Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

CÔNG TY TÀI CHÍNH CÔNG TY BẢO HIỂM

21
Công ty tài chính
1. Định nghĩa.
Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng
vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ
tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác như dịch vụ cầm, giữ hộ và
quản lý các chứng khoán, kim loại quý theo quy định của pháp luật.
2. Đặc điểm
• Các công ty tài chính có nguồn vốn rất dồi dào về cơ cấu, về số lượng, về thời gian, nguồn
vốn này càng lớn thì thị trường càng sôi động, linh hoạt và phát triển vì chúng là nguồn
tiếp sức cho việc mua đi bán lại các công cụ trên thị trường.
• Các công ty tài chính có lợi thế hơn các ngân hàng về tính năng động và tự do trong hoạt
động. Các công ty tài chính có thể huy động vốn thông qua hình thức phát hành trái phiếu,
cổ phiếu và thương phiếu. Chính phủ sẽ điều hành và quy định về số tiền công ty tài chính
có thể cho các khách hàng vay cũng như thời hạn cho vay nhưng không hạn chế các công
ty tài chính về việc lập các chi nhánh, quy định về số tài sản phải giữ hay quy định làm thế
nào để huy động vốn. Điều này tạo điều kiện cho các công ty tài chính điểu chỉnh các
khoản cho vay của mình sao cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng tốt hơn ngân hàng
và các tổ chức tín dụng khác.
• Mặc dù các công ty tài chính thường thực hiện các khoản cho vay với mức độ rủi ro phá
sản cao nhưng nhìn chung họ vẫn thu được lợi nhuận vì họ sẽ áp dụng lãi suất cao hơn đối
với các khoản vay rủi ro đó. Ngoài ra các tổ chức này còn đầu tư vào tất cả các loại công
cụ trên thị trường tiền tệ nhằm phân tán rủi ro, vừa thu được nhiều lợi nhuận hơn.
• Một trong những hạn chế của các công ty tài chính so với các tổ chức ngân hàng là không
được làm dịch vụ thanh toán và nhận tiền gửi dưới 1 năm. Các công ty tài chính là trung
gian tài chính, cung ứng tín dụng trung và dài hạn. Tuy vậy, các công ty tài chính hiện nay
đã khắc phục bằng việc phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ mới như dịch vụ nhận ủy
thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếp vốn, cho cả ngắn hạn, trung và dài
21
hạn. Những dịch vụ này đã giúp công ty tài chính thực hiện được các dịch vụ khác tương
tự như một ngân hàng thương mại.
3.Phân loại
Có 3 loại hình công ty tài chính, đó là: công ty tài chính bán hàng, công ty tài chính tiêu
dùng, công ty tài chính doanh nghiệp.
3.1. Công ty tài chính bán hàng
Công ty tài chính bán hàng do các công ty sản xuất, bán hàng và các nhà bán lẻ làm chủ sở
hữu và thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm, hàng hóa,
dịch vụ của chính công ty mình. Hình thức bán hàng của các công ty tài chính bán hàng là
hình thức bán hàng trả góp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty.
Ví dụ: Hệ thống bán lẻ Sears tài trợ khách hàng mua các hàng hóa và dịch vụ tại các cửa
hàng của Sears, GM Acceptance Corporations tài trợ cho khách hàng mua ô tô của GM,
Công ty tài chính cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng về các khoản cho vay mua hàng và thu
hút được khá nhiều khách hàng bởi vì thông thường các khoản vay ở các công ty tài chính
bán hàng được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn ngay tại các địa điểm mua hàng.
3.2 Công ty tài chính tiêu dùng
Công ty tài chính tiêu dùng là các doanh nghiệp riêng biệt, các công ty cổ phần hay do các
ngân hàng làm chủ sở hữu ( Citicorp, Owns Person-to-Person Finance Company hoạt động
khắp mọi nơi trên thế giới ).
Mục đích của các công ty tài chính tiêu dùng là thực hiện các khoản cho vay cho khách
hàng mua các loại hàng hóa cụ thể. Ví dụ như mua các vât dụng gia đình, sửa chửa nhà cửa
hay giúp đỡ chi trả các khoản nợ nhỏ.
Hình thức bán hàng của các công ty tài chính tiêu dùng là trả góp định kỳ. Thông thường
các công ty này cho các khách hàng không có khả năng vay từ các nguồn khác và định lãi
suất cao hơn.
3.3. Công ty tài chính doanh nghiệp
21
Công ty tài chính doanh nghiệp cung cấp các hình thức tín dụng chuyên biệt cho các doanh
nghiệp bằng các hình thức chính sau đây:
3.3.1. Bao thanh toán (factoring)
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các
khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua
hàng thỏa thuận tại hợp đồng mua bán.
Ví dụ: Một xí nghiệp may mặc có hóa đơn chưa thanh toán từ các cửa hàng bán lẻ đã mua
từ xí nghiệp với giá trị 100.000 đôla. Nếu xí nghiệp này cần tiền mặt ngay để mua trang
thiết bị, họ có thể bán tài khoản thanh toán này cho công ty tài chính với giá là 90.000 đôla
và giao quyền thu lại số nợ 100.000 đôla cho công ty tài chính.
Tiện ích của bao thanh toán:
Đối với doanh nghiệp bán hàng
• Cải thiện dòng tiền, tăng khả năng thanh
khoản.
• Tăng doanh số bán hàng nhờ chính sách bán
hàng trả chậm.
• Giảm chi phí hành chính, quản lý công nợ.
• Có nguồn tài chính mới mà không phụ thuộc
vào các khoản vay Ngân hàng, không yêu
cầu phải có tài sản bảo đảm
• Giảm thiểu nợ xấu, hạn chế rủi ro tín dụng.
Đối với doanh nghiệp mua hàng
• Có thể mua hàng theo điều khoản thanh toán
trả sau.
• Sử dụng tín dụng người bán để tài trợ vốn
lưu động.
• Cơ hội đàm phán điều khoản mua hàng tốt
hơn.
• Đơn giản hóa thủ tục thanh toán
3.3.2. Thuê tài chính:
21
Bên cạnh hình thức bao thanh toán, công ty tài chính còn chuyên môn hóa vào cho thuê
trang thiêt bị máy móc ( ví dụ ô tô, xe tải, toa hàng, máy bay, tàu thủy, máy tính ….) mà họ
mua về và cho các doanh nghiệp vay trong một khoảng thời gian nào đó.
 Phân biệt thuê tài chính và thuê thông thường: Khi doanh nghiệp cần mua sắm trang
thiết bị sản xuất có thể sử dụng hình thức thuê tài sản
Thuê tài chính Thuê thông thường
• Thời hạn cho thuê của tài sản tương đối
dài so với thời gian hữu dụng của tài sản.
• Bên thuê gánh chịu phần lớn rủi ro liên
quan đến tài sản.
• Thông thường, bên cho thuê có cam kết
bán lại tài sản cho bên thuê khi kết thúc
hợp đồng.
• Hiện giá của các khoản tiền chi trả tiền
thuê gần bằng với giá trị của tài sản thuê.
• Thời hạn cho thuê ngắn so với thời gian
hữu dụng của tài sản.
• Bên cho thuê gánh chịu phần lớn rủi ro
liên quan đến tài sản.
• Không có cam kết bán lại tài sản.
• Hiện giá của các khoản chi trả thuê thông
thường thấp hơn nhiều so với giá trị của
tài sản thuê.
 Yêu cầu của việc thuê tài chính: Một giao dịch được gọi là thuê tài chính phải thỏa mãn
một trong các điều kiện sau:
• Khi kết thúc hợp đồng cho thuê theo hợp đồng, bên thuê phải chuyển quyền sở hữu tài sản
thuê hoặc tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên.
• Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản
thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại
• Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài
sản thuê.
21
• Tổng số tiển thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải
tương đương với giá trị tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
→ Do đó cho thuê tài chính thực ra là một hình thức cấp tín dụng. Khi một hợp đồng thuê
tài chính được kí kết, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được cấp một khoản vốn. Khoản
vốn này có được là do doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra mua tài sản mà cẫn có tài sản sử
dụng lâu dài cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì đáng lẽ ra, có thể doanh nghiệp đã phải
đi vay một số vốn tương đương giá trị tài sản trong hợp đồng thuê trả cho công ty cho thuê
tài chính bao gồm cả vốn gốc và lãi.
 Các hình thức của thuê tài chính:
• Thuê trực tiếp: Máy móc, trang thiết bị do chinh doanh nghiệp lựa chọn và thỏa thuận với
công ty cho thuê để mua tài sản đúng nhãn hàng mình cần.
• Hình thức bán và thuê lại ( Sale and lease-back): Khá phổ biến trong lĩnh vực bất động
sản, công ty cho thuê tài chính sẽ mua tài sản của doanh nghiệp, trả cho doanh nghiệp một
khoản tiền mặt rồi cho doanh nghiệp thuê lại tài sản đó.
• Thuê tài sản mua bằng vốn vay ( Leverage leases): Trong hình thức này có sự tham gia
của 3 bên: bên đi thuê, bên cho thuê và nhà cho vay. Ở đây, nghĩa vụ của doanh nghiệp đi
thuê không thay đổi, chỉ khác là doanh nghiệp cho thuê đã sử dụng hợp đồng cho thuê để
thế chấp cho nhà cho vay nhằm đảm bảo cho một khoản vay nào đó.
 Lợi ích của doanh nghiệp từ hình thức cho thuê tài chính
• Thông thường đối với các tài sản vốn vay trung và dài hạn, các ngân hàng thương mại đều
đòi hỏi tài sản đảm bảo ( thế chấp hoặc cầm cố ) và chỉ cho vay tối đa 80% tổng chi phí
thực hiện dự án, nhưng với công ty cho thuê tài chính, doanh nghiệp chẳng những không
cần phải thế chấp tài sản hay kí quỹ đảm bảo mà còn có thể được cung cấp 100% vốn đầu
tư. Lãi suất hoàn toàn dựa vào thỏa thuận của 2 bên.
21
• Kênh tín dụng này cũng cho phép doanh nghiệp hoàn toàn chủ động trong việc lựa chọn
thiết bị, máy móc, nhà cung cấp, mẫu mã, chủng loại phù hợp với yêu cầu của doanh
nghiệp mình.
• Ngoài ra, nếu doanh nghiệp đã lỡ mua đầu tư tài sản mà thiếu vốn lưu động thì vẫn có thể
bán lại cho công ty cho thuê tài chính và đi thuê lại. Như vậy doanh nghiệp vừa có tài sản
để sử dụng, vừa có vốn để phục vụ chohoạt động kinh doanh.
• Kết thúc thời hạn cho thuê, doanh nghiệp được quyền ưu tiên mua lại tài sản với giá trị
danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại.
• Một lợi ích vô cùng quan trọng của hình thức cho thuê tài chính là đó là lợi ích được
hưởng từ tấm chắn thuế. Tài sản cho thuê vẫn thuộc quyền sở hữu của công ty cho thuê
nên công ty vẫn có quyền khấu hao tài sản đó, làm giảm thuế thu nhập phải nộp. Mặt khác,
bên đi thuê phải trả chi phí thuê, chi phí đó được khấu trừ trước thuế nên cũng được giảm
thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Như vậy, cả 2 doanh nghiệp đều được hưởng lợi ích
trong việc nộp thuế doanh nghiệp.
 Danh mục cho thuê tài chính
Danh mục hồ sơ mà các công ty thuê tài chính yêu cầu là khá giống nhau, chỉ khác biệt ở
một vài hồ sơ.
1. Hồ sơ pháp lí doanh nghiệp: 1 bộ
2. Biên bản quyết định của Hội đồng Quản trị, Hội đồng Tư vấn, chủ doanh nghiệp về việc
thuê tài chính ( bản chính ).
3. Giấy đề nghị thuê tài chính và phương án thuê tài chính: 1 bộ.
• Bản thỏa thuận với nhà cung ứng tài sản kèm các tài liệu về tài sản thuê.
• Biên bản xác nhận về việc lựa chọn nhà cung cấp ( theo mẫu ).
4. Tài liệu liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp ( bản chính ): 1 bộ.
• Báo cáo tài chính liên quan đến tình hình hoạt động 2 năm gần nhất, quý gần nhất.
21
• Các tài liệu chứng minh năng lực tài chính khác.
• Tài liệu liên quan đến tài sản thuê
3.3.3. Thuê vận hành
• Thời hạn ngắn, công ty cho thuê đảm bảo sửa chữa, bảo trì cho máy móc, thiết bị. Đây là
hình thức cho thuê hoạt động, tức là cho thuê có thời hạn tài sản ) và sẽ trả lại bên cho thuê
khi kết thúc thời gian thuê tài sản. Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản và nhận tiền cho
thuê theo hợp đồng đã thỏa thuận.
• Các công ty thuê tài chính muốn thực hiện nghiệp vụ này phải đáp ứng những điều kiện
như: có nhu cầu hoạt động cho thuê vận hành, có thời gian hoạt động tối thiểu 2 năm, kinh
doanh có lãi, tỉ lệ nợ quá hạn tại thời điểm cuối quý trước không dưới 5%, không vi phạm
các quy định an toàn khi hoạt động, phải đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để phục vụ
cho thuê ( kho hàng, bến bãi, bảo dưỡng khi cho thuê, ). Hợp đồng cho thuê vận hành
không ràng buộc việc mua bán tài sản cho thuê giữa bên thuê và bên cho thuê.
3.3.4. Khác biệt giữa thuê tài chính và thuê vận hành
• Trong trường hợp cho thuê tài chính thông thường bên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê
chuyển quyền sở hữu cho mình khi thời hạn hợp đồng kết thúc, nhưng thuê vận hành thì
không.
• Mặc dù cả 2 trường hợp quyền sở hữu tài sản đều thuộc về bên cho thuê trong thời hạn hợp
đồng cho thuê nhưng bên thuê vẫn có quyền khấu hao tài sản trong trường hợp thuê tài
chính, đối với thuê vận hành thì bên cho thuê khấu hao.
• Trách nhiệm bảo dưỡng, bảo trì tài sản trong 2 trường hợp khác nhau: thuê tài chính thì
thuộc về bên thuê, thuê vận hành lại thuộc về bên cho thuê
4. Tình hình các công ty tài chính tại Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có một số công ty tài chính như: PVFC – tổng công ty tài chính cổ
phần dầu khí Việt Nam, Hafic_ công ty tài chính cổ phần Handico…hai công ty tài chính
21
100% vốn nước ngoài đầu tiên: công ty tài chính Prudential của tập đoàn Prudential và
công ty tài chính SG của tập đoàn Société Générale
Việc thành lập thêm các công ty tài chính sẽ góp phần tạo thêm 1 kênh dẫn vốn cho nền
kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục vụ kịp thời nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng cá nhân- một
lĩnh vực mà các tổ chức tín dụng vừa qua chưa đáp ứng được.
Tại Việt Nam hiện nay, thị trường chung của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng vẫn đang
trong giai đoạn “tự phát” là chính. Số lượng ít, quy mô nhỏ, cùng với những rắc rối trong
thủ tục hành chính, đã ngăn cản các công ty tài chính nhỏ lẻ vượt qua được các ngân
hàng trong các dịch vụ bán lẻ. Một nguyên nhân khác nữa cũng ảnh hưởng đến sự phát
triển của các công ty tài chính là phần lớn đều trực thuộc các tập đoàn kinh tế của nhà
nước, hay các tổng công ty dưới Bộ. Nhắc tới các công ty tài chính, giới đầu tư vẫn chỉ
quen 2 cái tên Prudential Việt Nam và công ty Việt_Sài Gòn. Những công ty này khác với
các công ty tài chính còn lại, hầu hết đều thuộc Nhà nước quản lý.
Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh và ổn định. Việc hội nhập với nền kinh tế
thế giới và khu vực của Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, điều này sẽ
khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tìm kiếm các lĩnh vực đầu tư hiệu quả,
trong đó có mô hình hoạt động của công ty tài chính
Công ty bảo hiểm
1. Khái quát về công ty bảo hiểm
I.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm
Trong cuộc sống cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày dù luôn chú ý
ngăn ngừa và đề phòng nhưng chúng ta luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ. Các
rủi ro đó có thể do nhiều nguyên nhân như: thiên tai, biến động của khoa học công nghệ,
môi trường xã hội, nhưng chúng đều mang lại cho chúng ta những tổn thất lớn cả về tinh
21
thần và vật chất. Khi rủi ro xảy ra, để bảo vệ bản thân, chúng ta cần có một tổ chức đứng ra
ổn định tài chính, hạn chế tổn thất, đó chính là các công ty bảo hiểm.
1.2. Định nghĩa công ty bảo hiểm
Các công ty bảo hiểm là các trung gian tài chính thực hiện chi trả cho các sự kiện
không mong đợi xảy ra (với khoản phí hay với giá cả nhất định), được thành lập, tổ chức
và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp
luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
1.3. Phân loại công ty bảo hiểm
Có 2 cách phân chia:
 Bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản
• Công ty bảo hiểm nhân thọ: Công ty bảo hiểm nhân thọ phát hành bảo hiểm chủ
yếu cho cái chết của người chủ sở hữu bảo hiểm, cam kết chi trả một lần hay nhiều lần cho
người hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Phần lớn công việc kinh doanh của bảo hiểm nhân thọ là cung cấp các sản phẩm dịch vụ
bảo hiểm liên quan đến quỹ hưu trí và sức khỏe.
• Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn: Bảo hiểm cho một loạt các sự kiên không
định trước khác nhau liên quan đến tài sản.Ví dụ như:
- Mất mát, hư hỏng tài sản
- Mất hay thiệt hại khả năng tạo thu nhập của tài sản
- Thiệt hại hay thương tật gây ra cho chủ thể thứ ba
- Thiệt hại hay thương tật do tai nạn nghề nghiệp
Điểm khác biệt chủ chốt giữa công ty bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản là mức
độ khó khăn trong việc quyết định chi trả cho người giữ hợp đồng bảo hiểm hay không và
nếu có thì chi trả bao nhiêu và như thế nào: Đối với bảo hiểm nhân thọ thì phương diện xác
suất thống kê rủi ro là tương đối dễ dàng. Việc tính toán xác định qui mô và thời hạn nghĩa
vụ của cá công ty bảo hiểm tài sản là khó hơn do tính ngẫu nhiên thất thường của các sự
kiện rủi ro, thiên tai
 Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm thương mại
• Bảo hiểm xã hội: Là nhu cầu khách quan của người lao động, nó đảm bảo thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ gặp phải những sự kiện bảo
hiểm làm giảm hoặc mất khả khả năng lao động nhằm đảm bảo đời sống cho người lao
động và gia đình họ.
21
Theo khuyến nghị của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã nêu trong công ước số 102 tháng
6 năm 1952 tại Giơnevơ, hệ thống các chế độ BHXH bao gồm:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp đau ốm
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng).
Tùy theo điều kiện kinh tế -xã hội mà mỗi nước thực hiện các chế độ khác nhau
nhưng phải tối thiểu 3 chế độ. Trong đó, ít nhất phải có một trong 5 chế độ sau: 3, 4, 5, 8,
9.
• Bảo hiểm y tế: được tách ra từ chế độ “chi phí y tế” trong hệ thống các chế độ bảo
hiểm xã hội. Ngày nay, bảo hiểm y tế phát triển mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu khám và
chữa bệnh của mọi thành viên trong xã hội nên nó không chỉ dừng lại ở lực lượng lao động
mà mở rộng đến mọi đối tượng có nhu cầu dưới hình thức tự nguyện.
Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT,
BHYT được phân ra:
- BHYT trọn gói: là phương thức BHYT trong đó cơ quan BHYT sẽ chịu trách nhiệm
về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được BHYT.
- BHYT trọn gói trừ các đại phẫu thuật: là phương thức BHYT trong đó cơ quan
BHYT sẽ chịu trách nhiệm về mọi chi phí y tế thuộc phạm vi BHYT cho người được
BHYT, trừ các chi phí cho các cuộc đại phẫu thuật.
- BHYT thông thường: là phương thức BHYT trong đó trách nhiệm của cơ quan
BHYT được giới hạn tương xứng với trách nhiệm và nghĩa vụ của người được BHYT.
• Bảo hiểm thất nghiệp: cũng được tách ra từ bảo hiểm xã hội do sự phát triển của
nền kinh tế và lực lượng lao động xã hội. Bảo hiểm thất nghiệp phát sinh trên cơ sở quan
hệ lao động, do đó, giải quyết bảo hiểm thất nghiệp liên quan đến trách nhiệm của xã hội,
của người sử dụng lao động và cả người lao động.
Điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp:
- Người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định.
- Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét