Lời cảm ơn
Đợc sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hớng dẫn và qua tìm hiểu nghiên cứu các
tài liệu , em đã hoàn thành chuyên đề : Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp
vụ bảo lãnh tại Sở Giao Dịch Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam.
Do trình độ và thời gian có hạn nên chuyên đề không tránh khỏi những sai sót, em
rất mong sự chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo để em củng cố thêm kiến thức khi
ra công tác.
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Ngân Hàng nói
riêng và các thầy cô giáo của Học Viện Ngân Hàng đã trực tiếp giảng dạy em
trong quá trình học tập vừa qua, giúp em có đợc những kiến thức về Tài chính-
Ngân hàng, tạo cơ sở cho em hoàn thành chuyên đề này. Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Thanh Trúc đã trực tiếp giúp đỡ.
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công tác tại Phòng Bảo Lãnh
-SGD NHNT Việt Nam đã cung cấp tài liệu để em hoàn thành chuyên đề này.
Hà nội , tháng 4 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Vũ Phơng Liên
Lời nói đầu
5
Hệ thống ngân hàng có vai trò to lớn đối với hệ thống tài chính nớc nhà là tất yếu
không thể phủ nhận, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đang vơn
mình trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tham gia tích cực vào công
cuộc hội nhập kinh tế quốc tế. Với áp lực cạnh tranh gay gắt đã đặt ra cho hệ
thống ngân hàng nhiều thời cơ nhng cũng không ít thách thức, đòi hỏi phải phát
triển, đổi mới và tiến tới hoàn thiện, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ.
Nghiệp vụ bảo lãnh bắt đầu đợc sử dụng rộng rãi trên thế giới từ đầu thập niên 70
của thế kỷ XX và ngày càng phát triển là khẳng định đợc vị thế quan trọng trong
các giao dịch kinh tế toàn cầu, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập
khẩu, thơng mại quốc tế. Tại Việt Nam, nghiệp vụ này mới chỉ xuất hiện trong
khoảng chục năm gần đây. Điều đó có nghĩa là các NHTM Việt Nam mới chỉ thực
hiện nghiệp vụ bảo lãnh ở mức độ sơ khai, chủ yếu là nhằm đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ ngân hàng. Trong khi đó nghiệp vụ bảo lãnh lại là nghiệp vụ khá
phức tạp, lại chứa đựng nhiều rủi ro và có thể liên quan đến yếu tố vợt khỏi biên
giới quốc gia. Chính vì vậy việc không ngừng nâng cao chất lợng dịch vụ bảo lãnh
tại các NHTM Việt Nam vẫn là một nhiệm vụ cấp thiết.
Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam là ngân hàng đầu tiên trong toàn hệ thống NH
Việt Nam thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh và đợc đánh giá là sự lựa chọn hàng đầu
của các khách hàng khi có nhu cầu giao dịch bảo lãnh. Trong thời gian vừa qua,
nghiệp vụ bảo lãnh tại Sở Giao Dịch NHNT Việt Nam đã đạt đợc những kết quả
rất đáng khích lệ, góp phần tích cực vào thành công của các giao dịch kinh tế và sự
phát triển của hoạt động thơng mại trong nớc. Nhng bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ
một số tồn tại, bất cập trong quá trình thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Vì vậy làm
thế nào để hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh, làm thế nào để đảm bảo an
toàn và tránh rủi ro trong quá trình bảo lãnh đang là vấn đề đáng quan tâm không
chỉ của Ngân hàng, các nhà hoạch định chính sách mà cả đối với sinh viên chúng
em.
Nhận thức đợc vấn đề đó, trong quá trình thực tập tại Sở Giao Dịch NHNT Việt
Nam, em đã mạnh dạn chọn đề tài : Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp
vụ bảo lãnh tại Sở Giao Dịch-Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam .
Về kết cấu của chuyên đề, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, chuyên đề đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Lý luận chung về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng
Chơng 2: Thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh tại SGD-NHNT Việt Nam
Chơng 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại SGD-
NHNT Việt Nam.
Chơng 1: Lý luận chung về nghiệp vụ Bảo lãnh Ngân
hàng
6
1.1 Tổng quan về nghiệp vụ Bảo lãnh Ngân hàng
1.1.1 Sự hình thành và quá trình phát triển của nghiệp vụ bảo lãnh ngân
hàng
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, hoạt động thơng mại bùng nổ mạnh mẽ với
xu hớng toàn cầu hoá sâu sắc. Điều này bắt nguồn từ nhu cầu ngày càng cao của
xã hội về các loại hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Hơn nữa
các quốc gia với mục tiêu phát huy những lợ thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của
mình đã và đang thực hiện chính sách kinh tế mở thúc đẩy hoạt động thơng mại
quốc tế phát triển. Song điều này cũng hàm chứa nhiều rủi ro cho các doanh
nghiệp do những biến động bất thờng về chính trị, kinh tế, xã hội trên toàn cầu nên
đã tác động tiêu cực tới hoạt động kinh doanh. Mặt khác, khi thơng mại mở rộng
không biên giới thì rủi ro về thông tin không đầy đủ cho một doanh nghiệp là rất
lớn, từ đó rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng đợc các hợp đồng đã ký
kết là rất khó tránh khỏi. Hoặc nếu họ có thể tìm hiểu đợc thông tin thì việc tranh
thủ cơ hội kinh doanh và các chi phí phải bỏ ra ngăn cản họ thực hiện điều này.
Từ đó gây ảnh hởng đến hợp đồng thơng mại và giảm hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh. Nh vậy, từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu có sự đảm bảo cho các
giao dịch giữa các bên và một trong các hình thức đảm bảo chính là hình thức bảo
lãnh.
Bảo lãnh tồn tại dới nhiều hình thức và một trong các hình thức đó là bảo
lãnh ngân hàng.
Nếu nh th tín dụng đã đợc các ngân hàng sử dụng rộng rãi từ những năm 30
của thế kỷ XX thì bảo lãnh ngân hàng mới chỉ xuất hiện vào giữa những năm 60
trong thị trờng nội địa nớc Mỹ, sau đó vào thập niên 70, bảo lãnh NH mới đợc sử
dụng trong các giao dịch thơng mại quốc tế. Bảo lãnh đã tạo ra sự an toàn, nhanh
chóng và hiệu quả cho các giao dịch và sự ứng dụng rộng rãi của nó đã củng cố đ-
ợc vị trí một cách chắc chắn trong các giao dịch nội địa và quốc tế với số lợng gia
tăng ngày một nhanh.
Tại Việt Nam, vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế bắt đầu hội
nhập với nền kinh tế khu vực và trên thế giới, hoạt động ngân hàng đa năng hơn,
trong đó nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh đợc phát triển nh một tất yếu khách
quan. Bảo lãnh nhanh chóng phát triển cùng với xu hớng mở rộng các quan hệ
kinh tế trong nớc và quốc tế, các hình thức bảo lãnh ngân hàng đợc áp dụng ngày
càng đa dạng với doanh số ngày càng cao.
1.1.2 Khái niệm Bảo lãnh và Bảo lãnh Ngân hàng:
Theo điều 366 Luật dân sự Việt Nam : Bảo lãnh là việc ngời thứ ba đợc gọi
là ngời bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là ngời nhận bảo lãnh) sẽ thực
hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là ngời đợc bảo lãnh) nếu đến thời
hạn mà ngời đợc bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Để đa ra một khái niệm Bảo lãnh ngân hàng, có thể đứng trên nhiều góc độ
khác nhau:
Xét theo khía cạnh học thuật: Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức tín dụng
chữ ký- Signature credit, có thể coi đây là loại hình tín dụng gián tiếp. Bảo lãnh là
đa ra những lời cam kết của Ngân hàng dới hình thức cấp chứng th và hạch toán
theo dõi ngoại bảng chứ thực tế không hoặc cha dùng đến vốn của Ngân hàng.
7
Công cụ đầu tiên để các Ngân hàng sử dụng trong nghiệp vụ bảo lãnh không phải
là vốn mà là uy tín của mình.
Xét một cách cụ thể hơn: tại Điều 2 trong Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh
của các ngân hàng ban hành kèm theo quyết định 283/ QĐ-NHNN ngày
25/08/2000 của Thống đốc Ngân hàng nhà nớc Việt Nam quy định: Bảo lãnh
Ngân hàng là cam kết bằng văn bản của ngân hàng(bên bảo lãnh) với bên có
quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng(bên đợc bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và
hoàn trả cho ngân hàng số tiền ngân hàng đã trả thay.
Trong thơng mại quốc tế, bảo lãnh ngân hàng đợc xem nh là một loại hình
tài trợ ngoại thơng nhằm chống đỡ những rủi ro của ngời thụ hởng bảo lãnh do sự
vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan.
1.1.3. Đặc điểm của Bảo lãnh Ngân hàng:
Bản chất của hoạt động bảo lãnh là lời cam kết sẽ thanh toán cho ngời thụ
hởng bảo lãnh khi ngời đợc bảo lãnh không thực hiện các nghĩa vụ tronh hợp
đồng. Vì vậy có thể nói bảo lãnh là một công cụ đảm bảo chứ không phải là một
công cụ thanh toán. Khi đa ra đợc các đặc điểm của bảo lãnh chúng ta sẽ thấy đợc
sự khác biệt giữa bảo lãnh với các công cụ đảm bảo khác nh th tín dụng, bảo
hiểm
Bảo lãnh ngân hàng có những đặc điểm sau:
-Thứ nhất: Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau
Có thể khái quát mối quan hệ giữa các bên trong nghiệp vụ bảo lãnh qua sơ
đồ sau:
HĐ Thơng mại
Bên đợc bảo lãnh Bên nhận bảo lãnh
HĐ Cam kết
Bảo lãnh Bảo lãnh
Bên bảo lãnh
Nh vậy các mối quan hệ giữa các bên tham gia là mối quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau, vừa là nguyên nhan vừa là kết quả của nhau. Nếu thiếu một trong các mối
quan hệ trên thì nghiệp vụ bảo lãnh không tồn tại.
-Thứ hai: bảo lãnh ngân hàng có tính độc lập
Đây là một đặc tính quan trọng của bảo lãnh. Mặc dù hợp đồng cơ sở giữa bên
đợc bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là căn cứ phát sinh và hình thành nội dung của
bảo lãnh nhng về mặt pháp lý thì bảo lãnh hoàn toàn độc lập với nguồn hình thành
nên nó. Bên cạnh đó tính độc lập của bảo lãnh còn thể hiện trong trách nhiện
thanh toán của ngân hàng phát hành bảo lãnh với bên đợc bảo lãnh. Trách nhiệm
này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng và ngời đợc bảo lãnh. Nếu
chứng từ hoàn toàn phù hợp thì ngân hàng không đợc trì hoãn hay từ chối việc
thanh toán vì những lý do khác thuộc về quan hệ giữa ngân hàng và ngời đợc bảo
lãnh.
Tuy nhiên tính độc lập của bảo lãnh còn phụ thuộc vào điều kiện bảo
lãnh.Tính độc lập của bảo lãnh sẽ cao nếu là bảo lãnh theo yêu cầu nhng nếu điều
8
kiện của bảo lãnh là phải có chứng từ xác nhận vi phạm của ngời đợc bảo lãnh hay
phán quyết của trọng tài thì tính độc lập của bảo lãnh sẽ giảm sút. Theo các nhà
ngân hàng thì tính độc lập của bảo lãnh mang lại nhiều thuận lợi khi tiến hành
nghiệp vụ.
1.1.4. Chức năng của Bảo lãnh ngân hàng
1.1.4.1.Bảo lãnh là công cụ đảm bảo
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh. Các ngân hàng phát hành
bảo lãnh thờng là những trung gian tài chính có khả năng tài chính đảm bảo, có uy
tín trong kinh doanh tiền tệ nên khi ngân hàng phát hành bảo lãnh đã tạo ra một sự
đảm bảo chắc chắn cho ngời thụ hởng bằng việc cam kết chi trả bồi thờng khi xảy
ra các biến cố vi phạm hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh. Chính điều này đã tạo nên
một tâm lý tin tởng cho ngời thụ hởng, từ đó tạo điều kiện cho hợp đồng đợc ký
kết một cách suôn sẻ, nhanh chóng.
1.1.4.2.Bảo lãnh là công cụ tài trợ
Khi ngân hàng chấp thuận phát hành bảo lãnh tức là ngân hàng đã tài trợ
cho các bên. Ví dụ nh đối với các hợp đồng thi công đòi hỏi số vốn lớn, thời gian
thực hiện dài, các nhà thầu khó có đủ khả năng tài chíng để thực thi hay hoàn
thành hợp đồng đúng tiến độ. Trong trờng hợp này, dới sự tài trợ của ngân hàng
thông qua hình thức bảo lãnh ứng trớc hay còn gọi là bảo lãnh hoàn thanh toán,
nhà thầu có thể yêu cầu chủ thầu ứng trớc một phần giá trị hợp đồng để tạo điều
kiện về vốn cho nhà thầu thực hiện thi công. Rõ ràng ở đây, ngân hàng không
đứng ra với vai trò ngời cho vay mà chỉ tài trợ trên danh nghĩa để bên đợc bảo lãnh
có thể nhận vốn ứng trớc của chủ thầu để giải quyết khó khăn về vốn.
1.1.4.3.Bảo lãnh là công cụ đôn đốc thực hiện hợp đồng
Đối với khách hàng, để đợc bảo lãnh thì khách hàng phải ký quỹ, trong đó
có một phần là vốn tự có còn phần lớn là khách hàng thế chấp tài sản để ký quỹ
bảo lãnh. Do đó trong trờng hợp ngời đợc bảo lãnh không thực hiện đúng hợp
đồng thì trong suốt thời gian hiệu lực của bảo lãnh, bên thụ hởng có quyền yêu cầu
ngân hàng phát hành thanh toán . Chính vì vậy ngời đợc bảo lãnh luôn bị một áp
lực phải bồi hoàn thanh toán, có thể bị phát mại tài sản nh vậy bảo lãnh thúc đẩy
ngời đợc bảo lãnh thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết.
Đối với ngân hàng, khoản phải trả thay sẽ đợc xếp vào loại tài sản xấu trong
nội bảng, đợc coi nh là nợ quá hạn. Mặt khác, để tránh tình trạng quan hệ không
tốt với khách hàng, ngân hàng phải thờng xuyên theo dõi, đôn đốc ngời đợc bảo
lãnh thực hiện hợp đồng. Vì vậy có thể nói, bảo lãnh mang ý nghĩa ràng buộc, đốc
thúc ngời đợc bảo lãnh thực hiện hợp đồng hơn là việc bồi hoàn.
Ba chức năng trên của bảo lãnh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì bảo
lãnh có chức năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng nên đã làm tăng thêm tính đảm
bảo cho ngời thụ hởng.
1.2.Nội dung của nghiệp vụ bảo lãnh
1.2.1. Các yếu tố trong bảo lãnh:
Khi một nghiệp vụ bảo lãnh phát sinh bao giờ cũng liên quan đến ba bên:
-Bên đợc bảo lãnh:là chủ thể đợc ngân hàng cam kết trả thay nếu vi phạm
hợp đồng.
9
-Bên thụ hởng bảo lãnh : là chủ thể đợc ngân hàng thanh toán khi có yêu
cầu do bên đợc bảo lãnh vi phạm hợp đồng.
-Bên bảo lãnh : là chủ thể dùng uy tín của mình đứng ra cam kết chịu trách
nhiệm thay trong trờng hợp bên đợc bảo lãnh không thực hiện đúng hợp đồng.
Quan hệ giữa các bên đợc xác lập dựa trên ba hợp đồng độc lập:
-Hợp đồng giữa bên đợc bảo lãnh và bên thụ hởng bảo lãnh (Underlying
contract) : đây là hợp đồng chính của các giao dịch kinh tế, từ hợp đồng chính đợc
thoả thuận giữa các bên mới phát sinh nhu cầu bảo lãnh của các tổ chức tín dụng.
-Th bảo lãnh (letter of Guarantee) hay cam kết bảo lãnh của ngân hàng bảo
lãnh về việc bên bảo lãnh cam kết sẽ thực hiện thay các nghĩa vụ cho bên đợc bảo
lãnh khi bên đợc bảo lãnh không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ các nghĩa
vụ đối với bên thụ hởng. Đây là văn bản chính của nghiệp vụ bảo lãnh.
-Hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên đợc bảo lãnh: là thoả thuận giữa bên
bảo lãnh và bên đợc bảo lãnh về việc bên bảo lãnh chấp nhận việc bảo lãnh cho
các nghĩa vụ của bên đợc bảo lãnh đối với bên thụ hởng đồng thời còn quy định
các nghĩa vụ ràng buộc của bên đợc bảo lãnh với bên bảo lãnh nh nghĩa vụ hoàn
trả, phí bảo lãnh, các hình thức đảm bảo
1.2.2 Th bảo lãnh
Về hình thức thì th bảo lãnh có thể khác nhau giữa các ngân hàng hoặc tuỳ
theo nhữn quy định khác nhau ở mỗi nớc, song về cơ bản một th bảo lãnh ngân
hàng thông thờng có những nội dung cơ bản sau:
a. Tên gọi của bảo lãnh: cho biết loại hình bảo lãnh đợc các bên nhất trí áp
dụng.
b. Số tham chiếu, ngày phát hành bảo lãnh
c. Tên, địa chỉ của ngân hàng bảo lãnh, ngời đợc bảo lãnh và ngời thụ hởng
bảo lãnh
d. Đối tợng đợc bảo lãnh, đó chính là hợp đồng cơ sở với những chi tiết có
liên quan.
e. Số tiền bảo lãnh, loại tiền phải trả: số tiền bảo lãnh đợc quy định theo
mức tối đa và xác định dựa trên bản chất của giao dịch cũng nh giá trị hợp đồng.
Thông thờng số tiền bảo lãnh đợc ghi chính xác theo giá trị tuyệt đối.
g. Các điều khoản khấu trừ (nếu có) cũng phải đa vào trong văn bản bảo
lãnh để bảo vệ quyền lợi của ngân hàng bảo lãnh, ngời đợc bảo lãnh và tránh sự
lạm dụng của ngời thụ hởng.
h. Các điều kiện thanh toán: quy định rõ các chứng từ cần thiết phải xuất
trình. Việc quy địng các chứng từ cần thiết để thanh toán của bảo lãnh tuỳ thuộc
vào sự thoả thuận giữa ngời thụ hởng và ngời đợc bảo lãnh cũng nh vị thế của mỗi
bên trong hợp đồng chính.
Cam kết bảo lãnh chính thức của ngân hàng phát hành
i. Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh: là khoảng thời gian mà bất cứ lúc nào
điều kiện thanh toán đợc thoả mãn thì ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
nh đã thoả thuận. Quá thời hạn này thì ngân hàng đợc giải phóng khỏi nghĩa vụ
bảo lãnh đã cam kết trớc đó.
k. Luật chi phối và điều chỉnh bảo lãnh: là cơ sở để giải quyết nếu có tranh
chấp xảy ra.
10
l. Ngoài ra còn một số nội dung khác nh các trờng hợp miễn trừ trách nhiệm
của ngân hàng, chữ ký của ngời có thẩm quyền
1.2.3. Phí bảo lãnh:
Phí bảo lãnh là chi phí mà ngời đợc bảo lãnh phải trả cho ngân hàng do đợc h-
ởng dịch vụ này. Phí dịch vụ phải đảm bảo bù đắp đợc các chi phí bỏ ra của
ngân hàng để thực hiện dịch vụ này và phải tính đến cả những rủi ro mà ngân
hàng có thể gánh chịu. Có thể nói, phí bảo lãnh là giá cả của dịch vụ bảo lãnh.
Ngân hàng quy định mức phí tối thiểu và tối đa mà khách hàng phải trả, tuy
nhiên mức phí là bao nhiêu là do khách hàng và ngân hàng thoả thuận
Phí bảo lãnh có thể tính bằng số tuyệt đối hoặc tính trên cơ sở tỷ lệ phần trăm.
Phí bảo lãnh theo tỷ lệ phí đợc tính theo công thức:
Phí bảo lãnh = Số tiền bảo lãnh x Tỷ lệ phí x Thời gian bảo lãnh
Phí bảo lãnh đợc tính vào thu nhập dịch vụ của ngân hàng và là một trong
những nguồn thu rất quan trọng.
1.2.4.Các loại bảo lãnh ngân hàng
Để đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của nền kinh tế, bảo lãnh
ngân hàng cũng không ngừng phát triển về các loại hình. Tuỳ theo từng tiêu thức
mà ta có thể phân chia nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ra làm nhiều loại khác nhau.
1.2.4.1Phân loại theo đối tợng bảo lãnh
a. Bảo lãnh trong nớc
Là loại bảo lãnh mà các bên tham gia bao gồm ngời đợc bảo lãnh, ngời thụ hởng
bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh ở trong phạm vi một quốc gia. Các loại bảo lãnh
ngân hàng trong nớc thờng đợc sử dụng là bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện
hợp đồng, bảo lãnh hoàn thanh toán
b.Bảo lãnh ngoài nớc
Thờng đợc áp dụng trong lĩnh vực thơng mại quốc tế.Đối tợng giao dịch đợc bảo
lãnh là các thơng vụ mua bán giữa các bên xuất khẩu và nhập khẩu. Tổ chức bảo
lãnh thờng là ngân hàng thơng mại, trú đóng tại nớc của ngời đợc bảo lãnh. Bảo
lãnh ngoài nớc thờng đợc thực hiện qua hình thức: mở th tín dụng mua hàng trả
chậm, ký bảo lãnh trên các hối phiếu nhận nợ với nớc ngoài, phát hành th bảo
lãnh, lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ
1.2.4.2Phân loại theo điều kiện thanh toán
a. Bảo lãnh theo yêu cầu (Demand Guarantee)
Là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán của nó là : ngời thụ hởng chỉ cần xuất
trình một văn bản yêu cầu thanh toán ( Demand for payment in writing), ngoài ra
bảo lãnh này không yêu cầu một chứng từ nào khác. Ngời thụ hởng không phải đa
ra những chứng từ hay chứng cứ gì để chứng minh sự vi phạm của ngời đợc bảo
lãnh cũng nh sự thiệt hại của mình. Và ngợc lại về phía ngân hàng cũng vậy,ngân
hàng phát hành không đợc quyền đòi những chứng từ nh đã nói ở trên.
Bảo lãnh theo yêu cầu tạo cho ngời thụ hởng một vị thế vô cùng lớn và tạo
sự bất lợi cho ngời bảo lãnh cũng nh ngời đợc bảo lãnh. Thậm chí ngời bảo lãnh và
ngời đợc bảo lãnh cũng sẽ rất khó khăn trong việc ngăn chặn các tình huống lừa
đảo.
b. Bảo lãnh kèm chứng từ (Documentary Guarantee)
11
Là loại bảo lãnh ngân hàng mà điều kiện bảo lãnh là phải có chứng từ xác nhận
của bên thứ ba, thờng là một bên độc lập và có đủ trình độ chuyên môn.
Ngời thụ hởng bảo lãnh có thể xuất trình yêu cầu thanh toán cùng giấy tờ chứng
minhcủa bên thứ ba về sự vi phạm của ngời đợc bảo lãnh. Hoặc ngời thụ hởng bảo
lãnh chỉ phải xuất trình yêu cầu thanh toán, nhng trong trờng hợp này nếu ngời đ-
ợc bảo lãnh cung cấp giấy tờ của bên thứ ba chứng nhận là đã hoàn thành hợp
đồng thì ngời thụ hởng sẽ không đợc ngân hàng bồi thờng nữa.
Bảo lãnh kèm chứng từ bảo vệ quyền lợi cho ngời đợc bảo lãnh tốt hơn so với bảo
lãnh theo yêu cầu. Tuy nhiên có nhợc điểm là kéo dài thời gian thanh toán cho ng-
ời thụ hởng.
c.Bảo lãnh kèm phán quyết của trọng tài hoặc toà án
Đây là loại bảo lãnh mà điều kiện thanh toán của bảo lãnh căn cứ vào phán quyết
của toà án hay trọng tài khẳng định việc vi phạm của ngời đợc bảo lãnh và trách
nhiệm thanh toán đối với ngời thụ hởng. Loại bảo lãnh này rất ít khi đợc các bên
lựa chọn do tính phức tạp và chậm trễ của nó.
1.2.4.3.Phân loại theo mục đích của bảo lãnh
a. Bảo lãnh dự thầu (Tender guarantee)
Thông thờng, đối với những hợp đồng lớn, đặc biệt là những hợp đồng xây dựng,
thiết kế hay cung cấp thiết bị thì ngời chủ công trình thờng chọn đối tác thi công
thông qua đấu thầu. Mục đích của bảo lãnh dự thầu là đảm bảo cho việc ngời dự
thầu không rút lui, không ký hợp đồng hay thay đổi định khi đã trúng thầu. Nếu
ngời dự thầu đã trúng thầu nhng không ký hợp đồng thì ngời thụ hởng sẽ rút tiền
thanh toán từ bảo lãnh để trang trải những chi phí do chậm trễ tiến độ thi công hay
chi phí để tổ chức một cuộc đấu thầu khác. Chủ công trình sẽ yêu cầu những ngời
đăng ký dự thầu phải cung cấp một bảo lãnh dự thầu, thông thờng có giá trị từ 1%
đến 5% trị gí hợp đồng đấu thầu. Mẫu th bảo lãnh đợc đa kèm trong bộ hồ sơ đăng
ký dự thầu của ngời chủ thầu đa cho ngời dự thầu. Bảo lãnh dự thầu sẽ hết hiệu lực
khi ngời đợc bảo lãnh (ngời đăng ký dự thầu) không trúng thầu.
b. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance guarantee)
Là loại bảo lãnh phổ biến.Bảo lãnh thực hiện hợp đồng cung cấp một đảm bảo cho
ngời thụ hởng về việc thực hiện hợp đồng của ngời đợc bảo lãnh. Trong trờng hợp
ngời đợc bảo lãnh không thực hiện đúng, đầy đủ những nghĩa vụ đã đợc ghi trong
hợp đồng thì ngời thụ hởng có quyền yêu cầu thanh toán bảo lãnh. Thônh thờng
bảo lãnh này đợc dùng kèm với những phơng thức thanh toán khác.
Số tiền trong th bảo lãnh thực hiện hợp dồng thờng có giá trị từ 10% đến 15% giá
trị hợp đồng cơ sở. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng hết hiệu lực khi ngời đợc bảo lãnh
đã hoàn thành nghĩa vụ của mình.
c. Bảo lãnh bảo hành (Maintenance guarantee)
Đây là loại bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo
lãnh đảm bảo khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận về chất lợng sản phẩm
theo hợp đồng đã ký kết với bên thụ hởng. Trong trờng hợp có vi phạm mà khách
hàng không nộp hoặc nộp không đầy đủ tiền phạt cho bên thụ hởng thì tổ chức tín
dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết.
Bảo lãnh bảo hành có hiệu lực trong thời gian bảo hành sản phẩm, số tiên bảo lãnh
có giá trị từ 2% đến 5% giá trị hợp đồng.
12
d. Bảo lãnh thanh toán (Payment guarantee)
Bảo lãnh thanh toán hoàn toàn có thể đợc sử dụng nh một phơng tiện đảm bảo
thanh toán trong hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê mua tài chính, hợp đồng đại
lý, hợp đồng xây dựng Về loại bảo lãnh này, về mục đích giống nh một th tín
dụng thơng mại thông thờng là đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên nó
hoàn toàn khác nhau về bản chất và cách thức truy đòi tiền thanh toán
e. Bảo lãnh hoàn thanh toán (Repayment guarantee)
Khi ký kết những hợp đồng có giá trị lớn, thông thờng ngời bán thờng yêu cầu ng-
ời mua ứng trớc một phần tiền nhằm tài trợ cho ngời bán thực hiện hợp đồng. Việc
ứng trớc này phải có bảo lãnh hoàn thanh toán có giá trị tơng đơng làm đảm bảo.
Ngời thụ hởng (ngời mua) có thể yêu cầu thanh toán bảo lãnh nếu ngời bán không
giao hàng hay giao hàng không đúng, không đủ hàng. Tuy nhiên cũng cần phải
quy định rõ những tình huống nào thì ngời thụ hởng có quyền đòi thanh toán bảo
lãnh.
Bảo lãnh hoàn thanh toán chỉ có hiệu lực khi bên đợc bảo lãnh (Bên bán) đã nhận
đợc tiền ứng trớc. Số tiền bảo lãnh hoàn thanh toán thờng tơng đơng với toàn bộ số
tiền đã ứng trớc của hợp đồng (Kể cả tiền lãi và tiền phạt nếu có).
f. Bảo lãnh hải quan (Custom guarantee)
Trong trờng hợp hàng hoá đợc nhập khẩu vào một nớc nào đó nhằm mục đích trng
bày tại triển lãm hay tham dự hội chợ trong một khoảng thời gian xác định rồi sẽ
tái xuất. Hay trờng hợp một công ty thi công cần nhập khẩu máy móc vào một n-
ớc nào đó để thi công nhng sau khi thi công xong lại xuất khẩu máy móc đó về
bản quốc. Những hàng hoá hay máy móc đó khong phải nộp thuế nhập khẩu do
vậy hải quan của nớc mà hàng hoá đợc tạm nhập tái xuất sẽ yêu cầu chủ hàng phải
có một bảo đảm nhầm đảm bảo rằng nếu quá thời hạn đã đăng ký mà hàng hoá
hay máy móc đó không tái xuất thì hải quan sẽ rút tiền thanh toán từ th bảo lãnh
coi nh một khoản nộp tiền thuế nhập khẩu và tiền phạt.
g. Ngoài ra còn nhiều loại bảo lãnh khác phát sinh theo đòi hỏi thực tiễn
nh bảo lãnh vận đơn, bảo lãnh phát hành chứng khoán Mỗi loại bảo lãnh sẽ đối
phó với một dạng rúi ro phát sinh trong suốt thời gian diễn biến hợp đồng từ khi
ký kết cho đến khi các nghĩa vụ đợc hoàn thành và kết thúc.
1.2.4.4. Phân loại theo phơng thức phát hành bảo lãnh
a.Bảo lãnh trực tiếp (Direct guarantee)
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng bảo lãnh có nghĩa vụ
bảo lãnh trực tiếp với bên thụ hởng còn ngời đợc bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi
hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh khi ngân hàng bảo lãnh thực hiện
nghĩa vụ cho ngời đợc bảo lãnh.
Sơ đồ 1.1: Bảo l nh trực tiếpã
13
Người được
BL
NH phát
hành
Người thụ
hưởng BL
NH thông
báo
(1)
(2)
(3a)
(3b)
(3b)
(1) Ngời đợc bảo lãnh ký kết hợp đồng chính với ngời thụ hởng bảo lãnh
(2) Ngời đợc bảo lãnh đề nghị ngân hàng phát hành bảo lãnh và cam kết bồi hoàn.
(3a) Ngân hàng phát hành bảo lãnh và chuyển trực tiếp cho ngời thụ hởng
(3b) Ngân hàng phát hành bảo lãnh và chuyển cho ngời thụ hởng thông qua ngân
hàng thông báo (Trong trờng hợp ngời thụ hởng bảo lãnh là ngời nớc ngoài)
b. Bảo lãnh gián tiếp (Indirect Guarantee)
Là loại bảo lãnh trong đó ngời đợc bảo lãnh yêu cầu ngân hàng thứ nhất (Gọi là
ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ hai ( Gọi là ngân hàng phát hành) phát
hành văn bản bảo lãnh chuyển cho ngời thụ hởng. Trong loại bảo lãnh này, khi vi
phạm xảy ra ngời thụ hởng bảo lãnh sẽ đợc nhận khoản bồi thờng từ ngân hàng
phát hành bảo lãnh. Ngân hàng chỉ thị sẽ chịu trách nhiệm bồi hoàn số tiền này
cho ngân hàng phát hành bảo lãnh và sau đó ngân hàng chỉ thị có thể truy đòi từ
ngời đợc bảo lãnh.
Bảo lãnh gián tiếp có ít nhất 4 thành phần tham gia: NH chỉ thị, NH phát hành, ng-
ời đợc bảo lãnh và ngời thụ hởng. Trong một số trờng hợp cũng có thể có vai trò
của một ngân hàng thông báo.
Sơ đồ 1.2: Bảo l nh gián tiếpã
14
NH phát
hành
NH chỉ
thị
Người đư
ợc BL
Người thụ
hưởng
NH thông
báo
(4b)
(3)
(2)
(1)
(4a)
(4b)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét