Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Hoạt động truyền thông với việc thu hút đầu vào Thái Bình

Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I –HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG TRONG
MARKETING ĐỊA PHƯƠNG VỚI VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ
I-Hoạt động truyền thông trong marketing địa phương
1-Khái quát về hệ thống truyền thông
1.1-Khái niệm
Truyền thông là một tham số của Marketing- Mix.Truyền thông trong
marketing địa phương cũng không khác nhiều so với marketing thông thường
vì trong marketing địa phương thì địa phương có thể được coi như là một
doanh nghiệp Có nhiều quan niệm khác nhau về truyền thông, tuy nhiên các
khái niệm đều có sự thống nhất nhau rằng: Truyền thông là các hoạt động có
chủ đích trong lĩnh vực Marketing của các doanh nghiệp, địa phương nhằm
tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ kinh doanh,
tạo điều kiện phát triển cho doanh nghiệp và địa phương địa phương
Truyền thông bao gồm các hoạt động chính như: Quảng cáo, Marketing
trực tiếp, kích thích tiêu thụ, quan hệ quần chúng và tuyên truyền, bán hàng
trực tiếp.
Hoạt động truyền thông sẽ giúp doanh nghiệp và địa phương có cơ hội
phát triển các mối quan hệ kinh doanh với các bạn hàng trong nước cũng như
bạn hàng ở nước ngoài. Thông qua hoạt động truyền thông các doanh nghiệp,
địa phương có điều kiện để hiểu biết lẫn nhau, đặt quan hệ buôn bán với nhau
đồng thời có thêm thông tin về thị trường, có điều kiện nhanh chóng phát triển
kinh doanh, phát triển địa phương để hội nhập vào kinh tế khu vực.
Nhờ có hoạt động truyền thông, các doanh nghiệp và địa phương có
thông tin tốt về khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh. Qua đó doanh
nghiệp, địa phương có hướng đổi mới kinh doanh, phát triển địa phương
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
Truyền thông là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và
tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị
trường, nó còn tạo ra ưu thế của địa phương so với các địa phương khác.
Thông qua hoạt động truyền thông các địa phương tiếp cận được với thị
trường tiềm năng, khách hàng tiềm năng của địa phương, cung cấp cho khách
hàng tiềm năng những thông tin cần thiết, những dịch vụ ưu đãi của doanh
nghiệp hay địa phương để tiếp tục chinh phục khách hàng và lôi kéo khách
hàng của đối thủ cạnh tranh. Các hoạt động truyền thông sẽ tạo ra hình ảnh
đẹp về địa phương trước con mắt khách hàng, lợi thế cạnh tranh của địa
phương nhờ đó mà không ngừng tăng lên.
1.2-Các bộ phận của truyền thông
1.2.1-Quảng cáo
Kinh doanh là một hoạt động cơ bản của kinh tế thị trường. Quảng cáo
một hoạt động không thể thiếu được của một doanh nghiệp hoặc mỗi địa
phương, là công cụ quan trọng để khai thác thị trường, thu hút khách hàng
tiềm năng của địa phương.
Theo hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) đã đưa ra định nghĩa về quảng cáo
như sau: quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp
của hàng hoá, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để
nhận biết người quảng cáo .
Theo PhilipKotler định nghĩa về quảng cáo như sau: quảng cáo là mọi
hình thức trình bầy gián tiếp và khuyếch trương ý tưởng, hàng hoá trong dịch
vụ được người bảo trợ nhất định trả tiền.
Như vậy, hoạt động quảng cáo là một hoạt động không thể thiếu được
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như trong hoạt động
marketing của địa phương. Nhưng bên cạnh đó thì hoạt động quảng cáo cũng
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
đòi hỏi doanh nghiệp, địa phương phải mất một khoản chi phí rất lớn cho hoạt
động này. Điều này làm ảnh hưởng đến chi phí và lợi nhuận trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến ngân sách của địa phương. Vì
thế khi xây dựng chương trình quảng cáo những người quản lý Marketing bao
giờ cũng phải bắt đầu từ việc phát hiện thị trường mục tiêu, nhu cầu và động
cơ của khách hàng, nhà đầu tư. Sau đó, khi xây dựng một chương trình quảng
cáo họ có thể tiếp tục thông qua năm quy định quan trọng, được gọi là 5 M.
- Xác định mục tiêu quảng cáo.
- Quyết định ngân sách quảng cáo.
- Quyết định thông điệp quảng cáo.
- Quyết định về phương tiện quảng cáo
- Đánh giá hiệu quả quảng cáo.
Việc tổ chức và quản lý hoạt động quảng cáo được thu gọn trong 5 quyết
định quan trọng sau:
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp

1.2.2-Marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp thường được xem là thứ yếu so với những công cụ
chủ yếu của quảng cáo và bán hàng trực tiếp. Tuy vậy, nó vẫn có thể đóng
góp to lớn cho thành qủa Marketing và đang đóng một số vai trò to lớn.
Trong hoạt động kinh doanh hay marketing địa phương để đẩy mạnh
việc tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp hay đẩy mạnh thu hút
các khách hàng của địa phương thì hầu hết các doanh nghiệp, địa phương đều
dưạ chủ yếu vào quảng cáo, kích thích tiêu thụ và bán hàng trực tiếp. Vì sử
dụng quảng cáo để tạo ra sự biết đến và quan tâm, kích thích tiêu thụ để
khuyến khích mua hàng, và bán hàng trực tiếp để hoàn tất việc bán hàng.
Marketing trực tiếp cố gắng kết hợp cả ba yếu tố này lại để đi đến chỗ bán
hàng trực tiếp không qua trung gian.
Marketing trực tiếp xuất hiện đầu tiên dưới hình thức gửi thư trực tiếp và
catalog đặt hàng qua điện thoại, trong những năm gần đây do công nghệ khoa
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
6
Xác định mục tiêu
Mục tiêu truyền
thông
Mục tiêu tiêu thụ
Quyết định
ngân sách
Căn cứ vào khả năng
% doanh số bán
cân bằng cạnh tranh
căn cứ vào mục tiêu và
nhiệm vụ
Quyết định phương tiện
Phạm vi, tần suất, tác động.
Các kiểu phương tiện chính
Các phương tiện cụ thể
Phân phối thời gian cho các phương tiện
Đánh giá quảng cáo
tác dụng truyền thông
tác dụng đến mức tiêu
thụ
Quyết định thông điệp
Hình thành thông điệp
đánh giá và lựa chọn thông điệp
thực hiện thông điệp
Chuyên đề tốt nghiệp
học điện tử phát triển như vũ bảo đã có thêm nhiều hình thức khác, như
Marketing qua điện thoại, trả lời trực tiếp trên truyền thanh và truyền hình,
mua hàng qua hệ thống điện tử các công cụ Marketing rất đa dạng này đều
có một điểm chung là chúng đều được sử dụng để có được những đơn đặt
hàng trực tiếp của các khách hàng mục tiêu hay các khách hàng triển vọng.
1.2.3-Kích thích tiêu thụ
Kích thích tiêu thụ bao gồm rất nhiều những công cụ khuyến khích rất
khác nhau, thường là ngắn hạn, nhằm kích thích người tiêu dùng hay nghành
thương mại hay các nhà đầu tư mua những sản phẩm, dịch vụ cụ thể, đầu tư
vào địa phương nhanh hơn, nhiều hơn.
Kích thích tiêu thụ gồm những công cụ để kích thích khách hàng của địa
phương như: đưa mẫu chào hàng, phiếu thưởng, bớt tiền khi thanh toán bằng
tiền mặt , giảm giá đặc biệt , quà tặng, giải thưởng, phần thưởng cao hơn
khách hàng thường xuyên, dùng thử miễn phí, bảo hành, trình diễn , thi,
khuyến mãi mậu dịch như: bớt giá khi mua hàng, hàng tặng miễn phí, trợ giá
cho hàng hoá, trợ cấp cho việc hợp tác quảng cáo, quảng cáo và trưng bầy
hàng, biếu tiền những người bán lẻ, thi bán hàng giữa các đại lý và kích thích
lực lượng bán hàng như: tiền thưởng , hội nghị bán hàng. Đối với marketing
địa phương nó còn là các chính sách ưu đãi về thuế, giá thuê mặt bằng xây
dựng có sở hạ tầng,…
Các công cụ kích thích tiêu thụ được hầu hết các tổ chức sử dụng, từ các
nhà sản xuất, người phân phối, người bán lẻ, các hiệp hội thương mại đến các
tổ chức phi lợi nhuận, các địa phương. Công cụ kích thích tiêu thụ thường hay
được các doanh nghiệp, địa phương ưa thích và lựa chọn. Việc thực hiện kích
thích tiêu thụ bao gồm các bước:
- Xác định các mục tiêu kích thích tiêu thụ.
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
- Lựa chọn các công cụ kích thích tiêu thụ.
- Xây dựng chương trình kích thích tiêu thụ.
- Thử nghiệm trước chương trình kích thích tiêu thụ.
- Thực hiện và kiểm tra chương trình kích thích tiêu thụ.
- Đánh giá kết quả kích thích tiêu thụ.
1.2.4-Quan hệ công chúng (PR)
Quan hệ với công chúng là một công cụ truyền thống/ khuyến mãi quan
trọng khác nữa. Tuy ít được sử dụng hơn, nó có tiềm năng lớn để tạo nên mức
độ biết đến và sự ưa thích trên thị trường, xác định lại vị trí của sản phẩm và
bảo vệ chúng. Những công cụ quan hệ với công chúng chủ yếu là các ấn
phẩm, sự kiện, tin tức, bài nói chuyện, hoạt động công ích, các tư liệu viết, tư
liệu nghe nhìn, phương tiện nhận dạng và dịch vụ thông tin qua điện thoại.
Trong marketing địa phương thì quan hệ công chúng này có tác dụng rất lớn.
Là công cụ chủ yếu của chính quyền địa phương, các doanh nghiệp trên địa
bàn địa phương và công chúng trong địa phương đó sử dụng để thu hút khách
hàng của địa phương, thu hút các nhà đầu tư. Quan hệ công chúng bao gồm
các khâu:
- Xác định mục tiêu Marketing quan hệ với công chúng.
- Lựa chọn thông điệp và phương tiện quan hệ công chúng.
- Đánh giá kết quả của Marketing quan hệ với công chúng.
1.2.5-Bán hàng trực tiếp
Ngày nay, hâù hết các Công ty sử dụng các đại diện bán hàng và nhiều
Công ty đã dành cho họ vai trò then chốt trong Marketing – mix. Đối với
marketing địa phương trong lĩnh vực thu hút đầu tư thì người bán hàng ngoài
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
các phòng ban chính quyền có chức năng giới thiệu và thu hút đầu tư thì còn
là các ban quản lý dự án, ban quản lý các khu công nghiệp,… Nhân viên bán
hàng rất có hiệu quả trong việc thực hiện những mục tiêu Marketing nhất định
nhưng cũng đồng thời gây nhiều tốn kém nên cần phải có sự quản lý chặt chẽ,
hợp lý.
Mục đích của lực lượng bán hàng là bán hàng và việc bán hàng là một
nghệ thuật. Việc bán hàng là một quá trình bảy bước: thăm dò tìm kiếm và
sàng lọc, tiếp cận sơ bộ, tiếp cận, giới thiệu và trình diễn, khắc phục những ý
kiến phản đối, kết thúc thương vụ, theo dõi tiếp và duy trì. Một khía cạnh
khác của việc bán hàng là việc thương lượng, nghệ thuật để đi đến được
những điều kiện giao dịch thoả mãn được cả hai bên. Khía cạnh thứ ba là
Marketing quan hệ, nghệ thuật tạo ra mối quan hệ làm việc gắn bó hơn và sự
độc lập giữa những người thuộc hai tổ chức.
II-Vai trò hoạt động truyền thông đối với vấn đề thu hút đầu tư của địa
phương
Trong nền kinh tế thị trường, các địa phương phải đối đầu với sự cạnh
tranh gay gắt về thu hút đầu tư với các địa phương khác
Địa phương có các chính sách thu hút đầu tư tốt nhưng lại không được
các nhà đầu tư biết đến. thì cũng không thể thu hút tốt các nhà đầu tư. Do đó
dối với mỗi địa phương để thu hút đầu tư có hiệu quả thì bên cạnh việc tạo ra
môi trường đầu tư tốt có chất lượng thì cần phải xây dựng hệ thống hoạt động
truyền thông cho địa phương mình
Truyền thông marketing giúp cho địa phương thực hiện được những
công việc như truyền tin một cách chính xác, tạo ấn tượng về địa phương,
nhắc nhở các nhà đầu tư về những lợi ích mà địa phương mang lại, giúp cho
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
địa phương xây dựng và bảo vệ hình ảnh của mình trong tâm trí các nhà đầu
tư.
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG II – KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG CỦA SỞ KẾ
HOẠCH ĐẦU TƯ THÁI BÌNH
I-Khái quát về tỉnh Thái Bình và Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thái Bình
1-Khái quát về tỉnh Thái Bình
1.1- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm phía nam sông Hồng
Hồng, cách thủ đô Hà Nội hơn 100 km,cách thành phố Hải Phòng 70km. Diện
tích tự nhiên của Thái Bình là 1.545 km2, có 52 km bờ biển , có cảng biển
quốc gia Diêm Điền. Trục quốc lộ 10 chạy qua trung tâm thành phố nối Thái
Bình với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước.
1.2- Về tiềm năng phát triển
-Thái Bình có điều kiện tự nhiên và sinh thái rất thuận lợi cho phát triển
nền nông nghiệp toàn diện với cơ cấu cây trồng , vật nuôi phong phú, đa dạng
và có điều kiện sinh trưởng nhanh.
- Với lợi thế có trên 52 km bờ biển và 5 cửa sông lớn tạo cho Thái Bình
có 1 vùng triều rộng lớn ( khoảng 18.000 ha) để có thể khoanh vùng ,đắp đầm
nuôi trồng các loại hải sản như: tôm, cua, ngao, rau câu….Khu nghỉ mát
Đồng Châu và các cồn cát ven biển là nơi hấp dẫn khách du lịch
- Thái Bình có mỏ khí đốt Tiền Hải đã và đang được khai thác với sản
lượng lớn mỗi năm hang chục triệu m3 khí đốt thiên nhiên phục vụ cho các
ngành sản xuất công nghiệp gốm, sứ, thủy tinh, vật liệu xây dựng. Ngoài ra
tại Tiền Hải có các mỏ nước khoáng thiên nhiên với trữ lượng lớn, dễ khai
thác.
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Tiềm năng này tạo cho tỉnh có điền kiện sản xuất được những sản phẩm
có chất lượng cao, giá thành hạ,điển hình là sứ xây dựng, xi măng trắng Thái
Bình và nước khoáng Vital
- Thái Bình có số dân đông ( 1.85 triệu người ), nguồn lao động dồi dào,
người dân cần cù lao động, tiếp thu nhanh với cái mới và có khả năng đáp
ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế ở địa phương và hợp tác quốc tế.
1.3- Tình hình kinh tế- xã hội
1.3.1-Về kinh tế
- Nông nghiệp: Ngành nông nghiệp của tỉnh đang có sự chuyển dịch cơ
cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa có chất lượng và hiệu
quả cao. Năng suất lúa nhiều năm liền đạt từ 13-14 tấn/ha. Tổng sản lượng
lương thực ổn định trên 1 triệu tấn/năm. Bình quân lương thực đầu người đạt
từ 520 kg đến 625kg, sản lượng lương thực hàng hoá từ 30 tấn đến 40 vạn tấn/
năm. Có nhiều tiến bộ về trình độ thâm canh (về tăng giống lúa lai, lúa thuần,
đổi mới thời vụ, biện pháp chăm sóc ).
Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có nhiều chuyển
biến rõ rệt, đã chuyển đổi được 3.332 ha diện tích lúa hiệu quả thấp, đất làm
muối kém hiệu quả sang nuôi thuỷ sản nước ngọt, mặn, lợ, trồng cây ăn quả,
dâu, cói, hoè
Việc dồn điền đổi thửa đến nay cơ bản đã thực hiện xong, bình quân mỗi
hộ chỉ còn không quá 3 thửa/hộ (trước từ 7-9 thửa/hộ) tạo điều kiện chuyển
đổi cơ cấu cây trồng và tạo vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá
+ Chăn nuôi lợn có số lượng đầu con tăng trưởng nhanh, đàn lợn đạt 1,2
triệu con. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để chế biến thịt lợn đông lạnh
xuất khẩu . Chăn nuôi cũng có bước phát triển khá, chủ yếu là chăn nuôi gia
SV: Nguyễn Đức Lộc Marketing 46B
12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét