Thơng hiệu có hai chức năng chính: khẳng định nguồn gốc xuất xứ của sản
phẩm và giá trị tiêu dùng của sản phẩm; phân biệt sản phẩm này với sản phẩm
khác.
Thơng hiệu có tác dụng lớn vì nó luôn in sâu vào tâm trí của khách hàng.
Trong khi khách hàng tìm các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng những mong muốn
hay giải quyết các vấn đề đang gặp, khách hàng luôn muốn tìm cho mình các sản
phẩm đủ tốt. Thơng hiệu hứa hẹn sản phẩm với độ tin cậy cao. Ngời ta thờng
nói:"Chúng ta đứng sau sản phẩm của chúng ta, điều này cũng dễ hiểu thôi, bởi
khi doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa, họ luôn phải dõi theo hàng hoá đó có đáp
ứng đợc nhu cầu của thị trờng không, liệu nó có tiêu thụ tôt không? Điều đó hoàn
toàn phụ thuộc vào tâm lý tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm mà họ làm
ra. Thơng hiệu truyền thông trực tiếp ở mức các giác quan nhạy cảm và do đó dễ
tạo cho ngời tiêu dùng một niềm tin mãi mãi.
Ngày nay, thơng hiệu có một vai trò vô cùng quan trọng trong khâu tiêu thụ
sản phẩm. Khi khoa học công nghệ phát triển, các doanh nghiệp có thể sản xuất ra
các mặt hàng có chức năng, hình thức, chất lợng không có sự khác nhau nhiều,
dẫn đến tình trạng cạnh trạnh rất gay gắt. Để hàng hoá tiêu thụ đợc là cả một vấn
đề lớn mà bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải nghĩ tới. Vì vậy, một chiến lợc
xây dựng thơng hiệu là chìa khoá cho các nỗ lực bán hàng, dịch vụ khách hàng và
truyền thống công ty.
Mỗi công ty, thậm chí một doanh nghiệp mới khởi đầu cũng cần có một
chiến lợc nhãn hàng thích hợp trớc khi khởi đầu một chơng trình marketing.
2.2 Lợi ích của thơng hiệu mang lại cho ngời tiêu dùng
Việc đặt tên cho sản phẩm giúp cho ngời tiêu dùng phân biệt đợc sản phẩm,
họ sẽ có cơ hội so sánh và lựa chọn giữa nhiệu nhãn hiệ khác nhau trên thị trờng
để có đợc sản phẩm phù hợp cho mình. Thơng hiệu sẽ cung cấp cho khách hàng
5
một số thông tin ban đầu. Ví dụ khi ngời tiêu dùng nghe tới ti vi SONY, họ sẽ nghĩ
ngay tới đây là một thơng hiệu rất tốt, đã đợc chấp nhận qua nhiều năm bởi chất l-
ợng tốt, mẫu mã đẹp. Nói tới SONY, họ còn thấy đây là sản phẩm của Nhật, nơi có
những con ngời thông minh, cần cù, chịu khó, có công nghệ sản xuất hiện đại vào
bậc nhất của thế giới.
3. Giá trị tài chính của thơng hiệu
Một thơng hiệu manh tạo ra cho doanh nghiệp những lợi ích rất lớn. Vì vậy,
ngày nay ngời ta quan tam nhiều hơn tới giá trị thực tế của cac thơng hiệu qua việc
đánh giá khả năng sinh lời của chúng.
Ví dụ: trớc đây, Rickett & Colman (R&C) đã mua lại airwick Group từ tay
Ciba Geigy với giá 165 triệu bảng thay vì giá trị thực tài sản là 55.8 triệu bảng.
Đến năm 1998, dới sức ép của thị trờng, ông chủ hãng đã bán lại công ty và thơng
hiệu R&Cđợc coi là tài sản vô hình với giá trị lên tơí 678 triệu bảng. Còn ở Việt
Nam, hãng KAO đã mua lại P/S với giá cao hơn nhiều lần so với giá trị thực của
một công ty P/S gần nh phá sản. Và họ đã vực dậy công ty với thơng hiệu P/S đã
có chỗ đứng vững chắc trong tâm trí ngời Việt Nam. Và họ cũng thuyết phục đợc
khách hàng Việt Nam với hình ảnh của một sản phẩm truyền thống của ngời Việt
Nam
4. Quản lý và đánh giá thơng hiệu
Mục tiêu marketing khi xây dựng thơng hiệu là tạo dựng trong tâm trí
khách hàng một lòng tin vững chắc về nhãn hàng của doanh nghiệp. Đầu tiên,
doanh nghiệp dành nỗ lực để làm cho khách hàng nhận biết sản phẩm và tạo nên
những liên tởng tích cực trong tâm trí của họ. Qua thời gian, sự nhận biết và thái
6
độ tích cực đó chuyển thành lợi nhuận khi ngời tiêu dùng trung thành với thơng
hiệu sản phẩm của doanh nghiệp.
Các thông điệp marketing luôn là cầu nối để giới thiệu sản phẩm của doanh
nghiệp tới ngời tiêu dùng, giúp cho họ hiểu đợc những lợi ích mà sản phẩm ấy
mang lại. Mỗi hoạt động chiến lợc marketing, đòi hỏi phải đợc lựa chọn cẩn thận
để hỗ trợ cho thơng hiệu. Những quảng cáo, xúc tiến bán hàng, những sự kiện đặc
biệt hoặc bảo trợ sự kiện của doanh nghiệp đều phải củng cố cho thơng hiệu. Mỗi
một quan điểm của khách hàng với sản phẩm đều là một cơ hội để doanh nghiệp
xây dựng thơng hiệu.
Việc xây dựng thơng hiệu không phải là một hoạt động mà doanh nghiệp
có thể hoàn thành trong một thời gian ngắn hoặc là mua sẵn từ một công ty t vấn
hay quảng cáo. Một thơng hiệu thành công cần đợc xây dựng qua thời gian, từ
hàng trăm những điều nhỏ mà doanh nghiệp làm đúng. Thơng hiệu là một lời hứa
hẹn, nó đảm bảo rằng sản phẩm hay dịch vụ mang nhãn đó sẽ sống cùng thời gian.
Giá trị của nhãn đó tăng hay giảm cùng tên với tính chính trực của những ngời
đứng sau nó. Quyền lực cuối cùng quản lý thơng hiệu nằm trong tay những ngời
đứng đầu doanh nghiệp. Để cải tiến tính sinh lợi lâu dài, doanh nghiệp cần đánh
giá vị thế của nó trên thị trờng. Để làm điều đó, doanh nghiệp cần phải tự đánh
giá xem mình đang đứng ở đâu khi bắt đầu khởi xớng thơng hiệu của mình. Trớc
khi triển khai một chiến lợc xây dựng nhãn hàng, doanh nghiệp nên nghiên cứu để
thăm dò những nhận thức của khách hàng đối với doanh nghiệp, nhãn hiệu và các
sản phẩm mang nhãn hiệu. Dựa trên những hiểu biết đó, doanh nghiệp có thể xây
dựng một thơng hiệu để làm nổi bật những điểm mạnh .
II. Thơng hiệu Việt Nam trên thị trờng quốc tế
1. Những vấn đề chung về thơng hiệu Việt Nam trên thị trờng quốc tế
7
Trên con đờng hội nhập và phát triển nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đang
dần chuyển mình từng bớc để theo kịp bớc tiến của thời đại. Nền kinh tế Việt Nam
đã có những chuyển biến tích cực, ngày càng có nhiều doanh nghiệp thành đạt
hơn. Khi những doanh nghiệp này có tiềm lực mạnh mẽ, họ luôn nghĩ tới việc xuất
khẩu hàng hoá của mình ra nớc ngoài, bởi đây là một thị trờng đầy tiềm năng, nơi
mà họ có thể thu đợc lợi nhuận lớn. Mặt khác, việc gia nhập thị trờng nớc ngoài là
một dịp tốt để các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội cọ xát, học hỏi, tiếp thu khoa
học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của bạn, để từng bớc hoàn thiện sản phẩm và
nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trờng quốc tế.
Với mục đích thâm nhập vào thị trờng nơc ngoài, một trong những lĩnh vực
đang đợc các doanh nghiệp đẩu t mạnh mẽ, đó là phát triển thơng hiệu. Đây là lĩnh
vực mới mẻ ở Việt Nam nhng nhiều doanh nghiệp đã nhận thức rõ ràng, nếu
không đầu t thì khó thu đợc thành công trên thơng trờng. Khi doanh nghiệp xây
dựng đợc cho mình một thơng hiệu độc quyền, có vị trí nhất định trong tâm trí ng-
ời tiêu dùng, sẽ là điều kiện tiên quyết để tiêu thụ đợc sản phẩm nhanh chóng và
lâu bền nhất.
Tuy nhiên, để có thể giành đợc thắng lợi trong lĩnh vực này, điều kiện tối
thiểu là các doanh nghiệp phải biết đợc luật chơi trên thị trờng quốc tế. Việc thơng
hiệu của một số các doanh nghiệp nh cà phê Trung Nguyên, bia Sài Gòn, may Việt
Tiến, hay gần đây nhất là Petrol Việt Nam đã bị đánh cắp ở nớc ngoài là một minh
chứng rõ ràng cho sự thiếu hiểu biết về luật chơi. Và hậu quả là họ đã chịu những
thiệt hại vô cùng lớn, uy tín của sản phẩm trên thị trờng quốc tế bị giảm sút dẫn
đến giảm sản lợng xuất khẩu, giảm lợi nhuận, ảnh hởng trực tiếp tới đời sống của
ngời dân làm việc trong nghề này.
Đây sẽ là những bài học thật bổ ích không chỉ cho những doanh nghiệp nêu
trên mà còn cho cả những doanh nghiệp có mong muốn đợc xuất khẩu hàng hoá
của mình ra nớc ngoài. Có thể nói, thơng hiệu đóng một vai trò quan trọng, có ý
nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp.
8
2. Quan hệ Việt Nam và Mỹ sau chiến tranh
Cha có một cuộc chiến tranh nào ở Mỹ mà giới báo chí lại tốn nhiều giấy mực
nh cuộc chiến tranh ở Việt Nam, cuộc chiến kéo dài 20 năm ấy giờ đây đã là quá
khứ. Kể từ ngày cuộc chiến chấm dứt tới nay đã hơn một phần t thế kỷ, cả hai dân
tộc Việt Nam và Mỹ đều muốn khép lại quá khứ, mở ra một tơng lai: hợp tác, hữu
nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi.
Đối với Việt Nam, chủ trơng bình thờng hoá, đa dạng hoá, làm bạn với
tất cả các nớc trên thế giới luôn định hớng hàng đầu trong chính sách đối ngoại.
Cũng vậy, đối với Mỹ, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện
nay, Mỹ cũng không đi chệch khỏi quỹ đạo khi quay lại làm bạn với một đất nớc
hình chữ S cách mình nửa vòng trái đất. Vì thế cả hai nớc đều có những nỗ lực để
cho tiến trình bình thờng hoá trở thành hiện thực: Từ nới lỏng cấm vận, cho đến bỏ
cấm vận, rồi bình thờng hoá, thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ giữa hai nhà
nớc, giao dịch thơng mại, đầu t, viện trợ và đặc biệt là Hiệp định thơng mại Việt
Mỹ chính thức có hiệu lực từ tháng 5/2002 là minh chứng rõ ràng cho nỗ lực
này.
3. Xác định Mỹ là thị trờng đầy tiềm năng
Tuổi đời của nớc Mỹ mặc dù còn rất trẻ xong những thành tựu kinh tế mà
nó đạt đợc thì không một quốc gia nào có thể phủ nhận. Cuộc chiến tranh thế giới
lần thứ nhất và lần thứ hai làm cho nền kinh tế Nhật Bản, Đông Âu bị khủng
hoảng nghiêm trọng, ngợc lại, Mỹ giầu lên nhanh chóng nhờ việc buôn bán vũ khí
với giá cao cho vay nặng lãi Kể từ đó tới nay, dựa trên một tiềm lực kinh tế mạnh
mẽ, thu hút đợc nhiều nhân tài từ mọi nơi trên thế giới, Mỹ đã gây đựng đợc một
nền kinh tế hùng mạnh vào loại bậc nhất của Thế giới, với GDP hơn 9000 tỷ $
chiếm khoảng 22% GDP thế giới, có nền khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
9
Với một diện tích rộng lớn, cùng với lợng dân c đông đúc là một thị trờng
rộng lớn cho tất cả các mặt hàng. Hàng năm, nớc Mỹ phải nhập khẩu một số lợng
rất lớn các loại hàng hoá, đặc biệt là trong lĩnh vực hàng tiêu dùng cá nhân. Xúc
tiến thơng mại với Hoa Kỳ, sẽ tạo điều kiện tăng kim ngạch xuất khẩu cho nền
kinh tế Việt Nam, gián tiếp tạo động lực thu hút nhiều hơn nữa các công ty nơc
ngoài vào hoạt động đầu t cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu ở Việt Nam.
Tăng cờng giao dịch, buôn bán với Mỹ giúp Việt Nam ngày càng hoà nhập
hơn nữa vào thị trờng thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam có điều kiện để cải thiện
hơn mạng lới buôn bán của mình, điều này giúp Việt Nam theo kịp nhịp độ tự do
buôn bán với các nớc trong ASEAN, mở đờng cho sự tham gia đầy đủ của Việt
Nam vào các hoạt động hợp tác kinh tế với các nớc thành viên của hiệp hội.
Tuy nhiên, môi trờng kinh doanh ở đây cũng rất phức tạp, doanh nghiệp nào muốn
đứng vững ở thị trờng này, họ phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh với
các đối thủ khác. Để làm đợc điều đó, quả thực không hề đơn giản, ngoài việc cập
nhật những kĩ thuật mới, họ còn phải nắm vững đợc những quy định mà Mỹ đặt ra;
những quy định này là rất quan trọng, có thể nói nó có ý nghĩa sống còn với các
nhà xuất khẩu. Tuy vậy, khi hiểu đợc những điều đó, nhà xuất khẩu sẽ mở ra cho
mình một cơ hội kinh doanh với lợi nhuận cao.
Phần II: Thực trạng kinh doanh cá da trơn Việt nam
trên thị trờng Mỹ
I. Tình hình cá basa trên thị trờng Mỹ
1. Sản phẩm cá tra, basa Việt Nam trên thị trờng Mỹ
10
Theo thông báo của phía Mỹ trong năm 2001, xuất khẩu cá tra, cá basa
của ta sang thị trờng Mỹ đạt 50 triệu $, riêng hai tháng đầu năm 2002, xuất khẩu
cá tra, cá basa vào thị trờng Mỹ đạt khoảng 30 triệu $. Còn theo báo cáo của Bộ
Thuỷ sản, trong những tháng đầu năm 2002, xuất khẩu loại cá này vào thị trờng
Mỹ tăng 20%, chiếm 52.8% tổng xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam.
Theo số liệu của công ty t vấn Mỹ Willkie Farr và Gallagher cung cấp, Việt
Nam bắt đầu xuất cá tra, cá basa sang Mỹ: năm 1998 với sản lợng 261.352 kg;
năm 2001 con số này tăng lên đạt 7.765.319 kg, chiếm 94.54% thị phần nhập khẩu
loại cá này của Mỹ.
Từ đầu năm 2001 tới tháng 3/2002 khối lợng cá da trơn nhập khẩu vào Mỹ
có xu hớng giảm nhẹ, tuy nhiên, xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam sang Mỹ
vẫn tăng. Đến nay đã chiếm tới 99.49% thị phần nhập khẩu cá da trơn. Nh vậy
Việt Nam hầu nh là nớc duy nhất xuất khẩu loại cá này cho thị trờng Mỹ.
Năm 2000 mức giá trung bình của cá da trơn tại thị trờng Mỹ có xu hớng
giảm, giá cá của Việt Nam về cơ bản đã ở mức tơng đơng với giá trung bình của
các nớc nhập khẩu vào Mỹ.(khoảng 3.3$/kg). Đến năm 2001, mức giá trung bình
có xu hớng giảm xuống mức 2.77 $/kg và giá cá của ta cũng giảm theo ở mức này.
Đến tháng 3/2002, mức giá trung bình của ta và các nớc khác đều ở mức 2.65
$/kg. Tuy nhiên theo báo cáo gần đây nhất của Bộ Thơng Mại, hiện nay giá cả của
Việt Nam tại thị trờng Mỹ đã tăng từ 2.6 $/kg đến 3.7$/kg. Việc xuất khẩu cá
basa, cá tra của Việt Nam vào thị trờng Mỹ tiếp tục tăng là do trong những tháng
đầu năm cá nheo của Mỹ cha tới vụ thu hoạch nên cung thiếu. Đồng thời, luật
107-76 về ngân sách nông nghiệp 2002 của Mỹ (có hiệu lực từ tháng 10/2001 đến
30/9/2002) chỉ không cho dùng tên Catfish khi làm thủ tục nhập khẩu, chứ không
cấm việc sử dụng tên gọi này ở các khâu tiêu thụ (bán buôn, bán lẻ, dịch vụ, nhà
hàng) tại thị trờng Mỹ. Mặt khác, việc chính phủ Mỹ và các doanh nghiệp sản xuất
cá da trơn sử dụng các phơng tiện thông tin đại chúng tại Mỹ để tuyên truyền cho
11
phong trào hạn chế nhập khẩu cá da trơn của ta vào Mỹ đã có phần nào tác dụng
quảng cáo cho cá của ta tới đông đảo ngời tiêu dùng Mỹ.
2. Thơng hiệu của cá da trơn Việt Nam trên thị trờng Mỹ
Cá da trơn Việt Nam đa vào thị trờng Mỹ có tên gọi Catfish, và đó cũng là
tên chữ cái tiếng Anh chỉ tất cả các loài cá da trơn (không có vẩy), bao gồm cá trê,
cá nheo, cá tra, cá basa, cá lăng, cá bông lau Theo hệ thông phân loại ng học, tất
cả các loài cá nói trên đều thuộc về Bộ cá nheo có tên gọi (Siluriformes) gồm
khoảng 2500 đến 3000 loài cá khác nhau, phân bổ trong các thuỷ vực nớc ngọt,
mặn và lợ trên khắp thế giới. Các loài cá này đợc xếp vào các họ cá khác nhau,
trong đó có họ cá nheo Mỹ (Ictaluridae) và họ cá da trơn Châu á (Pangasiidae).
Loài cá nheo đợc nuôi ở Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ cá nheo Mỹ, còn cá tra
(Pangasius hypophthalmus) và cá tra, cá basa (Pangasius bocourti) đợc nuôi phổ
biến ở đồng bằng sông Cửu Long thuọoc họ cá da trơn Châu á.
Tuy nhiên, khi sử dụng tên Catfish cho các sản phẩm này, Việt Nam đã bị
Hiệp hội cá da nheo Mỹ (CFA) phản đối vì họ cho rằng sản phẩm này đã sử dụng
nhãn hiệu của họ. Nhng trên thực tế, đây là tên sản phẩm chứ không phải tên nhãn.
Mặc dù vậy, dới sức ép của CFA, sản phẩm cá tra, cá basa của Việt Nam trên thị
trờng Mỹ cũng đã gặp phải những bất lợi lớn.
Đáng chú ý nhất là trong cuộc chiến Catfish hiện này là Hiệp hội các chủ
trại nuôi cá Nheo Mỹ; Hiệp hội này đại diện cho giới chủ trại nuôi cá nheo giầu có
ở bang Missisipi và một số bang miền Nam nớc Mỹ. Đây là ngành sản xuất quan
trọng tại các bang này, các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ thu lợi rất lớn từ việc khai
thác những vùng đất hoang mênh mông nơi đây vào việc nuôi cá. Trớc đây, cá
nheo vốn là thức ăn của ngời da đen nghèo khổ, nay đã trở thành một loại thực
phẩm đợc bán rộng rãi trên thị trờng Mỹ, xếp thứ 5 trong số các loại thuỷ sản đợc
tiêu thụ nhiều nhất trên thị trờng này.
12
Chính vì vậy, họ rất cay cú khi thấy những sản phẩm cá da trơn đợc nhập
khẩu từ nớc ngoài có phẩm chất tốt hơn, giá bán rẻ hơn, đang chiếm lĩnh trên thị
trờng Mỹ. Và thế là sau hơn 20 năm sau khi thất bại trong cuộc chiến chống lại
dân tộc Việt Nam, Mỹ lại chủ trơng dấy lên một cuộc chiến mới, mà nh họ tuyên
bộ lần này không phải để chống lại chủ nghĩa cộng sản mà để chống lại cá tra, cá
basa của Việt Nam.
3. Cuộc chiến Catfish của Việt Nam trên thị trờng Mỹ
Trong hai năm 1999 và 2000, lợng cá tra, cá basa Việt Nam xuất khẩu vào
Mỹ tăng khá nhanh, ảnh hởng trực tiếp tới lợi nhuận của những nhà nuôi cá nheo
Mỹ. Vì vậy, từ cuối năm 2000, qua d luận và các phơng tiện thông tin đại chúng,
CFA đã cố tình đa những thông tin sai lệch để bôi xấu hình ảnh cá tra, cá basa của
Việt Nam. CFA đã thực hiện một chiến dịch ồn ào nhng không ngăn đợc lợng cá
da trơn Việt Nam xuất khẩu vào thị trờng Mỹ.
Để tìm hiểu thực chất vấn đề, Hiệp hội nuôi cá nheo Mỹ đã sang Việt Nam
tìm hiểu tình hình nuôi cá tra, cá basa. Đoàn đã khảo sát kỹ tình hình thực tế nuôi
và chế biến cá tra, cá basa tại các bè cá, ao nuôi, nhà máy chế biến tại An Giang và
Cần Thơ. Những kết quả mà đoàn đánh giá tốt về công nghệ nuôi, chế biến cũng
nh điều kiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của cá da trơn Việt Nam. Với
nhận xét này, cuộc chiến chống lại cá da trơn Việt Nam ở Mỹ lắng xuống chút ít.
Nhng kết quả này đã không đợc CFA công nhận. Đầu tháng 2/2001, vào thời
vụ ở Mỹ khan hiếm cá nheo, cá nhập khẩu Việt Nam tăng, cuộc chiến lại rộ lên.
CFA bắt đầu một chiến dịch quảng cáo kéo dài 9 tháng, tiêu tốn 5,2 triệu USD do
Viện Cá nheo Mỹ (TCI) phát động. Những áp phích in trên các tạp chí thơng mại
và quảng cáo thực phẩm sặc mùi bài ngoại với những dòng tít nh: Đừng bao giờ tin
vào sản phẩm catfish ngoại quốc. Bên cạnh đó, họ phát động chiến dịch ngời Mỹ
13
ăn cá nheo Mỹ và sáng tác ra nhãn hiệu Cá catfish nuôi của Mỹ, tạo ra không khí
bài xích đối với các sản phẩm Việt Nam.
Đồng thời, chủ tịch Hiệp hội còn đề nghị chính phủ Mỹ đàm phán với Việt
Nam một hiệp định riêng về cá Catfish. Trong những tháng tiếp theo đó, hiệp hội
CFA đã thuê công ty luật Nathan Associates tiến hành thu thập thông tin và mở
chiến dịch tuyên truyền hạ thấp uy tín của cá Việt Nam, nhấn mạnh do cá Việt
Nam nhập khẩu mà giá cá nheo ở Mỹ bị giảm tới 10%.
Để có thể giành đợc phần thắng, CFA hoạch định trong chiến dịch tiến hành
vận động gây áp lực, lôi kéo nghị sĩ của các bang có nghề nuôi cá nheo, huy động
mọi lực lợng ở các cơ quan lập pháp và hành pháp, tìm kiếm mọi sự hỗ trợ để tấn
công trả đũa các sản phẩm cá da trơn Việt Nam nhập khẩu. Điều này đã khiến cho
sản phẩm cá da trơn Việt Nam trên thị trờng Mỹ gặp phải những thách thức lớn,
đòi hỏi những giải pháp giải quyết.
4. Những bất cập trong cuộc chiến Catfish
Ngày 11/7 năm 2001, Quốc hội Mỹ đợc kêu gọi thông qua dự luật H.R.2439,
dới tên gọi ghi nhãn về nguồn gốc xuất xứ đối với cá nuôi nhập khẩu trong khâu
bán lẻ, với những lập luận công khai bôi nhọ sản phẩm của Việt Nam. Tuy nhiên,
dự luật này không đợc đa ra thông qua, do Thợng viện Mỹ đã bác bỏ một dự luật
có nội dung tơng tự đối với sản phẩm nông nghiệp nuôi trồng.
Để tiếp tục tồn tại trên thị trờng Mỹ trớc sức ép của CFA, Việt Nam cũng đã
thực hiện hầu nh tất cả những yêu cầu mà phía Mỹ đa ra nhằm tiếp tục xuất khẩu
sản phẩm cá da trơn sang thị trờng này. Tuy nhiên, dờng nh phía Mỹ cha bằng
lòng với những yêu sách mà chúng đa ra. Cuộc chiến lại tiếp tục diễn ra theo
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét