Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Một số vấn đề cơ bản về tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại

Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2. Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu.
Nh đã nói trên, trong nền kinh tế mở các doanh nghiệp luôn phải đối đầu
với sự cạnh tranh gay gắt. Họ không chỉ phải cạnh tranh với các nhà sản xuất
trong nớc mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nớc ngoài. Để chiến thắng
trong cạnh tranh, ngoài việc cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nớc nh sự u đãi
về thuế, sự điều chỉnh tỉ giá hối đoái phù hợp các doanh nghiệp còn cần phải
có một tiềm lực tài chính mạnh để thực hiện các hoạt động nh đổi mới dây
chuyền công nghệ, mua sắm máy móc hiện đại, mua sắm nguyên vật liệu, cải
tiến nâng cao chất lợng sản phẩm, hạ giá thành Song trên thực tế do khả năng
tài chính có hạn nên hầu hết các doanh nghiệp đều cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Nhu cầu tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu nảy sinh từ những đòi hỏi đó
và nó gắn liền với các giai đoạn của hoạt động này.
Do hoạt động thơng mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế cũng hết
sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ nh: thơng mại giữa các nớc phát
triển, thơng mại giữa các nớc đang phát triển, thơng mại giữa các nớc phát triển
và đang phát triển ) nên để phù hợp với điều kiện Việt Nam cũng nh với đề tài
nghiên cứu, ở đây tôi chỉ xin đề cập đến hoạt động thơng mại quốc tế giữa các n-
ớc phát triển và đang phát triển.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nớc phát triển sang các nớc đang phát triển chủ
yếu là hàng hoá t liệu sản xuất nh máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ. Đây là
những hàng hoá mà để hoàn thành hoạt động xuất khẩu cần phải trải qua nhiều
giai đoạn khác nhau từ phân tích nhu cầu, kí kết hợp đồng, sản xuất cung ứng,
lắp ráp chạy thử đến thanh toán tiền hàng. Nhu cầu tài trợ thờng để đáp ứng
các chi phí cho quảng cáo, thiết kế mẫu mã, sản xuất và cung cấp công trình.
- Xuất khẩu hàng hoá từ các nớc đang phát triển sang các nớc phát triển chủ
yếu là các mặt nh nông, lâm, thuỷ hải sản, hàng thô hay mới qua sơ chế Và
nhu cầu tài trợ thờng là để thu mua chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn tạm
thời.
Để có cái nhìn tổng quát về nhu cầu tài trợ nảy sinh trong hoạt động xuất
nhập khẩu ta sẽ xem xét nhu cầu tài trợ của các nhà xuất khẩu và nhập khẩu hình
5
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
thành trong cùng một hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá máy móc, thiết bị kĩ
thuật, công nghệ.
Nhu cầu tài trợ cho xuất khẩu
Việc thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng hoá máy móc thiết bị thờng kéo
dài từ nhiều tháng cho tới vài năm, do đó thông thờng nhu cầu tài trợ thờng nảy
sinh ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
+ Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại diện
tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Để hoàn thành tốt giai đoạn này
các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến hành nhiều cuộc
đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trng bày, giới thiệu. Sau đó họ
còn phải hoàn tất các tài liệu thiết kế và tính toán chính xác cho đàm phán hợp
đồng. Chi phí cho những hoạt động này không phải nhỏ, đặc biệt với các cơ sở
kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
+ Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trờng hợp nhà xuất khẩu cha có uy tín
cao ở nớc ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng hoặc bảo đảm
hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc giao hàng hoặc hoàn
thành công trình không đúng nh thoả thuận.
Trờng hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập khẩu là
ngời nớc ngoài đang gặp khó khăn về tài chính, nhà xuất khẩu có thể đề nghị
ngân hàng của mình cung cấp tín dụng tơng đơng với số tiền đặt cọc và nhà nhập
khẩu có nghĩa vụ chi trả cho khoản tín dụng đó
+ Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu sẽ
tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn nh, nhà
máy, xí nghiệp việc này thờng đi kèm với chi phí lớn vợt quá mức đặt cọc.
+ Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh toán
tiếp theo của ngời mua, trong thời gian này thờng nảy sinh các nhu cầu tài chính
cao về vật t và chi phí liên quan khác vợt qua các khoản thanh toán giữa chừng.
6
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
+ Giai đoạn cung ứng: Ngay cả trong giai đoạn cung ứng cũng có thể nảy
sinh các chi phí cần đợc tài trợ nh chi phí vận tải, bảo hiểm tuỳ theo điều kiện
cung ứng.
+ Giai đoạn lắp ráp, chạy thử, bàn giao công trình: Sau khi hàng hoá đợc
giao tới địa điểm qui định, nhà xuất khẩu còn cần chi phí cho lắp ráp chạy thử
cho tới khi đợc ngời mua thu nhận và chấp nhận thanh toán.
+ Giai đoạn bảo hành: Trong giai đoạn này ngời mua có quyền yêu cầu đ-
ợc bảo hành ở ngân hàng của nhà xuất khẩu trớc khi thanh toán.
+Giai đoạn thanh toán: Hiện nay, để việc cung cấp hàng hoá xuất khẩu đ-
ợc thuận lợi ngời xuất khẩu thờng phải dành cho ngời mua một u đãi thanh toán
trong nhiều năm mà ngời xuất khẩu và ngân hàng của họ có thể chấp nhận đợc.
Trong thời gian chờ đợc thanh toán nhà xuất khẩu thờng có nhu cầu đợc tài trợ
để đảm bảo vốn cho quá trình tái sản xuất tiếp theo.
Nhu cầu tài trợ nhập khẩu
Với hoạt động nhập khẩu, nếu nh nhà xuất khẩu có nhu cầu tài trợ để đẩy
mạnh hoạt động bán hàng thì các nhà nhập khẩu cũng nảy sinh nhu cầu tài trợ để
mua hàng khi khả năng tài chính không đáp ứng đợc. Vì vậy về phía nhà nhập
khẩu cũng hình thành nhu cầu tài trợ trên nhiều mặt.
- Giai đoạn trớc khi kí kết hợp đồng: ở giai đoạn này các nhà nhập khẩu
cần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác nhu cầu
của mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
-Giai đoạn sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí kết đợc hợp đồng, nhà nhập
khẩu cần đợc tài trợ để đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu
-Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn này nhà
nhập khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa chừng cho nhà
xuất khẩu hay tài trợ cho các công việc ở điạ phơng để chuẩn bị cho đầu t.
7
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
- Giai đoạn cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện cung
ứng hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo hiểm đối với
các nhà nhập khẩu.
- Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi xuất
trình chứng từ (có th tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì thờng nhà
nhập khẩu chỉ có thể nhận đợc hàng khi giá trị trên hoá đơn đã ghi rõ hoặc có thể
tài trợ đợc.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán tiếp
thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời gian từ khi
nhập hàng về tới khi hàng hoá đợc tiêu thụ.
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà nhập
khẩu sẽ có nhu cầu đợc tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản phẩm mới tới khi
tiêu thụ đợc các sản phẩm làm ra và thu đợc tiền hàng.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho xuất nhập khẩu ở trên ta có thể khẳng
định rằng hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một nhu cầu tài trợ rất lớn.
Vậy thì để đáp ứng cho nhu cầu đó có những nguồn tài trợ nào. Dới đây là một
số nguồn tài trợ thờng dùng cho xuất nhập khẩu.
1.1.3. Các nguồn tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những hoạt động kinh tế cơ bản, do
vậy nó cũng đợc tài trợ từ rất nhiều nguồn khác nhau. Trong đó, những nguồn tài
trợ thờng đợc sử dụng là:
Tín dụng thơng mại (hay tín dụng nhà cung cấp): là nguồn tài trợ đợc
thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, dịch vụ với các
công cụ chủ yêú là kỳ phiếu và hối phiếu. Đây là nguồn tài trợ ngắn hạn
đợc a dùng vì dễ thực hiện, khả năng chuyển thành tiền mặt cao (thông
qua chiết khấu tại các ngân hàng), linh hoạt về thời hạn. Tuy nhiên,
các công cụ nh hối phiếu thờng đợc sử dụng trên cơ sở có ngân hàng
đứng ra chấp nhận hay bảo đảm.
8
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
Vốn tự có: Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp khác nhau mà vốn tự có có
thể là vốn Ngân sách cấp, vốn cổ phần của các sáng lập viên công ty cổ
phần hay vốn của chủ doanh nghiệp t nhân.
Vốn tự có chủ yếu bao gồm vốn khi thành lập doanh nghiệp nh nói trên và
phần lợi nhuận để lại + khấu hao. Sử dụng vốn tự có doanh nghiệp có thể giảm
đợc hệ số nợ, tạo sự chủ động trong kinh doanh. Tuy vậy, nguồn tài trợ này có
hạn chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ hội của việc giữ lại lợi
nhuận cao.
Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay họ
có thể phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và dài
hạn. Hình thức này có u điểm là doanh nghiệp có đợc sự chủ động trong
việc huy động và sử dụng vốn, giảm đợc nguy cơ phá sản khi gặp khó
khăn (vì có thể không phải phân chia lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn
trả lợi tức khi bị lỗ hoặc không có nhiều lãi) hay làm tăng vốn chủ sở
hữu, giảm hệ số nợ của doanh nghiệp Tuy nhiên, chỉ có các doanh
nghiệp thỏa mãn những điều kiện nhất định mới đợc sử dụng hình thức
này. Với nớc ta, do thị trờng tài chính còn cha phát triển nên hình thức
tài trợ này còn ít đợc sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì hiệu quả cha cao.
Phát hành trái phiếu công ty: Đây cũng là một hình thức tài trợ khá
phổ biến trong nền kinh tế thị trờng gần nh cổ phiếu.
Trái phiếu là một giấy chứng nhận nợ của doanh nghiệp. Sử dụng phát hành
trái phiếu doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt động kinh doanh mà
không dẫn đến phải chia quyền kiểm soát doanh nghiệp nh khi sử dụng cổ phiếu
thờng. Tuy nhiên, với trái phiếu doanh nghiệp thờng phải trả lợi tức cố định cho
dù hoạt động kinh doanh có lãi hay không. Điều này dễ làm tăng khả năng phá
sản đối với doanh nghiệp khi gặp khó khăn về tài chính. Ngoài ra, với thị trờng
tài chính cha phát triển nh đã nói trên thì hình thức này cũng khó phát huy tốt đ-
ợc u thế của nó.
Tín dụng ngân hàng: Ngân hàng có thể tài trợ cho các doanh nghiệp
thông qua nhiều hình thức và với những mục đích sử dụng khác nhau
9
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
nh: cho vay ngắn hạn theo hạn mức tín dụng, cho vay theo hợp đồng,
cho vay có đảm bảo để thu mua dự trữ, sản xuất, nhập khẩu nguyên
vật liệu, đáp ứng nhu cầu vốn lu động. Hoặc cho vay dài hạn để đầu t dự
án, mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ Tuỳ vào từng
doanh nghiệp mà Ngân hàng có thể áp dụng những hình thức nhất định
sao cho thuận lợi với cả hai bên. Một đặc điểm khá nổi bật của tín dụng
ngân hàng là có khả năng linh hoạt về lãi suất cũng nh thời hạn.
Các nguồn tài trợ khác: Ngoài các nguồn tài trợ trên các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu còn có thể đợc tài trợ bằng các nguồn nh đầu t nớc
ngoài, vay nợ viện trợ của nớc ngoài, hỗ trợ của Chính phủ Hiện nay
các nguồn này thờng cũng đợc sử dụng thông qua các Ngân hàng.
Nh vậy, nguồn tài trợ cho xuất nhập khẩu rất đa dạng nhng trong đó nguồn
tín dụng ngân hàng nhờ có những u thế riêng nên vẫn nắm giữ một vị trí đặ c biệt
đối với sự phát triễn của đất nớc nói chung vá hoạt động xuất nhập khẩu nói
riêng
1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động
xuất nhập khẩu.
1.2.1. Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động
xuất nhập khẩu .
1.2.1.1. Khái niệm.
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế đợc rất nhiều nhà kinh tế học
đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng.Tuy nhiên,
theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội giữa ngời cho vay
và ngời đi vay, giữa họ có mối liên hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị
vốn tín dụng đợc biểu hiện dới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng
bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh trên lĩnh
10
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các cơ quan Nhà
nớc và các tầng lớp dân c .
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có khả
năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã không
ngừng đợc mở rộng sang tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau trong đó có hoạt
đọng xuất nhập khẩu, nó đã trở thành một nguồn tài trợ không thể thiếu đối với
hoạt động xuất nhập khẩu của các quốc gia. Sự tham gia hỗ trợ của các ngân
hàng cho hoạt động xuất nhập khẩu có tác động tích cực không chỉ về mặt tài
chính mà còn về cả việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Nh vậy,mặc dù tín dụng vô cùng phong phú và đa dạng nhng chúng đều
thể hiện hai mặt sau:
Thứ nhất: Ngời sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho ngời
khác sử dụng trong một thời gian nhất định.
Thứ hai: Đến thời hạn hai bên thoả thuận, ngời sử dụng hoàn trả cho ngời
sở hữu một số tiền lớn hơn. Phần tăng thêm đợc gọi là lợi tức hay tiền lãi.
Theo khái niệm của C.Mác "Tín dụng dới các hình thức biểu hiện đơn
giản nhất là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ khiến cho một ngời này giao cho ng-
ời khác một số t bản nào đó. Số tiền này đợc trả trong một thời gian nhất định
Khi t bản đợc cho vay ngời ta tăng số tiền phải hoàn trả lên thêm một tỷ lệ phần
trăm nhất định coi là quyền sử dụng t bản".
Theo kinh tế học hiện đại, quan điểm về tín dụng là hoàn toàn thống nhất
với quan điểm trên của Mác nhng nhấn mạnh thêm cơ sở để thiết lập một quan
hệ tín dụng đó là "lòng tin" và cụ thể hoá thêm những nhân tố hớng tới quan hệ
tín dụng.
Cụ thể, trong kinh tế học khẳng định rằng: Ngời ta chỉ sẵn sàng giao phó
tiền bạc hoặc tài sản của mình cho ngời nào mà ngời ta tin tởng, hiểu rộng ra đây
là sự giao phó niềm tin, trao cho nhau niềm tin.
Ngời ta chỉ cho vay một khi ngời ta tin rằng ngời sử dụng số tiền đó sẽ thu
đợc lợi nhuận lớn hơn (có hiệu quả) sau một thời gian nhất định và do đó có khả
năng trả đợc nợ (thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình).
11
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên, trong thực tế không phải mọi việc lúc nào cũng đều trôi chảy,
mà không hiếm trờng hợp ngời ta vay không thực hiện đợc nghĩa vụ của mình
đối với chủ nợ do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan gây ra. Những
trờng hợp này thờng dẫn đến tổn thất cho ngời cho vay, ngời ta nói rằng đó là rủi
ro trong kinh doanh tín dụng.
Vì vậy, để ngăn chặn những tổn thất có thể xảy ra hay để hạn chế thấp
nhất những rủi ro trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng, ngời ta phải đặc biệt quan
tâm đến khả năng trả nợ của ngời đi vay và từ đó có những biện pháp hữu hiệu
bảo đảm cho tài sản của mình đem cho vay.
Trên cơ sở nhận thức đó, ngời ta có thể có nhiều cách gọi tên khác nhau
(định nghĩa tín dụng khác nhau) nhng dù cách nào chúng đều thống nhất với ở
ba điểm chủ yếu về tính chuyển nhợng tạm thời một lợng giá trị, tính thời hạn và
tính hoàn trả.
Vậy tóm lại, tín dụng là quan hệ kinh tế giữa ngời cho vay và ngời đi vay,
giữa họ có mối quan hệ thông qua vận động của giá trị vốn tín dụng, đợc biểu
hiện dới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá.
1.2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập
khẩu .
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu đợc thể
hiện qua các mặt sau:
- Thứ nhất, giống nh các nguồn tài trợ khác tín dụng ngân hàng là một
nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu để thu mua dự
trữ, sản xuất, tiêu thụ hàng hoá, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho quá
trình sản xuất cũng nh tái sản xuất của doanh nghiệp.
- Thứ hai, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trên thị trờng .
Kinh doanh có hiệu quả là yêu cầu của hạch toán kinh tế đồng thời cũng là
một trong những điều kiện cung cấp tín dụng của ngân hàng. Do đó, tín dụng
ngân hàng thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả kinh doanh,
nâng cao mức doanh lợi. Bên cạnh đó, với khả năng linh hoạt về thời hạn và lãi
12
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
suất của tín dụng ngân hàng sẽ khuyến khích sự chủ động và sáng tạo của các
doanh nghiệp trong việc sử dụng vốn sao cho phù hợp với nhu cầu về vốn trong
mỗi thời kỳ khác nhau.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng thúc đẩy hoạt dộng xuất nhập khẩu diễn ra
thuận lợi và nhanh chóng hơn.
Thứ t, xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
cao và do việc thiếu hiểu biết lẫn nhau giữa ngời mua và ngời bán sự có mặt của
ngân hàng sẽ là một đảm bảo cho cả hai bên, nhà xuất khẩu sẽ hạn chế đợc
những rủi ro không thanh toán khi ngân hàng đứng ra đảm bảo cung cấp tín dụng
cho nhà nhập khẩu và ngợc lại nhờ nguồn tín dụng của ngân hàng nhà nhập khẩu
thực hiện đợc những nhập khẩu quan trọng trong khi khả năng tài chính của họ
cha đáp ứng đợc.
Thứ năm, ngân hàng là một đầu mối tiếp nhận các nguồn tài trợ của nớc
ngoài cho hoạt động xuất nhập khẩu. Bởi vì hiện nay phần lớn các nguồn tài trợ
của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó đợc thực hiện
qua các ngân hàng nớc sở tại.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu càng có ý
nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nớc, trong đó có
chính sách hớng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ cung cấp cho
các nhà xuất nhập khẩu những khoản tín dụng lớn với lãi xuất u đãi mà nhờ đó
họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh doanh của mình.
1.2.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng thơng
mại.
Thơng mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng,phức tạp. Với
t cách là trung gian tài chính,ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm
bảo cho hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra liên tục nhanh chóng,thuận lợi cho cả
nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu.Dựa trên các tiêu chí ta có thể chia tín dụng
xuất nhập khẩu ra thành các hình thức nh sau:
13
Lê Tuấn Anh Chuyên đề tốt nghiệp
1.2.2.1. Căn cứ vào phơng thức thanh toán:
a) cho vay trong khuôn khổ thanh toán bằng L/C.
Th tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng cam kết
sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu do ngời
này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi ngời này xuất trình cho ngân hàng một
bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đề ra trong th tín dụng.
Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu:
+Cho vay ký quỹ L/C
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trờng hợp khách
hàng xin đợc bảo lãnh,khách sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản
của họ tại ngân hàng mà họ xin đợc bảo lãnh và khoản tiền đó se đợc phong toả
cho đến khi nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm dứt.Thông thờng khoản tiền
này đợc tính tỷ lệ với giá trị hợp đồng mà khách hàng xin đợc bảo lãnh.Trong tr-
ờng hợp thiếu sự tin cậy hoặc thơng vụ tiềm ẩn rủi ro cao ngân hàng có thể yêu
cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị hợp đồng.Đối với những khách hàng đáng
tin cậy hoặc có quan hệ thờng xuyên thì ngân hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ
thấp hơn so với giá trị họp đồng.
Thông thờng mức ký quỹ L/C phụ thuộc vào các yếu tố sau.
-Khả năng thanh toán của khách hàng.
-Đối tợng khách hàng
-Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thấp,loại L/C trả ngay thì bắt buộc mức
ký quỹ cao hơn.
-Loại hàng hoá nhập khẩu,khả năng tiêu thụ.
Trên cơ sở các yếu tố trên,ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ,nếu nh
khách hàng không có đủ số d trên tài khoản thì phải tiến hành làm đơn xin vay
ngoại tệ ký quỹ L/C.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét