CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI TIÊU ĐẦU
TƯ VÀ TÌNH HÌNH KÍCH CẦU ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM
I. Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư
1.1. Thực trạng về đầu tư Việt Nam
1.1.1. Đầu tư ở trong nước
Đầu tư trong nước là việc sử dụng vốn để sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam
của tổ chức, cá nhân ( bao gồm người Việt Nam, là người nước ngoài thường trú ở
Việt Nam).
Hiện nay, đầu tư trong nước đang ngày càng phát triển. Việc xuất hiện sàn
giao dịch chứng khoán Hostc tại thành phố HCM vào năm 2001 là bước ngoặt cho
thị trường đầu tư trong nước.Có thể nói thị trường chứng khoán kênh huy động vốn
rất quan trọng cho các doanh nghiệp trong nước đã được niêm yết.
Nhà đầu tư trong nước sẽ là nòng cốt của thị trường chứng khoán
Sau 7 năm đi vào hoạt động và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam
đã hình thành một cơ sở nhà đầu tư vững mạnh.
Theo thống kê của Ủy ban Chứng khoán, tính đến cuối tháng 6/2007, thị
trường chứng khoán Việt Nam có 243.809 tài khoản tăng 2,3 lần so với tháng
12/2006 (106.393 tài khoản). Trong đó, 242.624 tài khoản của nhà đầu tư cá nhân
và 1.185 tài khoản nhà đầu tư có tổ chức.
Để phát triển cầu chứng khoán, trong thời gian tới, Ủy ban Chứng khoán Nhà
nước sẽ khuyến khích phát triển nhà đầu tư,các tổ chức trong nước làm nòng cốt,
đào tạo phổ cập kiến thức cho công chúng dưới các hình thức khác nhau, làm cho
công chúng đầu tư, các doanh nghiệp hiểu được các nội dung của thị trường chứng
khoán , các nghiệp vụ liên quan, thậm chí cần trang bị các kiến thức về đầu tư, về
rủi ro và biện pháp phòng ngừa cũng như khả năng phân tích dự báo tình hình biến
động của thị trường chứng khoán .
Ngoài việc đầu tư trên thị trường chứng khoán,nhà đầu tư trong nước còn đa
dạng hoá các hình thức đầu tư của mình như đầu tư vào vàng,ngoại tệ,bất động
sản…tạo điều kiện kích thích sự tăng trưởng kinh trong nước.
1.1.2. Đầu tư của nước ngoài vào nước ta
Lao Động Cuối tuần số 04 Ngày 27/01/2008 Cập nhật: 6:44 AM, 24/01/2008
(LĐCT) - Ngày 24.1.2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị tổng kết 20
năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong 20 năm vốn đăng ký đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam đạt 98 tỉ USD với khoảng 9.500 dự án, vốn đầu tư được thực hiện đạt
hơn 43 tỉ USD.
Khu vực đầu tư nước ngoài đã đóng góp hơn 17% GDP, 16% tổng đầu tư xã
hội, đã tạo ra hàng trăm ngàn việc làm. Đầu tư nước ngoài đã có đóng góp to lớn
vào sự phát triển ngoạn mục của Việt Nam trong 20 năm qua.
5
Đầu tư nước ngoài vào VN tiếp tục tăng
(NLĐ)- Theo Cục Đầu tư nước ngoài, 10 tháng đầu năm 2008, cả nước thu
hút được 59,31 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các dự án tập trung
chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng với 55,7%; dịch vụ 43,9%.
Tính riêng tháng 10, đã có 22 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn đầu tư là
169 triệu USD, đưa tổng dự án tăng vốn 10 tháng đầu năm 2008 là 247 lượt dự án với
tổng vốn đầu tư đăng ký tăng thêm là 1,02 tỉ USD. Cục Đầu tư nước ngoài đánh giá:
Vốn FDI tiếp tục đổ vào VN bất chấp tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Điều
đó chứng tỏ nhà đầu tư nước ngoài vẫn đặt niềm tin vào thị trường VN.
1.1.3. Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài
Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, 5 tháng đầu
năm 2007, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 15 dự án với số vốn
đăng ký gần 90 triệu USD, nâng tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam
lên 200 dự án, tổng vốn trên 1 tỷ USD.
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực thăm dò, khai
thác dầu khí, sản xuất hàng gia dụng, vật liệu xây dựng, nông-lâm-ngư nghiệp và
dịch vụ.
Trong số 33 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư của doanh nghiệp Việt
Nam thì Lào chiếm tới 70 dự án, với số vốn đăng ký 461 triệu USD, chiếm 44,7%
tổng vốn đăng ký.
Cục Đầu tư nước ngoài đánh giá, nhìn chung các dự án đầu tư ra nước
ngoài đã bước đầu được triển khai hiệu quả. Ngày càng có nhiều doanh nghiệp có
kế hoạch đầu tư ra nước ngoài để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên,
số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ.
Cục Đầu tư nước ngoài dự báo, năm nay, vốn đầu tư ra nước ngoài của các
doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt 300 triệu USD, chủ yếu là vào các thị trường
quen thuộc, trong đó có Lào.
(Theo TTXVN)
- Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng
Mặc dù tình hình trong nước và quốc tế có nhiều khó khăn, song theo báo cáo của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH - ĐT) về tình hình đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN)
của Việt Nam trong 10 tháng năm 2008, xu hướng ĐTRNN của Việt Nam sẽ tiếp
tục gia tăng.
Theo báo cáo của Bộ KH – ĐT, trong 10 tháng năm 2008 đã có 52 dự án do các
doanh nghiệp Việt Nam ĐTRNN với tổng số vốn đầu tư đăng ký (kể cả cấp mới và
tăng vốn) trên 502,7 triệu USD. Quy mô vốn đầu tư trung bình đạt 9,66 triệu USD/
dự án.
Trong đó, các dự án ĐTRNN tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp với
24 dự án, tổng vốn đầu tư là 239 triệu USD, chiếm 46,1% số dự án và 75,5% tổng
vốn đầu tư. Tiêu biểu có dự án của Công ty cổ phần hợp tác kinh tế Việt – Lào đầu
tư xây dựng nhà máy thủy điện Nậm Mô (Lào) với tổng vốn đầu tư 142,09 triệu
USD.
6
Về địa bàn, Lào vẫn là quốc gia dẫn đầu về đầu tư Việt Nam ra nước ngoài với 13
dự án, tổng vốn đầu tư là 137,3 triệu USD.
Dự báo tổng số vốn đăng ký ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam trong năm
2008 bao gồm cả tăng vốn sẽ đạt khoảng 800 triệu USD, trong đó vốn thực hiện
khoảng 400 triệu USD.
(Nguồn: Website Đảng Cộng sản VN)
1.2. Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu đầu tư ở Việt nam
hiện nay
1.2.1. Lợi nhuận kỳ vọng
Theo lý thuyết Keynes
_ một trong hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh
nghiệp là Lợi nhuận kì vọng(LNKV).Nếu LNKV tăng:nhà đầu tư sẽ mở rộng quy
mô đầu tư và ngược lại LNKV giảm:nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô đầu tư
_Keynes còn đưa ra thuật ngữ liên quan đến LNKV:Hiệu quả cận biên của
vốn đầu tư (hay tỉ suất lợi nhuận biên)=số đồng lợi nhuận tăng thêm khi tăng thêm
1 đồng vốn đầu tư.Thuật ngữ này có xu hướng giảm dần bởi rất nhiều nguyên
nhân.Trong đó hai nguyên nhân chính làm cho tỉ suất lợi nhuận biên có xu hướng
giảm dần là:
.Khi đầu tư tăng nhu cầu nguyên vật liệu máy móc tăng =>Giá nguyên
vật liệu tăng (giả định giá bán 1 sản phẩm không thay đổi)=>Lợi nhuận trên một
đơn vị sản phẩm giảm =>Tỉ suất lợi nhuận giảm
.Cung hàng hóa dịch vụ ngày càng tăng=> Giá sản phẩm giảm(giả sử
chi phí ban đầu không thay đổi)=>Lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm giảm =>Tỉ
Suất lợi nhuận biên giảm
Chính vì hiểu được tỉ suất lợi nhuận có xu hướng giảm nên các doanh nghiệp
thường xuyên phải linh động thay đổi hình thức quản ly cũng như quy mô đầu tư
sao cho phù hợp nhất.
_Các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư không căn cứ vào tỉ suất lợi nhuận
theo cách tính thông thường mà dựa vào tỉ suất lợi nhuận biên của vốn.Họ chỉ tiếp
tục đầu tư khi mà tỉ suất lợi nhuận biên của vốn còn lớn hơn tỉ lệ lãi suất tiên
vay.Có nghĩa là phải thấu được cái lợi chắc chăn trước mắt thi họ mới quyết định
mở rộng đầu tư.Trong thực tế Tỉ suất lợi nhuận là đại lượng khó xá định nhưng
chính đại lượng khó xác định này lại là động lực thúc đẩy các nhà đầu tư bỏ vốn để
đầu tư.Bởi lẽ tỉ suất lợi nhuận chỉ là mong muốn của họ đạt được sau khi kết thúc
quá trình đầu tư. Nên không thể dự đoán chính xác đại lượng này bằng bao nhiêu
khi mà hoạt động đầu tư chưa xảy ra.
12.2. Lãi suất tiền vay
Lãi suất tiền vay chính là giá của khoản vốn vay.Vì thế nó cũng được coi là chi
phí đầu tư ban đầu và có ảnh hưởng trực tiếp tơi quyết định đầu tư của doanh
nghiệp.
7
Nếu giá của vốn vay nhỏ hơn tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư thì nhà đầu tư sẽ mở rộng
quy mô và ngược lại nếu giá của vốn vay lớn hơn tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư thì
nhà đầu tư sẽ cắt giảm quy mô đầu tư.
1.2.3. Sản lượng quốc gia
Xuất phát tư công thức(đã nêu ở 2.3 phần II chương 1) ta thấy hoạt động đầu
tư va sản lượng quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp tới nhau. Ở đây ta xem xét sự thay
đổi của sản lượng quốc gia sẽ tác động đến hoạt động đầu tư như thế nào.
Sản lượng quốc gia tăng ( với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi) sẽ là
nhân tố cơ bản làm tăng quy mô vốn đầu tư.Thực tế chứng minh rằng khi mà nên
kinh tế đang trong đà phát triển (hay đang trong giai đoạn phục hồi) thì các nhà đầu
tư sẽ mở rộng quy mô đầu tư.( xem cụ thể trong phần chu kì kinh tế). Và ngược lại
khi sản lượng quốc gia giảm (với điệu kiện các yếu tố khác không thay đổi) là nhân
tố cơ bản làm giảm quy mô vốn đầu tư vì các nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô đầu tư.
Tuy nhiên tốc độ tăng của sản lượng quốc gia và tốc độ tăng quy mô vốn đầu
tư không giống nhau. Khi sản lượng nền kinh tế thay đổi thì vốn đầu tư thay đổi
theo cùng chiều nhưng tốc độ thay đổi của vốn đầu tư lớn hơn nhiều lần so với sự
thay đổi sản lượng.Cụ thể khi doanh thu tăng thêm i% thì vốn đầu tư phải tăng
thêm 1 số j lớn hơn i rất nhiều lần vì để sản xuất thêm 1 đơn vị sản phẩm thì tiêu
tốn rất nhiều nguồn lực nên tổng số vốn để sản xuất ra 1đơn vị sản phẩm đó là rất
nhiều và ngược lại.
1.2.4. Tổng đầu tư xã hội
Tổng đầu tư xã hội= Đầu tư của nhà nước+ Đầu tư của doanh nghiệp
Theo tổng cục Thống kê, khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm
2007 theo giá thực tế ước tính vốn khu vực nhà nước 200.000 tỉ đồng, chiếm 43,3%
tổng vốn và tăng 8,1%; vốn khu vực ngoài nhà nước 187.800 tỉ đồng, chiếm 40,7%
và tăng 24,8%. Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện chín tháng đầu năm khu vực nhà
nước 162.200 tỉ đồng, tăng 8%; khu vực ngoài nhà nước 118.500 tỉ đồng, giảm
9,6%. Số liệu này chứng tỏ, khu vực nhà nước sử dụng vốn ít hiệu quả hơn xét trên
khía cạnh tạo công ăn việc làm, trong khi tiếp tục có nguồn vốn đầu tư ổn định
Trong hai bộ phận trên thì đầu tư của nhà nước là khởi nguồn cho đầu tư của
doanh nghiệp. có thể thấy rõ nhận định này khi xem xét vai trò của Chính phủ- kim
chỉ nam, lực lượng đi đầu, định hướng cho tất cả các thành phần kinh tế khác.
Thứ nhất, với những khu vực kinh tế mới, những ngành kinh tế mới, doanh
nghiệp chưa đủ khả năng thực hiện quá trình đầu tư
Thứ hai, rủi ro của những khu vực kinh tế, ngành kinh tế mới này thường
không thể dự đoán trước được.
Thứ ba, đầu tư Nhà nước, đầu tư công luôn luôn cần thiết vì chúng ta không
thể trông chờ tất cả vào khu vực kinh tế tư nhân trong phát triển các công trình, dự
án trọng điểm, cần rất nhiều vốn như đường sá, cầu, cảng…
Vì vậy nhà nước phải là lực lượng đầu tiên thực hiện đầu tư vào các khu vực
kinh tế mới này thông qua việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng ban đầu để phục
vụ cho quá trình đầu tư. Chính phủ phải tạo ra một môi trường thuận lợi như cung
8
cấp các khoản vay ưu đãi, có các chính sách thuế khuyến khích khu vực kinh tế tư
nhân phát triển… Việc sử dụng chính sách tiền tệ quá thắt chặt sẽ khiến nó giết
chết sáng kiến của khu vực kinh tế tư nhân. Và khi thực hiện những chính sách tài
khóa cũng phải làm thế nào để không hạn chế thái quá việc đầu tư của khu vực kinh
tế tư nhân.
-Về đầu tư của nhà nước:
Như đã nói ở trên, đầu tư Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế, là khởi nguồn cho đầu tư của doanh nghiệp. Thực tế hiện
nay cho thấy các chương trình kinh tế trọng điểm, công trình xây dựng lớn đều
được Nhà nước đầu tư.
Tuy nhiên Có một điều ai cũng nhận ra là đầu tư sai hầu hết là đầu tư nhà nước.
Nên một trong những biện pháp quan trọng là phải giảm đầu tư nhà nước, tạo điều
kiện, mở rộng lĩnh vực cho đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài tăng. Nhà nước sẽ
chuyển dần nhiệm vụ, chủ yếu là qui hoạch, còn đầu tư là quyền của các chủ thể
kinh tế. Nhà nước nên chủ động thu hẹp lĩnh vực đầu tư nhà nước, tránh ôm đồm.
Nguồn vốn trong dân còn rất nhiều, người ta phải đầu tư gián tiếp lên thị trường
chứng khoán vì đầu tư trực tiếp bị khống chế bởi nhà nước
Kinh tế nhà nước chủ đạo không có gì để bàn. Nhưng bên cạnh phải xác định
kinh tế tư nhân là chủ lực. Chủ đạo không có chủ lực thì không.
- Đầu tư của doanh nghiệp:
Đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh, trở
thành nguồn tạo công ăn việc làm chủ yếu cho nền kinh tế, trong khi kinh tế nhà
nước ngày càng giảm tỷ trọng trong GDP.
Thứ nhất, mặc dù số lượng và vốn đầu tư của DN tăng đáng kể, song quy mô
của DN vẫn còn nhỏ và tăng trưởng chậm. Theo thống kê của CIEM, Việt Nam
hiện có tới 80% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng
Yếu về quy mô, những chỉ số khác đều cho thấy, DN Việt Nam còn phải phấn
đấu nhiều, tăng trưởng tài sản DN đạt tốc độ trung bình 18,2%/năm, tăng trưởng
vốn chủ sở hữu khiêm tốn hơn với 14,7%/năm, tăng trưởng về doanh thu đạt
17,5%/năm, còn tăng trưởng về lợi nhuận chỉ đạt 13%/năm.
Doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã
đóng góp tích cực vào việc thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động. Theo nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Quang A, trong bảy năm tính từ
2000, số việc làm mới được tăng thêm là 3.180.000 người. Con số này là nhờ khối
doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước ngoài, trong đó, khối tư nhân tạo ra 2.329.000
người và khối có vốn nước ngoài là 1.037.000 người. Khối doanh nghiệp nhà nước
trong bảy năm đó không tạo thêm việc làm mới mà còn mất đi hơn 181.000 việc
làm.
Điều đó chứng tỏ việc phát triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
khác là một định hướng đúng và không chỉ có hiệu quả về kinh tế mà còn có hiệu
quả lớn hơn về mặt xã hội. Cần tạo môi trường thông thoáng hơn và khuyến khích
việc thành lập doanh nghiệp ngoài nhà nước.
9
Ngoài ra vốn trung bình tạo một việc làm mới cho khối tư nhân là 0,25 tỉ
đồng/chỗ làm, trong khi con số tương ứng ở khối doanh nghiệp nhà nước là 0,84 tỉ
đồng. Đánh giá khái quát, ông Nguyễn Quang A chỉ ra, khối doanh nghiệp nhà
nước tuy chỉ có chưa tới 5% tổng số lao động cả nước nhưng lại sử dụng gần 1/2
tổng đầu tư xã hội và chỉ đóng góp 37% vào GDP của năm 2006.
Mô hình tốt nhất mà tôi nghĩ VN nên áp dụng là xây dựng quan hệ đối tác giữa
đầu tư công và đầu tư tư nhân, kết hợp hai nguồn vốn này để cùng nhau xây dựng
đất nước”- ông Supachai Panitchpakdi- Tổng thư ký về thương mại và phát triển
của Liên hiệp quốc nhận định.
Tất nhiên, kinh tế tư nhân cũng phải tự thúc đẩy kinh doanh, đa dạng hóa hình
thức kinh doanh cũng như cơ cấu hàng xuất khẩu của mình. Theo tôi, các sản phẩm
của Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung có đầy đủ khả năng để tiếp cận với
nhiều thị trường trên thế giới
1.2.5. Chu kỳ kinh tế
• Chu kỳ kinh tế là những biến động không mang tính quy luật. Không có hai
chu kỳ kinh tế nào hoàn toàn giống nhau và cũng chưa có công thức hay phương
pháp nào dự báo chính xác thời gian, thời điểm của các chu kỳ kinh tế. Chính vì
vậy chu kỳ kinh tế, đặc biệt là pha suy thoái sẽ khiến cho cả khu vực công cộng lẫn
khu vực tư nhân gặp nhiều khó khăn. Khi có suy thoái, sản lượng giảm sút, tỷ lệ
thất nghiệp tăng cao, các thị trường từ hàng hóa dịch vụ cho đến thị trường
vốn thu hẹp dẫn đến những hậu quả tiêu cực về kinh tế, xã hội.
Một số lý thuyết chính lý giải nguyên nhân của chu kỳ kinh tế là:
• Lý thuyết tiền tệ: cho rằng chu kỳ kinh tế là do sự mở rộng hay thắt chặt của
chính sách tiền tệ và tín dụng. Đại diện tiêu biểu của lý thuyết này là nhà kinh tế
học đoạt giải Nobel kinh tế năm 1976, người đứng đầu trường phái Chicago Milton
Friedman. Lý thuyết này tỏ ra phù hợp với cuộc suy thoái của kinh tế Hoa Kỳ
1981-1982 khi Cục Dự trữ Liên bang tăng lãi suất danh nghĩa tới 18% để chống
lạm phát.
• Mô hình gia tốc - số nhân: do Paul Samuelson đưa ra, mô hình này cho rằng
các biến động ngoại sinh được lan truyền theo cơ chế số nhân kết hợp với sự gia tốc
trong đầu tư tạo ra những dao động có tính chu kỳ của GDP.
• Lý thuyết chính trị: đại diện là các nhà kinh tế học William Nordhaus,
Michał Kalecki, Lý thuyết này quy cho các chính trị gia là nguyên nhân gây ra
chu kỳ kinh tế vì họ hướng các chính sách tài khóa và tiền tệ để có thể thắng cử.
• Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng: với những đại diện như Robert
Lucas, Jr., Robert Barro, Thomas Sargent phát biểu rằng những nhận thức sai lầm
về sự vận động của giá cả, tiền lương đã khiến cho cung về lao động quá nhiều
hoặc quá ít dẫn đến các chu kỳ của sản lượng và việc làm. Một trong những phiên
bản của lý thuyết này là tỷ lệ thất nghiệp cao trong suy thoái là do mức lương thực
tế của công nhân cao hơn mức cân bằng của thị trường lao động.
• Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế: lập luận rằng những biến động tích cực
10
hay tiêu cực về năng suất lao động trong một khu vực có thể lan tỏa trong nền kinh
tế và gây ra những dao động có tính chu kỳ. Những người ủng hộ lý thuyết này là
nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 2004 Edward Prescott, Charles Prosser,
Nắm vững những đặc điểm của từng pha trong chu kì kinh tế mà các doanh
nghiệp có thể lựa chọn thời điểm đầu tư cho phù hợp
Ở pha suy thoái khi mà GDP thực tế giảm đi, đồng nghĩa với việc thu nhập xã hội
giảm. Chính vì lí do này làm cho lợi nhuận kì vọng giam đi.Một khi lợi nhuận lì
vọng giảm đi(như đã phan tích ở trên)thi các nhà đầu tư sẽ thu hẹp quy mô sản
xuất.Và đây chính là nguyên nhân của tình trạng đầu tư bị trì trệ khi nền kinh tê
lâm vào suy thoái.
Ngược lại các nhà đầu tư sẽ mở rộng quy mô đầu tư khi nên kinh tê đang ở giai
đoạn phục hồi và hưng thịnh bởi họ hi vọng quá trình đầu tư trong thời điểm này sẽ
mang lại hiệu quả cao.Như vậy các nhà đầu tư sẽ ồ ạt đầu tư,làm cho nên kinh tê
phát triển qua nong.Kết quả của một nền kinh tế phát triển quá nóng sẽ là sự suy
thoái.Bởi lẽ giai đoạn cuối của pha hưng thịnh trong chu ki kinh tế là pha suy thoái.
Các nha đầu tư cân dưng quá trình mở rộng đầu tư khi mà nên kinh tê ở dã phát
triển quy hưng thịnh
Như vậy là chu kì kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đầu tư của doanh
nghiệp.Chính vì vậy khi ra quyết đinh đầu tư doanh nghiệp phải chú ý rất lớn đến
thời điểm quyết định mở rộng hay thu hẹp quy mô đầu tư.
Ngày nay các chuyên gia kinh tế đã tìm cách xây dựng và phát triển công cụ dự báo
những thay đổi trong nền kinh tế. Những mô hình đơn giản nhất dựa trên số liệu dễ
thu thập như sản lượng một số tư liệu sản xuất quan trọng (thép, ), khối lượng
hàng hóa vận chuyển rồi công thức hóa số liệu thống kê để đưa ra chỉ số có tính
chất dự báo. Dần dần, với sự phát triển của công nghệ thông tin, người ta đã xây
dựng những mô hình kinh tế lượng phức tạp với hàng chục nghìn biến số cùng
những hệ phương trình phức tạp để dự báo. Đi tiên phong trong sự phát triển công
cụ dự báo là những nhà kinh tế học Jan Tinbergen (giải Nobel năm 1969),
Lawrence Klein (giải Nobel năm 1980). Nhờ đó, dự báo biến động kinh tế vĩ mô đã
có độ tin cậy lớn hơn mặc dù nó chưa đạt độ chính xác cao khi có những thay đổi
về những chính sách lớn. Đây có thê coi là sự hỗ trợ đắc lực giúp các nhà đầu tư có
thê dự đoán được sư biến động của nền kinh tế để đưa ra những quyết định đầu tư
đúng đắn nhất
II. Thực trạng về kích cầu đầu tư ở Việt Nam
2.1. Kích cầu đầu tư của nước ngoài ở Việt Nam
2.1.1 Cấp phép đầu tư từ 1988 đến 2007:
Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép
đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự
án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn
hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Biểu đồ tình hình cấp chứng nhận đầu
tư tại Việt Nam có sự biến động (xem tại Phụ lục).
11
Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
Việt Nam nên kết quả thu hút vốn ĐTNN còn ít (214 dự án với tổng vốn đăng ký
cấp mới 1,6 tỷ USD), ĐTNN chưa tác động đến tình hình kinh tế-xã hội đất nước.
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn ĐTNN đã tăng lên (1.409 dự án với tổng vốn
đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD) và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế-xã hội
đất nước. Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại Việt Nam
(có thể coi như là “làn sóng ĐTNN” đầu tiên vào Việt Nam) với 1.781 dự án được
cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD. Đây
là giai đoạn mà môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà
đầu tư do chi phí đầu tư-kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; sẵn lực
lượng lao động với giá nhân công rẻ, thị trường mới, vì vậy, ĐTNN tăng trưởng
nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần kinh tế khác và đóng góp tích
cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước. Năm 1995 thu hút
được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996
thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký
hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ
bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án
có quy mô vốn vừa và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp
phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư
gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc, Hồng Kông).
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu
phục hồi chậm. Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với
năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm,
chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ USD), tăng 6% so với năm
2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với
năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ
lục trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi
so với năm 1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ
USD vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của
Chính phủ
1[2]
, vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn
chung trong 5 năm 2001-2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao
hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là các dự án có quy
mô vừa và nhỏ. Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã
tăng đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư
chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ
cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công nghệ thông tin, du lịch-dịch vụ
cao cấp .v.v.). Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng ĐTNN” thứ hai vào Việt
Nam.
1
12
2.1.2 Tình hình tăng vốn đầu tư (1988-2007):
Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động
có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, tăng thêm vốn đầu tư, nhất là
từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt dự án tăng vốn
đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu tư đăng
ký cấp mới.
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh
nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm
1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước
(4,17 tỷ USD). Giai đoạn 2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt
18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng 69% so với 5 năm trước. Trong đó, lượng vốn
đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến
2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%.
Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công
nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995 ; 65,7% trong
giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006
và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm.
Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư châu Á (59%) nên trong số vốn tăng
thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất 66,8%
trong giai đoạn 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000, đạt 70,3% trong
thời kỳ 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 72,1% và 80%.
Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh
tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm phía Nam
chiếm 55,5% trong giai đoạn 1991-1995 ; đạt 68,1% trong thời kỳ 1996-2000 và
71,5% trong giai đoạn 2001-2005. Trong 2 năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là
71% và 65%. Vùng trọng điểm phía Bắc có tỷ lệ tương ứng là 36,7%; 20,4% ;
21,1% ; 24% và 20%.
Qua khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản -JETRO tại Việt
Nam có trên 70% doanh nghiệp ĐTNN được điều tra có kế hoạch tăng vốn, mở
rộng sản xuất tại Việt Nam. Điều này chứng tỏ sự tin tưởng và an tâm của nhà
ĐTNN vào môi trường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam.
2.1.3. Quy mô dự án :
Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng tài
chính cũng như sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư Việt
Nam. Quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các giai
đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997.
Thời kỳ 1988-1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án/
năm. Từ mức quy mô vốn đăng ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệu USD
trong giai đoạn 1991-1995 đã tăng lên 12,3 triệu USD/dự án trong 5 năm
1996-2000. Điều này thể hiện số lượng các dự án quy mô lớn được cấp phép trong
giai đoạn 1996-2000 nhiều hơn trong 5 năm trước. Tuy nhiên, quy mô vốn đăng ký
trên giảm xuống 3,4 triệu USD/dự án trong thời kỳ 2001-2005. Điều này cho thấy
13
đa phần các dự án cấp mới trong giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa
và nhỏ. Trong 2 năm 2006 và 2007, quy mô vốn đầu tư trung bình của một dự án
đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có quy mô lớn đã tăng lên so với thời
kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn đa quốc gia đầu tư vào một
số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio ).
2.1.4. Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến 2007:
ĐTNN phân theo ngành nghề :
- Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng:
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng
thu hút ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực
ưu tiên thu hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các lĩnh
vực khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư. Trong những năm 90 thực hiện
chủ trương thu hút ĐTNN, Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích
các dự án : (i) sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất
khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu
trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao.
Sau khi gia nhập và thực hiện cam kết với WTO (năm 2006), Việt Nam đã
bãi bỏ các quy định về ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu
bắt buộc thực hiện tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước. Qua các
thời kỳ, định hướng thu hút ĐTNN lĩnh vực công nghiệp- xây dựng tuy có thay đổi
về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng cơ bản vẫn theo định hướng khuyến khích sản
xuất vật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo,
thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử Đây cũng chính
là các dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợi thế so sánh khi
thu hút ĐTNN. Nhờ vậy, cho đến nay các dự án ĐTNN thuộc các lĩnh vực nêu trên
(thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm
điện và điện tử, sản xuất sắt thép, sản xuất hàng dệt may ) vẫn giữ vai trò quan
trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu và tạo nhiều việc làm và nguồn
thu nhập ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp. Cơ cấu đầu tư có chuyển biến
tích cực theo hướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và
công nghệ thông tin (IT) với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế
giới: Intel, Panasonic, Canon, Robotech.v.v. Hầu hết các dự án ĐTNN này sử dụng
thiết bị hiện đại xấp xỉ 100% và tự động hoá đạt 100% cho sản lượng, năng suất,
chất lượng cao, do đó có ảnh hưởng lớn đến các chỉ tiêu giá trị của toàn ngành.
Tính đến hết năm 2007, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn
nhất với 5.745 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 50 tỷ USD, chiếm 66,8%
về số dự án, 61% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét