựng, lắp đặt các hệ thống, thiết bị kỹ thuật cho ITS.
 Hiện tại ITS chưa nhận được sự quan tâm của chính phủ. Trong khi đó do
tính toàn diên, liên quan đến nhiều ngành của ITS, để phát triển ITS các nước cần
thành lập các Ban chỉ đạo quốc gia gồm nhiều thành phần bộ ngành.
3.3.Các phương thưc truyền thông được áp dụng cho hệ thống ITS ở Việt
Nam
3.3.1. Hệ thống máy chủ, trung tâm điều khiển
Đây là hệ thống quan trọng nhất trong việc tích hợp các phương thức truyền
thông cũng như dữ liệu trong các cấu phần kỹ thuật của hệ thống ITS.
Tổng quát
Hệ thống giao thông thông minh (ITS) đường cao tốc bao gồm nhiều hệ thống
bộ phận. Những hệ thống này thực hiện các chức năng của chính nó nhằm đạt tất cả
các mục tiêu về giao thông hiệu quả, an toàn và tiện lợi trên đường cao tốc.
Hệ thống ITS phải được trang bị và thiết lập một hệ thống máy chủ quản lý các
hệ thống khác nhau, bao gồm hệ thống giám sát và hệ thống điều hành giao thông

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét