Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Báo cáo tại Cty Vật tư tổng hợp Hà Tây

Báo cáo thu hoạch thực tế
Tháng 9/2002: Lợng than khai thác 1323000 tấn.
Luợng đất đá bóc 8420000 tấn.
Năm 1980 theo nh tính toán của Liên Xô toàn bộ đất dá thải của khu Cao
Sơn chủ yếu đổ ra bãi thải đông Cao Sơn (353,7trm
3
) phần còn lại đổ ra bãi thải
tây Cao Sơn (25trm
3
). Nhng do thiết kế chỉ mới xem xét riêng lẻ từng mỏ chứa ch-
a xem xét trên phơng diện tổng thể, việc phát triển khai thác ở mỏ này sẽ ảnh hởng
đến các mỏ lân cận cha đợc xem xét. Mặt khác qua quá trình khai thác và thăm dò
bổ xung cho thấy cấu tạo địa chất mỏ có nhiều thay đổi cần xem xét điều chỉnh
biên giới khai thác mỏ nhằm tối đa tài nguyên than đợc khai thác bằng phơng pháp
lộ thiên. Bãi thải Đông Cao Sơn Và Tây Cao Sơn cha đợc mở rộng diện đổ thải do
còn tồn tại một số mỏ và công trờng khai thác: Bắc quảng lợi, H12 Mông D-
ơng,Công trờng Yên Ngựa- Thống nhất
Địa hình ở mỏ Cao Sơn chủ yếu là đồi núi trọc nên trong quá trình khai thác
để tìm đợc vị trí đổ thải đất đá là không khó. Bên cạnh đó sau khi khai thác vấn đề
hoàn nguyên đã giải quyết đợc rất nhiều lợng đất đá bóc giỡ từ các dây truyền
khác. Nhng vẫn cha thể giải quyết triệt để lợng đất đá bốc dỡ. Một số nơi đất đá có
thể đổ thải đợc nhng vấn đề đặt ra là bãi thải đó đã phù hợp, hợp lý hay cha. Trớc
mắt có thể giải quyết đợc vấn đề đổ thải nhng về lâu dài, về môi trờng, về độ an
toàn thì nh thế nào.
Do đặc thù của tỉnh Quảng Ninh là phát triển công nghiệp khai thác và du
lịch cho nên vấn đề đổ thải không hợp lý sẽ là một trong những nguyên nhân kìm
hãm phát triển du lịch. Trong quá trình khai thác lợng thải đã làm gây ô nhiễm
nguồn nớc, không khí làm ảnh hởng đến sức khoẻ ngời dân. Bây giờ khi nhắc
đến Quảng Ninh, ấn tợng trong một số ngời là tiếng ồn của công trờng khai thác,
sàng tuyển, tiếng nổ mìn, tiếng ô tô chạy, bụi than mù trời một số nhà dân sống
gần mỏ than bị bao phủ một lớp bụi than, đoạn đờng có xe công trờng đi qua bụi
mù mịt. Dự tính hàng năm sản lợng khai thác than sẽ tăng lên nhằm đáp ứng nhu
cầu tiêu thụ và xuất khẩu, bên cạnh đó lợng đất đá bóc ra sẽ tăng lên rất nhiều.
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
5
Báo cáo thu hoạch thực tế
Kết luận và kiến nghị
Mỏ Than Cảo Sơn là mỏ than lớn trong vùng than Cẩm Phả. Việc phát triển
của mỏ không chỉ có ý nghĩa trong nội bộ mà nó còn có ý nghĩa rất lớn cho vùng,
tỉnh và đất nớc. Ngoài ra hoạt động của Mỏ phải gắn lièn với các hoạt động chung
của thị xã Cẩm Phả. Các hoạt động tơng tác hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển
cũng nh làm hạn chế nhau. Thị xã Cẩm Phả là một vùng đất ven biển với sự kết
hợp hài hoà giữa các nhân tố sông suối, đồi núi, đồng bằng. Chúng có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Trong các hệ thống đó nếu có một hệ tống thay đổi thì kéo
theo các hệ thống khác cũng ảnh hởng theo. Vì vậy việc khai thác than của mỏ
than Cao Sơn không phải chỉ là vấn đề nội bộ của Công ty than Cao Sơn hay Tổng
Công ty Than mà nó là vấn đề của cả cộng đồng. Điều này có nghĩa là giải quyết
mẫu thuẫn về lợi ích giữa các ngành nghề.
Từ những nhận định đó. Khi xem xét tổng quan về mỏ than Cao Sơn chúng
ta thấy có rất nhiều vấn đề cập nhật môi trờng lao động, vấn đề đổ thải cần phải
có giải pháp phù hợp.
Cụ thể qua hiện trạng về đổ thải ở mỏ than Cao Sơn chúng ta thấy có nhiều
vấn đề cấp bách cần đợc giải quyết. Việc đổ thải không phải là vấn đề có thể giải
quyết ngay một lúc đợc mà đòi hỏi cần phải có thời gian.
Để cho quá trình khai thác và đổ thải diễn ra thuận lợi đòi hỏi phải có tổ
chức đứng ra giải quyết tìm nơi đổ thải sao cho có tính khoa học, đúng đắn tránh
tình trạng sau một thời gian nữa chúng ta lại phải đối đầu với vấn đề hôm nay.
Vấn đề cũ không những đợc giải quyết lại nảy sinh thêm vấn đề mới phức tạp, rắc
rối hơn.
Than thì có thể đi tiêu thụ đợc còn đất đá thải sẽ đọng lại và chúng ta
không thể bỏ mặc đợc. Vì vậy để khắc phục tình trạng nh hiện nay khi xây dựng
bãi thải cần phải:
- Có chuyên gia có kinh nghiệm hớng dẫn
- Phải tính toán trên phơng diện toàn diện.
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
6
Báo cáo thu hoạch thực tế
- Tính các tác động tích cực và tiêu cực có thể xảy ra
- Bãi thải phải có tuổi thọ lâu dài, thích nghi với một số biến đổi
- Bố trí bãi thải phải phù hợp, thuận tiện cho quá trình đổ thải.
- Đầu t hợp lý cho quá trình xây dựng bãi thải.
- Phải có ngời quản lý phù hợp.
Do việc đi thực tế trong thời gian ngắn, khi đến các nhà máy - xí nghiệp thì
chỉ đợc nghe báo cáo tổng hợp tóm tắt các vấn đề chứ không đợc đi sâu vào chi
tiết cụ thể. Khi đi tham quan thực tế tuy đợc tận mắt nhìn thấy các công việc nhng
cha hiểu đợc bản chất công việc cụ thể nh thế nào? Nên những gì ghi chép và nhìn
nhận đợc còn hạn chế, không tránh khỏi sai sót và nhầm lẫn. Rất mong sự đóng
góp và giúp đỡ của các thầy cô.
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
7
Báo cáo thu hoạch thực tế
phân tích sự mâu thuẫn giữa sự phát triển du lịch và sự phát triển của
ngành than tại quảng ninh. Nêu giải pháp khắc phục
Lời nói đầu
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới vừa có phần đất liền rộng lớn vừa có vùng hải
đảo bao la với hàng ngàn hòn đảo lớn, nhỏ nhấp nhô trên biển và là một cửa ngõ quan
trọng của nớc ta cả về đờng bộ và đờng thuỷ nên có thể dễ dàng vào vùng đồng bằng
sông Hồng hay ra thế giới bên ngoài. Với vị trí địa lý giáp với bốn tỉnh : phía Nam giáp
với Hải Phòng, phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ với đờng bờ biển dài trên 200 km, phía
Tây giáp với Lạng Sơn và Bắc Giang còn phía Đông giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung
Quốc nên Quảng Ninh giữ một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã
hội và ổn định chính trị của nớc ta. Quảng Ninh còn là cửa mở lớn cho các nớc để
chuyển tải hàng hoá xuất nhập khẩu đồng thời có khả năng thiết lập mối quan hệ hàng
hải, hàng không với các nớc trong khu vực Đông Nam á và trên thế giới.
Ngoài ra Quảng Ninh với vịnh Hạ Long, di sản thiên nhiên của nhân loại đợc
thế giới công nhận là di sản địa chất thế giới với hàng tram di tích lịch sử văn hoá và
là một trung tâm du lịch biển hàng đầu của Việt Nam. Cũng nhờ vào sự u đãi của thiên
nhiên ban tặng Quảng Ninh có điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch, phát triển
các cảng biển để trao đổi hàng hoá với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên là một bể than lớn nhất nớc ta, chiếm tới 90% trữ lợng than trên toàn
quốc nên ngành công nghiệp khai thác than cũng phát triển rất mạnh và cùng với quá
trình đó là quá trình làm suy thoái môi trờng tự nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái, cảnh
quan và ảnh hởng lớn đến ngành du lịch của Quảng Ninh.
Là một cử nhân kinh tế trong tơng lai tôi đã phần nào nhận thức đợc ở Quảng
Ninh du lịch và công nghiệp khai thác than là hai ngành mũi nhọn của Quảng Ninh.
Tuy nhiên sự khai thác than ồ ạt đã dẫn tới sự suy thoái về môi trờng và ảnh hởng rất
lớn đến ngành du lịch của Quảng Ninh. Với những kiến thức đã đợc học tại trờng tôi
nhận thấy rằng những rủi ro xảy ra đối với ngành du lịch và ngành công nghiệp khai
thác than là không thể tránh khỏi.
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
8
Báo cáo thu hoạch thực tế
Qua thời gian thực tế tại Quảng Ninh tôi nhận thấy rằng Quảng Ninh là một tỉnh
có lợi thế so sánh rất lớn về du lịch và ngành công nghiệp khai thác than. Tuy nhiên
vấn đề môi trờng của tỉnh cũng trở thành vấn đề đáng báo động đòi hỏi cần có sự quản
lý nhà nớc về môi trờng hơn nữa để Quảng Ninh trở thành một thành phố du lịch lón
nhất trên cả nớc và bảo vệ nguồn di sản thế giới đã ban tặng.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trờng ĐHKTQD và khoa KTMT
&QLĐT đã giúp chúng tôi có một kì thực tế đầy lý thú và bổ ích. Bản thân tôi đã tích
luỹ đợc rất nhiều kiến thức về chuyên ngành kinh tế môi trờng và nâng cao sự hiểu biết
về Quảng Ninh một tỉnh đầy triển vọng về du lịch và công nghiệp khai thác than của
Việt Nam.
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
9
Báo cáo thu hoạch thực tế
Nội dung
I. giới thiệu chung về tỉnh quảng ninh
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới lớn với diện tích 5.938 km
2
nằm ở phía
Đông Bắc của tổ quốc, tiếp giáp với bốn tỉnh và thành phố: phía Nam giáp Hải
Phòng, phía Tây giáp với Lạng Sơn, phía Tây Nam giáp với Hải Dơng và Bắc
Giang, phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ với đờng bờ biển dài trên 200 km. Đặc
biệt, phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Với vị trí địa lý thuận lợi
nh vậy sẽ là một lợi thế giúp cho Quảng Ninh mở cửa giao lu buôn bán hàng hoá,
đồng thời thiết lập mối quan hệ hàng hải, hàng không với các nớc khu vực Đông
á, Đông Nam á và trên thế giới. Ngoài vị trí địa lý thuận lợi, Quảng Ninh còn có
nguồn lực tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú : về địa hình,
Quảng Ninh là nơi tiếp giáp với miền nền và địa máng lại thuộc nhiều đới kiến tạo
có những đặc điểm khác nhau nên cấu trúc địa chất rất phức tạp, với đầy đủ các
dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển có cả hệ thống đảo và thềm lục địa.
Trong đó, biển và bờ biển lại là địa hình đặc trng và quan trọng của Quảng Ninh
với vùng biển rộng tới 6000 km
2
là phần phía tây Bắc của Vịnh Bắc Bộ. Đây là
vùng biển có nhiều đảo nhất Việt Nam, trên 3000 đảo lớn nhỏ. Về sinh vật, Quảng
Ninh có rừng nớc mặn đứng thứ hai cả nớc sau khu vực Tây Nam Bộ nhng cây
thấp và nhỏ hơn. Còn động vật, động vật trên cạn rát nghèo nàn nhng bù vào đó thì
động vật dới nớc lại khá phong phú : cả động vật nớc mặn và động vật nớc lợ là
hơn 1000 loài. Về khoáng sản, Quảng Ninh là một trong những tỉnh giàu tài
nguyên khoáng sản nhất trong cả nớc gồm có : than, quặng sắt, ăngtimoan, đặc
biệt chứa dầu, titan và các loại vật liệu xây dựng. Bể than Quảng Ninh là là bể than
lớn nhất nớc ta có trữ lợng 12 tỉ tấn , chiếm 90% trữ lợng than cả nớc. Bể than này
có khả năng khai thác 18 20 triệu tấn/năm. Chất lợng than của Quảng Ninh từ
lâu đã có tiếng vang trên thị trờng thế giới. Ngoài than, ở Quảng Ninh còn có một
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
10
Báo cáo thu hoạch thực tế
số mỏ khác : mỏ sắt Cái Bầu, Ăngtimoan Ba Chẻ, đá chứa dầu Đồng Ho
(Hoành Bồ), Titan Bình Ngọc(Móng Cái) Ngoài tài nguyên khoáng sản,
Quảng Ninh còn phải kể đến tiềm năng du lịch, danh lam thắng cảnh: Vịnh Hạ
Long, Bái Tử Long, Bãi Cháy, các di tích lịch sử văn hoá, các lễ hội truyền thống,
đặc biệt là di sản tự nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Nh vậy, với những nguồn lực sẵn có về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cộng
với vị trị địa lý thuận lợi, Quảng Ninh đã sử dụng một cách có hiệu quả nhằm phát
triển kinh tế với cơ cấu ngành đa dạng bao gồm cả Công Nông - Lâm Ng
nghiệp, Thơng mại, Du lịch và Dịch vụ (Quảng Ninh đă trở thành và xứng đáng là
một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của miền Bắc). Trong cơ cấu ngành phức tạp
nh vậy, Quảng Ninh luôn nổi bật trong đời sống kinh tế xã hội của nớc ta với hai
ngành kinh tế đặc thù: Công nghiệp khai thác than và Du lịch.
II. Những rủi ro có thể xảy ra đối với tàu du lịch tại vịnh Hạ Long và
tại cảng Cái Lân
Là một bến phà lớn nhất của tỉnh Quảng Ninh nằm cách Bãi Cháy cha đầy 2km.
Bến phà Quảng Ninh là một đầu mút đặc biệt quan trọng trong việc lu thông hàng hoá
giữa Quảng Ninh với các đảo, quần đảo lớn nhỏ nằm trong địa phận của tỉnh và thị xã
Hòn Gai trung tâm kinh tế của Quảng Ninh. Do Quảng Ninh có biển và địa hình bờ
biển rất đa dạng rộng tới 6000 km
2
. Vịnh có độ sâu không cao với nhiều đảo và quần
đảo chắn phía ngoài nên sống rất phẳng lặng, các đảo xếp thành hai dãy nối đuôi
nhautừ núi Ngọc đến Nam Hạ Long tạo nên phong cảnh rất nên thơ huyền ảo. Thêm
vào đó đờng bờ biển của Quảng Ninh tơng đối bằng phẳng đợc bồi tụ tạo nên các bãi
triền rộng lớn rất thích hợp cho sự phát triển của loại hình du lịch tắm biển, đặc biệt là
bãi biển Trà Cổ đợc coi là bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Chính vì những điều này mà số
lợng tàu du lịch đa đón khách du lịch qua lại ở vịnh ngày càng tăng lên. Theo báo cáo
điều tra năm 1992 tổng lợng khách du lịch tới Quảng Ninh là 96.510 ngời trong đó
khách quốc tế là 56.500 ngời cho đến năm 2000 tổng lợng khách du lịch lên tới
1.500.860 ngời trong đó khách quốc tế là 553.000 ngời. Qua các con số thống kê trên
ta có thể thấy rằng hàng năm khách du lịch tăng trung bình là 175.544 ngời, trong đó
số lợng khách quốc tế tăng lên đáng kể với 62.063 ngời. Với sự tăng lên về số lợng
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
11
Báo cáo thu hoạch thực tế
khách du lịch nh vậy thì số lợng tàu đa đón khách du lịch tăng lên là một tất yếu khách
quan.
Bến phà Quảng Ninh chủ yếu đa đón khách du lịch từ vịnh đi du ngoạn các đảo
và hang động. Nhng với số lợng tàu du lịch không ngừng tăng lên mà quy mô bến phà
không đợc mở rộng thì một câu hỏi đợc đặt ra là tới một lúc nào đó liệu có một sự cố
đáng tiếc nào đó xảy ra hay không?. Điều này là hoàn toàn có thể. Không những tàu du
lịch mà các loại tàu vận chuyển than, tàu đánh cá của ng dân thờng xuyên qua lại trên
vịnh đã taọ ra một phong cảnh hỗn độn trên vịnh. Với mức nớc không sâu nh vậy sự di
chuyển của các loại tàu thuyền là rất khó khăn và khó có thể tránh khỏi những va chạm
đáng tiếc.
Trên đây ta mới chỉ nêu lên những rủi ro đối với các loại tàu thuyền qua lại trên
vịnh mà cha để ý tới tác động của nó đối với các loại hình du lịch khác nh tắm biển. Do
mật độ mật độ tàu thờng xuyên qua lại trên vịnh cộng với mức nớc nông nh vậy thì hỏi
xem liệu Bãi Cháy có còn là một khu du lịch tắm biển lý tởng nữa hay không? Khi nớc
biển thờng xuyên bị khuấy đục, đó là cha kể tới những sự cố tràn dầu do các tàu lớn va
quệt nhau. Lợng khách du lịch không ngừng tăng lên cùng với quá trình phát thải sinh
hoạt do khách du lịch không có ý thức đến bảo vệ môi trờng. Khi qua lại trên vịnh và
đợc ngắm cảnh hoàng hôn trên biển điều đó thật thơ mộng mà không một ai không
muốn, nhng khi vô tình nhìn xuống mặt nớc biển hay bất cứ nơi nào trên bãi biển
chúng ta có thể nhận thấy ngay những loại vỏ hộp, đồ lon chai và các loại dác thải nằm
dải rác khắp mọi nơi. Nh vậy số lợng khách quốc tế tới Quảng Ninh sẽ tăng lên chăng?
Chúng ta cần nhớ rằng du lịch đợc coi là một ngành kinh tế mũi nhọn của Quảng Ninh
chiếm 47% tổng nguồn thu từ các hoạt động kinh tế của tỉnh. đứng trớc một tình cảnh
nh vậy thì thử hỏi xem khách du lịch quốc tế có còn muốn tiếp tục tới thăm quan một
nơi đợc coi là di sản văn hoá thế giới nữa hay không? Liệu một ngày nào đó Quảng
Ninh có còn là một trong những kì quan đợc hội đồng di sản văn hoá thế giới công
nhận là di sản thiên nhiên có sức hấp dẫn có một không hai ở Việt Nam hay không?
Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào các nhà quản lý. Phát triển du lịch là đúng đắn nhng
phải phát triển nh thế nào để vẫn giữ đợc cảnh quan của Quảng Ninh xứng đáng là một
di sản thiên nhiên của thế giới.
Cảng Cái Lân là cảng nớc sâu nhất miền Bắc có thể cho tàu trọng tải 40.000 tấn
ra vào bởi vậy cảng đợc coi là có khả năng đáp ứng các yêu cầu:
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
12
Báo cáo thu hoạch thực tế
Có độ sâu đủ lớn cho các tàu lớn ra vào
Cảng nằm trong vịnh Bãi Cháy nên rất kín gió và an toàn
Có nhiều diện tích trống để phát triển cảng lớn
Vì vậy việc xây dựng cảng Cái Lân sẽ góp phần giải quyết việc vận chuyển hàng
hoá xuất nhập khẩungày càng tăng nhanh trong nớc. Tuy nhiên cảng Cái Lân lại nằm
trong vùng tất nhạy cảm về môi trờng và cảnh quan du lịch vị trí tiếp giáp vịnh Hạ
Long nên mọi hệ quả về môi trờng đều ảnh hởng trực tiếp hay gián tiếp đến việc bảo
tồn khai thác vịnh Hạ Long.
Hiện nay cảng Cái Lân đã đợc nâng cấp và có thể tiếp nhận tàu trọng tải 27.000 tấn
chở 16.500 tấn hàng cập bến an toàn bốc dỡ hàng. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thế giới nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các nớc không ngừng tăng lên và
cảng Cái Lân là một vị trí thuận lợi cho các tàu chở hàng cập bến. Nguồn hàng xếp dỡ
chủ yếu là hàng dời nh than, lúa mì, dầu tuy nhiên hiện nay số l ợng tàu cập bến đã
quá tải, tàu đỗ dài hơn chiều dài của cầu là 20 m, có những tàu trở hàng quá tải lên tới
350.000 tấn. Với trọng lợng lớn nh vậy thì mức nớc tại đay không đủ sâu vì vậy việc
tàu bị mắc cạn là không thể tránh khỏi. Điều đáng lo ngại hơn là số lợng tàu trở hàng
cập bến không ngừng tăng lên mà hiện nay chỉ có cảng số 1 đang hoạt động còn lại
cảng 5, 6, 7 thì đầu năm 2003 mới đa vào hoạt động. Nh vậy số lợng tàu quá lớn thêm
vào đó trọng tải tàu quá nặng rất rễ gây ra những sự cố rủi ro đáng tiếc. Mặc dù cho tới
thời điểm hiện nay cha xảy ra tình trạng đắm tàu hay các tàu trở hàng va quệt với nhau
nhng không có nghĩa rằng những rủi ro trên sẽ không xảy ra khi số lợng tàu trở hàng
ngày một tăng lên. Đặc biệt hơn là đối với các loại tàu trở xăng, dầu sẽ là rất nghiêm
trọng khi có sự cố tràn dầu xảy ra. Nó sẽ làm ảnh hởng rẩ lớn đến ngành du lịch của
Quảng Ninh và đặc biệt nó sẽ huỷ hoại hệ sinh thái của vịnh Hạ Long một nơi đợc
coi là di sản thiên nhiên của thế giới.
Cảng Cái Lân đa vào khai thác, các ngành công nghiệp trong khu công nghiệp Cái
Lân phát triển vơí một tốc độ rất nhanh nh nhà máy chế biến thuỷ sản, bột mỳ, xi măng
để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hoá với các n ớc trong khu vực và trên thế
giới cũng là nguyên nhân làm cho số lợng tàu trở hàng ra vào cảng Cái Lân ngày một
tăng lên. Để làm hạn chế tới mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra dối với tàu du lịch
và tàu chở hàng đòi hỏi Nhà nớc cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ đối với các loại
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
13
Báo cáo thu hoạch thực tế
hình vận chuyển hàng hoá bằng đờng thuỷ đặc biệt là các tàu chở hàng có trọng tải lớn
nhằm hạn chế tới mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra cho môi trờng.
Tóm lại, trong quá trình phát triển ngành du lịch và ngành công nghiệp khai thác
than đã và đang gây ra những hậu quả tiêu cực đối với môi trờng sinh thái của Quảng
Ninh, đó là sự suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trờng. Vì vậy giải quyết mối quan
hệ hữu cơ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng là giải pháp có tầm chiến lợc tổng
thể và lâu dài với Quảng Ninh.
Khoa kinh tế quản lý môi trờng và đô thị
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét