Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
Luận văn thạc sỹ: Huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm 2020"
4
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Bình Thuận là một tỉnh duyên hải trong khu vực kinh tế miền Đông Nam
Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ và nằm trong khu vực ảnh
hưởng của đòa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Bên cạnh mối quan hệ kinh tế
truyền thống với đòa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, Bình Thuận còn có điều
kiện mở rộng mối quan hệ giao lưu phát triển kinh tế với các tỉnh Tây nguyên và
cả nước. Sức hút của các thành phố và trung tâm phát triển như thành phố Hồ
Chí Minh, Bà Ròa-Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh phát
triển kinh tế, đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải
phát triển nhanh nền kinh tế nhất là những lónh vực, những sản phẩm đặc thù để
mở rộng liên kết, không bò tụt hậu so với khu vực và cả nước.
Đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, nhất là vào giai đoạn đầu của quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, không nước nào không ở trong tình trạng
thiếu vốn đầu tư một cách gay gắt. Tuy nhiên, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, mỗi
quốc gia tự tìm cho mình một biện pháp phù hợp để có thể huy động và sử dụng
vốn một cách tốt nhất phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa cơ sở
vật chất kỹ thuật. Ngày nay, trước xu thế quốc tế hóa, thò trường vốn rầm rộ và
các dòng chảy đan xen nhau trên khắp toàn cầu và giữa các khu vực, các nước đi
sau có nhiều lợi thế trong việc tạo vốn để giải quyết có hiệu quả các vấn đề
kinh tế-xã hội, công nghệ, kỹ thuật, môi trường . . .
Tăng tốc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, thực hiện chuyển dòch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại nhằm phát triển nhanh kinh tế-xã hội đòi hỏi rất
nhiều vốn. Bình Thuận cần phải đề ra và thực hiện các giải pháp pháp huy động
vốn một cách hiệu quả từ nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài, khơi
dậy nguồn lực to lớn trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh thuộc các thành phần
kinh tế ra sức làm giàu cho mình, cho đòa phương và cho đất nước.
Tuy nhiên, tại tỉnh Bình Thuận trong thời gian qua, nguồn vốn huy động
chưa ổn đònh, còn thấp so với điều kiện, tiềm năng và nhu cầu đầu tư phát triển
của tỉnh. Việc thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển các ngành, lónh vực,
sản phẩm lợi thế của tỉnh còn hạn chế. Vì sao lại như vậy? Thực trạng tình hình
huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội như thế nào? Và các giải pháp
5
cho vấn đề này. Đó là những vấn đề cấp bách đang đặt ra. Cũng từ những yêu
cầu đó, tôi xin chọn đề tài “HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH THUẬN ĐẾN NĂM 2020” làm luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trên sơ sở nghiên cứu các mô hình phát triển kinh tế, cơ sở lý luận huy
động vốn, mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế, kinh nghiệm của một
số nước trong việc huy động vốn đầu tư, luận văn đi sâu phân tích và đánh giá
thực trạng huy động vốn đầu tư trên đòa bàn Bình Thuận giai đoạn 2001-2006.
Đây là giai đoạn quan trọng, giai đoạn mà tỉnh có những bước khởi sắc rõ rệt
trong phát triển kinh tế-xã hội. Dựa theo mục tiêu phát triển và các chỉ tiêu theo
quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm 2020, dự báo nhu
cầu vốn đầu tư giai đoạn 2007-2020, luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể, đồng
bộ và phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh Bình Thuận.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng
kết hợp với các phương pháp khác: cách tiếp cận chuỗi thời gian để tìm ra mối
quan hệ và đánh giá vai trò, tác động của vốn đối với sự phát triển kinh tế-xã
hội của tỉnh; phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, diễn dòch quy nạp để
đánh giá nhận xét hiện thực khách quan, đưa ra các giải pháp có tính khả thi,
phù hợp thực tiễn trong việc giải quyết các vấn đề đặt ra.
4. Nội dung Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 phần:
Chương I: Cơ sở lý luận huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội.
Chương II: Thực trạng huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội
tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2001-2006.
Chương III: Giải pháp huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội
tỉnh Bình Thuận đến năm 2020.
6
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN HUY ĐỘNG VỐN
CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
Trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn của các quốc gia hàng trăm năm
qua đều có những mong muốn và hoạt động tìm kiếm, xác lập những cách thức
để phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế, đều cố gắng xác lập mô hình phát
triển kinh tế phù hợp. Nhiều quốc gia đã thành công, vươn lên trong điều kiện
tài nguyên thiên nhiên không phong phú. Mô hình phát triển kinh tế là cách thức
diễn đạt những con đường, hình thái, nội dung phát triển kinh tế của các quốc gia
thông qua các biến số, các nhân tố kinh tế trong quan hệ chặt chẽ với điều kiện
chính trò-xã hội.
1.1. Mô hình phát triển kinh tế
Trong lòch sử phát triển kinh tế, thế giới đã xuất hiện nhiều mô hình kinh
tế. Mỗi loại mô hình đều xuất phát từ những quan điểm lý luận riêng hoặc là sự
vận dụng tổng hợp nhiều trường phái lý luận khác nhau.
1.1.1. Mô hình cổ điển về phát triển kinh tế
Lý thuyết cổ điển về phát triển kinh tế được hình thành cách đây hơn 200
năm. Adam Smith được coi là người sáng lập ra kinh tế học, David Ricardo được
coi là tác giả cổ điển xuất sắc nhất. Lý thuyết cổ điển có những nội dung có liên
quan đến mô hình phát triển kinh tế cần được đặc biệt chú ý:
- Phê phán chế độ phong kiến: mặc dù có nhiều hạn chế nhưng phái trọng
nông đã chỉ ra rằng, để phát triển, cần mở rộng quan hệ bên ngoài khu vực nông
nghiệp, đồng thời phải thay đổi cấu trúc bên trong của nông nghiệp, chuyển nền
sản xuất sang sản xuất hàng hóa.
- Trong khi phân tích hoạt động của thương nhân và thương nghiệp, các
nhà kinh tế phái trọng thương đã đặt nền móng cho nền kinh tế hàng hóa; chỉ ra
sự cần thiết tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và sự điều tiết của thò trường.
Lý luận về thò trường, về sức mạnh của “bàn tay vô hình” là cống hiến lớn lao
cho khoa học kinh tế của trường phái cổ điển.
7
- Theo các nhà kinh tế cổ điển, 3 nguồn lực trực tiếp tạo nên sự tăng
trưởng là đất đai, lao động và vốn. Trong kinh tế, ba nhân tố đó có quan hệ chặt
chẽ với nhau, trong đó yếu tố đất đai là yếu tố quan trọng nhất. Từ sự phân tích
quan hệ giữa các nhân tố trên với sự phát triển của lương thực, lợi nhuận… các
nhà kinh tế cổ điển cho rằng đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng.
Trong khi thừa nhận tác dụng của “bàn tay vô hình” của thò trường, các
nhà kinh tế cổ điển phủ nhận vai trò của chính phủ trong điều tiết cung cầu của
nền kinh tế. Thậm chí, họ cho rằng sự can thiệp của chính phủ là lực cản của sự
phát triển kinh tế.
- Bước đầu phân tích các nhóm xã hội, sự phân chia lợi nhuận giữa các
nhóm căn cứ vào vai trò sở hữu các điều kiện sản xuất. Họ cho rằng các nhà tư
bản thu lợi nhuận, đòa chủ có đòa tô và công nhân nhận tiền công là điều hiển
nhiên vì nhà tư bản là chủ sở hữu vốn, đòa chủ sở hữu đất còn người làm công thì
làm chủ sức lao động của mình.
1.1.2. Mô hình phát triển kinh tế của C.Mác
Những quan điểm của C.Mác trên góc độ kinh tế phát triển liên quan đến
mô hình phát triển kinh tế:
- Về các nhân tố tăng trưởng kinh tế: Bên cạnh việc thừa nhận các nhân tố
đất đai, lao động và vốn như các nhà kinh tế cổ điển, C.Mác phát triển và khẳng
đònh vai trò ngày càng to lớn của kỹ thuật – công nghệ đối với sự phát triển.
Việc nhấn mạnh vai trò của công nghệ được C.Mác trình bày một cách khoa học
trong khi lý giải việc bóc lột giá trò thặng dư tương đối, cấu tạo kỹ thuật, cấu tạo
hữu cơ của tư bản.
Trong khi phân tích nguồn gốc sự giàu có của chủ nghóa tư bản, C.Mác
khẳng đònh vai trò quyết đònh của lao động.
- Quan hệ cung cầu và vai trò của chính phủ: C.Mác đã đặt nền tảng bước
đầu cho việc phát triển sự vận động cung cầu và vai trò của chính phủ trong điều
tiết cung – cầu của nền kinh tế.
- Các nội dung của quan hệ sản xuất và quan hệ giữa chúng: Vấn đề vừa
cổ điển vừa hiện đại trong kinh tế nói chung và trong kinh tế phát triển nói riêng
là vấn đề quan hệ sản xuất. Trong các tác phẩm của mình, C.Mác chỉ rõ quan hệ
sản xuất xã hội gồm ba nội dung: chiếm hữu tư liệu sản xuất, quan hệ giữa các
giai cấp, các nhóm người trong sản xuất và quan hệ phân phối. Trong khi phát
triển quan hệ biện chứng giữa các nội dung trên, C.Mác nhấn mạnh vai trò quyết
đònh của quan hệ sở hữu. C.Mác đi đến khẳng đònh mâu thuẫn cơ bản của
8
- Phân tích tái sản xuất xã hội và những điều kiện để mở rộng sản xuất:
Cùng với việc phân tích các nhân tố tăng trưởng nền kinh tế tư bản chủ nghóa,
C.Mác đã chỉ rõ rằng nền kinh tế muốn tăng trưởng không thể dừng lại ở tái sản
xuất giản đơn mà phải thực hiện tái sản xuất mở rộng. Muốn tái sản xuất tất yếu
phải đầu tư phụ thêm. Như vậy, theo C.Mác, muốn tăng đầu ra của nền kinh tế,
thường phải tăng đầu vào vốn và các yếu tố sản xuất. C.Mác còn cho rằng, quá
trình sản xuất xã hội cũng chính là quá trình tái sản xuất ra quan hệ sản xuất,
các điều kiện sản xuất và sản phẩm.
Có thể nói những kết luận của C.Mác về tái sản xuất có ý nghóa phổ biến
cho việc giải quyết tăng trưởng phát triển kinh tế của mọi phương thức sản xuất.
1.1.3. Mô hình tân cổ điển về phát triển kinh tế
Bên cạnh một số quan niệm về phát triển kinh tế tương đồng với trường
phái cổ điển, mô hình tân cổ điển về phát triển kinh tế có một số quan niệm
mới:
- Nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của vốn, cho rằng trong quan hệ
giữa nguồn lực vốn, lao động với tăng trưởng có thể có ba tình huống: Sự gia
tăng vốn phù hợp sự gia tăng lao động, áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao
động và sử dụng vốn thay thế lao động. Trên cơ sở đó, phân đònh phạm trù phát
triển kinh tế theo chiều rộng và phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cũng từ đó
nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của kỹ thuật – công nghệ trong tăng
trưởng.
- Đưa ra khái niệm hàm sản xuất (hàm Cobb – Douglas) để chỉ quan hệ
giữa gia tăng sản phẩm – đầu ra với gia tăng của vốn, lao động, tài nguyên, khoa
học công nghệ – đầu vào.
1.1.4. Mô hình phát triển kinh tế theo kinh tế học hiện đại
Kinh tế học hiện đại xuất hiện nhiều lý luận, trường phái liên quan đến
mô hình phát triển kinh tế.
- Những quan niệm chủ yếu của J.M.Keynes về kinh tế phát triển:
Nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong việc xác đònh sản lượng của nền
kinh tế. Sau khi phân tích các xu hướng biến đổi của tiêu dùng, tiết kiệm, đầu tư
Những khuyến nghò của J.M.Keynes về chính sách tài khóa có ý nghóa lý
luận và thực tiễn rất sâu sắc.
Mô hình tăng trưởng của Harrod – Domar
Trình bày quan hệ chặt chẽ giữa hệ số gia tăng đầu ra (sản lượng) và gia
tăng vốn đầu tư, Harrod và Domar đưa ra kết luận rằng chính vốn đầu tư là yếu
tố cơ bản của tăng trưởng; tiết kiệm của các công ty và dân cư là nguồn gốc của
đầu tư. Để phản ánh tương quan giữa vốn và đầu ra, các nhà nghiên cứu trên đưa
ra phạm trù hệ số ICOR (Incremental Capital – Output Ratio). Hệ số ICOR,
tương quan giữa vốn với đầu ra, được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát
triển nhằm xem xét quan hệ giữa tăng trưởng và nhu cầu về vốn đầu tư.
Hệ số ICOR là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư của một quốc gia hay
một ngành, cho thấy cần thêm bao nhiêu đồng cho đầu tư để tăng thêm một đơn
vò sản lượng. Theo phương trình Harrod-Domar:
Vốn đầu tư
ICOR =
GDP
Suy ra:
Vốn đầu tư
Mức tăng GDP =
ICOR
Công thức trên cho thấy mối tương quan tỉ lệ nghòch giữa hệ số ICOR và
tốc độ tăng trưởng kinh tế. Với tỉ lệ đầu tư/GDP giống nhau, nước nào có hệ số
ICOR thấp hơn thì sẽ tạo ra một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn. Số liệu thực
tế từ các nước cho thấy sự khác biệt trong hệ số ICOR giữa các nước đóng vai
trò lớn trong việc giải thích sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng giữa các nước.
Như vậy hệ số ICOR càng thấp thì chứng tỏ là đầu tư càng hiệu quả. Hệ
số ICOR thấp hơn có nghóa là cần một tỉ lệ đầu tư GDP thấp hơn để duy trì cùng
một tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, theo quy luật về lợi tức biên giảm dần
(diminishing marginal return of capital) nên khi nền kinh tế càng phát triển
(GDP/đầu người tăng lên) thì hệ số ICOR sẽ gia tăng, lúc này tiền lương sẽ tăng
cao. Nền kinh tế cần một tỉ lệ đầu tư/GDP cao hơn để duy trì cùng một tốc độ
tăng trưởng. Trong nội bộ nền kinh tế, việc so sánh hệ số ICOR giữa các ngành
sẽ thấy được ngành nào có hiệu quả đầu tư cao hơn.
9
10
Mô hình Harrod – Domar cho thấy sự tăng trưởng là kết quả tương tác
giữa tiết kiệm và đầu tư là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế. Đầu tư sinh
ra lợi nhuận và gia tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế.
Đối với các nước đang phát triển khi ứng dụng mô hình này gặp trở ngại
đầu tư là vấn đề vốn, vấn đề tiết kiệm và đầu tư. Để có vốn đầu tư các nước
đang phát triển phải hy sinh việc tiêu dùng, phải tăng thuế. Song do hầu hết các
nước đang phát triển là những quốc gia nghèo nên giải pháp này không mang lại
kết quả cao. Cho nên phải tìm vốn bằng ngoại viện, bằng đầu tư từ nước ngoài.
Nhưng ngoại viện và đầu tư cũng không dễ dàng theo mong muốn của các nước
đang phát triển.
- Kinh tế học hiện đại đã tập trung nghiên cứu vấn đề tăng trưởng kinh tế.
Để có tăng trưởng và phát triển các nhà kinh tế học hiện đại đã phân tích bản
chất tăng trưởng, sự cần thiết khách quan của nó, phương pháp đánh giá, nhất là
đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng. Ở đây xuất hiện hàng
loạt những vấn đề mới mà kinh tế học đã và đang giải quyết:
+ Quan hệ kinh tế giữa hai khu vực truyền thống của nền kinh tế là nông
nghiệp với công nghiệp.
+ Xu hướng biến đổi của cơ cấu lao động và cơ cấu nền kinh tế.
+ Lợi thế so sánh trong quan hệ ngoại thương.
+ Quan hệ giữa vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất với quản lý và phân phối
sản phẩm trong hoạt động kinh tế.
+ Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng tài nguyên, bảo vệ
môi trường sinh thái; quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với các vấn đề xã hội và
lợi ích con người. Kinh tế học hiện đại đặc biệt lưu ý những khuyết tật của kinh
tế thò trường và cách khắc phục. Những năm gần đây xuất hiện những nghiên
cứu về phát triển bền vững với hai yêu cầu cơ bản: bền vững về tài nguyên, môi
trường và bền vững về xã hội.
Các nhà kinh tế học, các tổ chức quốc tế quan tâm nhiều đến nhân tố con
người, bản chất nhân văn, công bằng xã hội, hòa nhập cộng đồng… Vì thế, nếu
như trước đây khi đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia chỉ dựa
vào tổng thu nhập và mức thu nhập theo đầu người thì ngày nay có quan niệm
toàn diện hơn. Đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia cần phải xem xét
thêm trình độ văn hóa, tuổi thọ… tóm lại là các chỉ số phát triển con người.
11
1.1.5. Sự vận dụng vào việc xác đònh đường lối phát triển kinh tế – xã
hội ở Việt Nam
1.1.5.1. Những điểm chung của các mô hình phát triển kinh tế trong
lòch sử và hiện đại
Trong lòch sử và hiện tại có nhiều mô hình kinh tế, mỗi mô hình có những
đặc trưng riêng và đều xuất hiện trên những nền tảng nhất đònh. Tuy vậy có thể
thấy những nét phổ biến mà các mô hình đều đề cập là:
Phân tích các nguồn lực phát triển kinh tế
Nếu như mô hình phát triển kinh tế cổ điển chỉ thừa nhận ba nguồn lực
chủ yếu là lao động, ruộng đất và vốn thì học thuyết kinh tế của Các Mác và các
nhà kinh tế học hiện đại đều khẳng đònh có 4 nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên
(trong đó có đất đai), vốn, khoa học – công nghệ và lao động của con người. Hơn
nữa, các nhà kinh tế học còn phân tích từng nguồn lực trong hệ thống. Nếu như
thời kỳ đầu, vai trò tài nguyên được nhấn mạnh thì ở thời kỳ hiện đại lại nhấn
mạnh vai trò của khoa học – công nghệ và con người. Hơn nữa, kinh tế học còn
phân tích các biện pháp, cơ chế để mở rộng, tái tạo, phát triển và sử dụng các
nguồn lực. Nhiều vấn đề của nguồn lực được kinh tế học hiện đại đặc biệt quan
tâm như vấn đề sở hữu các nguồn lực, động lực khai thác các nguồn lực, sự kết
hợp giữa từng quốc gia với các quốc gia khác trong việc tạo ra và sử dụng lợi thế
ngoại thương.
Quá trình có tính quy luật chuyển nền kinh tế sang sản xuất hàng hóa
Có thể nói, việc chuyển sang sản xuất hàng hóa là cái mốc lòch sử và tất
yếu lòch sử của phát triển kinh tế. Việc chuyển sang sản xuất hàng hóa, vừa dựa
trên cơ sở những tiền đề kinh tế – xã hội nhất đònh, vừa là nhân tố thúc đẩy cải
biến hàng loạt các quan hệ kinh tế – xã hội. Và việc thừa nhận nền kinh tế hàng
hóa đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt vấn đề vó mô và vi mô của nền kinh tế.
Thậm chí, phải giải quyết nhiều vấn đề ngoài quốc gia với tư cách thế giới là
một thò trường.
Giải quyết quan hệ giữa thò trường và quản lý nhà nước
Nhận thức từng nội dung trên và quan hệ giữa chúng là kết quả lâu dài
của các lý thuyết kinh tế.
Nếu như các nhà kinh tế học có điển chỉ thừa nhận vai trò của nền kinh tế
thò trường, thì các nhà kinh tế tân cổ điển và hiện đại – trong khi không phủ
nhận vai trò của thò trường – đã khẳng đònh vai trò tất yếu của nhà nước trong
12
mô hình phát triển kinh tế. Kinh nghiệm lòch sử đã cho thấy, ở những nơi, trong
những thời kỳ chỉ thừa nhận một trong hai nhân tố trên đều không đạt được kết
quả mong muốn. Nếu loại trừ tính chất giai cấp của nhà nước thì mô hình phát
triển kinh tế hỗn hợp – kết hợp thò trường với nhà nước - là mô hình chung cho
mọi quốc gia trong điều kiện hiện đại.
Thừa nhận vai trò ngày càng tăng của khoa học - công nghệ
Ngày nay khoa học – công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
chi phối mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội. Mỗi quốc gia muốn phát triển,
phải nghiên cứu, ứng dụng mạnh mẽ những thành tựu khoa học – công nghệ vào
hoạt động kinh tế. Việc quốc tế hóa đời sống, việc mở rộng quan hệ kinh tế của
các quốc gia đang phát triển đều xuất phát từ vai trò và trình độ phát triển khoa
học – công nghệ. Muốn phát triển và sử dụng tốt khoa học – công nghệ tất yếu
phải nâng cao trình độ dân trí, phát triển giáo dục – đào tạo, tìm nguồn vốn đầu
tư…. Khẳng đònh vai trò của khoa học - công nghệ cũng tức là khẳng đònh vai trò
của quá trình CNH-HĐH trong mô hình phát triển của mỗi quốc gia.
Sự hòa nhập nền kinh tế của mỗi quốc gia vào nền kinh tế thế giới
Đây là xu hướng có tính quy luật mà các nhà kinh tế học hiện đại đều
khẳng đònh. Phạm trù kinh tế mở được nghiên cứu nhằm chỉ ra sự cần thiết và
khả năng cho các quốc gia đang phát triển hòa nhập vào thò trường quốc tế. Sự
xuất hiện lý thuyết về sự hòa nhập của thế giới thứ ba trong trao đổi quốc tế đã
giúp các nhà khoa học kinh tế đi sâu nghiên cứu việc khai thác lợi thế so sánh …
Thực hiện mô hình kinh tế mở là tất yếu khách quan trong mô hình phát triển
kinh tế hiện đại.
Những khía cạnh chính trò – xã hội của các mô hình phát triển kinh tế
Khi thừa nhận vai trò của các nhân tố chính trò trong mô hình phát triển
kinh tế cũng có nghóa là thừa nhận sự khác nhau giữa các mô hình về giải quyết
vấn đề sở hữu, mục đích điều tiết của nhà nước, cơ cấu phân phối, sự quan tâm
đến tầng lớp nghèo, chòu nhiều thua thiệt của cộng đồng… Thừa nhận khía cạnh
chính trò–xã hội có nghóa là phải giải quyết vấn đề cốt tử của phát triển kinh tế
là phục vụ cho ai, kết hợp như thế nào giữa tăng trưởng kinh tế với các vấn đề
xã hội ở từng giai đoạn phát triển và trong suốt quá trình phát triển kinh tế. Dù
muốn hay không, các lý thuyết về mô hình phát triển kinh tế đều không thể phủ
nhận, không thể lảng tránh khía cạnh chính trò–xã hội của mô hình phát triển
kinh tế.
13
1.1.5.2. Vận dụng vào việc xác đònh đường lối phát triển kinh tế – xã
hội ở Việt Nam
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã tích lũy được
nhiều kinh nghiệm quý báu. Quá trình lãnh đạo và quản lý kinh tế trong hơn 20
năm qua là quá trình tìm tòi, tự nhận thức và tự đổi mới. Trong quá trình phát
triển, chúng ta đã nghiên cứu tiếp thu những kinh nghiệm quốc tế, luôn đặt vấn
đề phát triển kinh tế – xã hội nước nhà trong những nhân tố, xu thế chung của
thời đại. Có thể tiếp cận đường lối phát triển kinh tế – xã hội nước ta theo những
nét chủ yếu sau:
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế phát triển theo đònh hướng XHCN
Lý luận và thực tiễn khẳng đònh quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chính
trò – xã hội. Khẳng đònh đònh hướng XHCN của mô hình phát triển kinh tế có
nghóa là khẳng đònh mục tiêu phát triển kinh tế. Trong quản lý, một nguyên lý
được thừa nhận là khi xác đònh mục tiêu đúng thì mục tiêu trở thành động lực.
Mục tiêu xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, xây dựng thành công CNXH”; đònh hướng XHCN chi phối xử lý
mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế và
các vấn đề xã hội, không chờ kinh tế phát triển cao rồi mới giải quyết vấn đề xã
hội, mà ngay trong từng bước và suốt quá trình phát triển, tăng trưởng kinh tế
kinh tế phải luôn luôn gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong đó có nhân
tố con người là trung tâm
Cũng như các quốc gia khác, nước ta phát triển kinh tế dựa trên cơ sở bốn
nguồn lực: tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, khoa học - công nghệ. Trong
đó nhân tố con người là trung tâm, phát triển kinh tế là vì con người và do con
người. Xuất phát từ nhận thức con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của
nền kinh tế, trong những năm đổi mới, nhà nước ta vừa là chăm lo đào tạo con
người, huy động năng lực của họ vào hoạt động kinh tế, vừa từng bước nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần và sự phát triển toàn diện của nguồn lao động.
Khoa học – công nghệ, vốn là những nhân tố quan trọng quyết đònh tăng
trưởng và hiệu quả phát triển kinh tế. Để tăng qui mô vốn đầu tư và khoa học -
công nghệ, nhà nước ta chủ trương khai thác tối đa các khả năng trong nước và
quốc tế.
Thực hiện chuyển dòch cơ cấu kinh tế, chuyển nền kinh tế sang giai đoạn
công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét