-Đặc điểm:
+Cùng sở hữu về sản phẩm và khách hàng.
+Cùng chia sẻ cơ sở dữ liệu khách hàng.
+Cấp độ này đòi hỏi có sự cam kết mạnh mẽ và dài hạn từ hai phía về chiến lược phân
phối sản phẩm, về cơ sở vật chất…
-Ưu điểm:
+Có sẵn cơ sở khách hàng từ doanh nghiệp cũ chuyển sang.
+Phương thức, kinh nghiệp quản lý được đúc kết từ cả hai bên.
-Nhược điểm:
+Tốn nhiều vốn cho đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng và lắp đặt mới trang thiết bị cho
công ty mới.
+Khó khăn trong quản lý công ty mới. Khi một công ty có hai ông chủ dễ dẫn đến sự
không thống nhất khi ra quyết định kinh doanh.
+Một công ty mới ra đời cần có chiến lược marketing hiệu quả mới cạnh tranh được
trên thị trường nhiều khó khăn.
-Các quốc gia thường áp dụng:mPháp, Tây Ban Nha, Bỉ,Anh, Ireland
1.2.4.Ngân hàng thành lập hoặc mua công ty bảo hiểm
-Khái niệm: Đây là hình thức mà các ngân hàng tự mình thành lập công ty bảo hiểm
mới hoặc mua lại toàn bộ công ty bảo hiểm, trong tương lai hình thành tập đoàn dịch
vụ tài chính ngân hàng. Ngoài ngân hàng, bảo hiểm còn có thêm các thành viên khác
hình thành tập đoàn cung cấp tất cả các sản phẩm tài chính đa dạng, thoả mãn nhu cầu
của khách hàng.
Tên gọi khác của loại hình này là tập đoàn dịch vụ tài chính.
-Mô tả:
5
-Đặc điểm:
+Ở cấp độ này, các hoạt động và hệ thống phân phối được kết hợp hoàn toàn.
+Có khả năng cao trong việc sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng hiện có và cung cấp
các dịch vụ khác của ngân hàng .
+Tạo khả năng cho việc kết hợp đầy đủ của các sản phẩm.
-Ưu điểm:
+ Mô hình này tạo được sự cộng hưởng từ những lợi thế có sẵn của ngân hàng và công
ty bảo hiểm.
+ Nhưng quan trọng hơn là ngân hàng trong trường hợp này có thể tự chủ hoàn toàn
trong việc khai thác thị trường bảo hiểm, từ việc tính phí đến các chiến lược xúc tiến
cho sản phẩm.
-Hạn chế :
+ Bởi vì chơi ở nhiều sân chơi khác nhau, mô hình này đòi hỏi ở tập đoàn mẹ một khả
năng quản lý thật tốt với một đội ngũ nhân viên thật xuất sắc, khiến cho chi phí quản
lý doanh nghiệp tăng lên.
+ Mô hình này cũng sẽ không phù hợp với những ngân hàng “mong manh” tiềm lực
tài chính, như tàu nhỏ không thể nào vươn ra biển lớn.
II.Sự cần thiết khách quan của liên kết ngân hàng bảo hiểm
Trả lời câu hỏi tại sao cần có sự ra đời và phát triển Bancassurance ?
2.1.Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển
Bancassurance ra đời do sự tác động của hàng loạt các nhân tố như: sự phát triển của
thị trường tài chính, sự hình thành của các tập đoàn kinh tế, nhu cầu về một dịch vụ
tàichính “trọn gói” của công chúng, tác động của cạnh tranh cũng như tác động của
6
tiến bộ khoa học và công nghệ. Những nội dung dưới đây sẽ cùng độc giả đi sâu phân
tích mộ tsố nhân tố tác động.
Thứ nhất, do nhu cầu về dịch vụ tài chính “một cửa”. Bancassurance có thể đáp
ứng những khách hàng có nhiều nhu cầu về dịch vụ tài chính chỉ qua “một cửa”.
Chẳng hạn,khách hàng có nhu cầu vay tiền, có tài khoản hoặc sử dụng các dịch vụ
khác của ngân hàng, có thể tham gia bảo hiểm ngay tại ngân hàng. Khi tham gia bảo
hiểm tại ngân hàng, việc nộp phí cũng thuận tiện hơn vì khách hàng có thể nộp phí qua
chuyển khoản,thẻ ATM, thẻ tín dụng… Bên cạnh đó, như đã đề cập ở trên, khách hàng
có thể tham gia bảo hiểm tại ngân hàng để bảo đảm khả năng trả nợ cho ngân hàng
trong trường hợp có rủi ro xảy ra đối với tài sản và sinh mạng, sức khoẻ của mình.
Ngoài ra, khách hàng còn có thể được hưởng những quyền lợi và dịch vụ giá trị gia
tăng do sử dụng đồng thời nhiều dịch vụ, chẳng hạn: được giảm phí do nộp phí qua
ngân hàng, được cung cấpthẻ ATM mà không phải trả lệ phí… Tóm lại, với
bancassurance, khách hàng có thể đồng thời sử dụng các sản phẩm ngân hàng và bảo
hiểm một cách thuận tiện và hiệu quả.
Thứ hai, do sự thay đổi “khẩu vị” của khách hàng. Các nghiên cứu trên thế giới
chothấy, “khẩu vị” của khách hàng có nhu cầu đầu tư đang chuyển từ sản phẩm tiết
kiệmđơn giản sang các sản phẩm bảo hiểm và các sản phẩm phức tạp, do vậy ngân
hàngcần phải cung cấp nhiều dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi
củakhách hàng. Bancassurance là cách thức có thể đáp ứng được sự thay đổi “khẩu
vị”này.
Thứ ba, do yêu cầu tiết kiệm chi phí hoạt động. Việc sử dụng hệ thống cung cấp
dịch vụ của ngân hàng giúp công ty bảo hiểm có thể tiết kiệm được chi phí hoạt động,
qua đó tăng khả năng cạnh tranh và lợi nhuận. Trước hết, công ty bảo hiểm có thể
giảm chi phí đào tạo (vì đội ngũ nhân viên ngân hàng thường có trình độ cao, rất am
hiểu về tài chính)và có thể sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng, quan hệ của ngân hàng
để bán bảo hiểm.Ngoài ra, công ty bảo hiểm có thể trả hoa hồng cho ngân hàng thấp
hơn so với trả cho đại lý hoặc môi giới. Tuy nhiên, trên thực tế ở Châu Á, do tác động
của cạnh tranh, các công ty bảo hiểm thường phải trả cho ngân hàng mức hoa hồng
tương đương với mức trả cho đại lý hoặc môi giới.
7
Nghiên cứu 2003/2004 Kehrer-LIMRA [4] về tỷ lệ thù lao/phí năm đầu theo phương
thức phân phối cho thấy, kênh phân phối ngân hàng giúp tiết kiệm chi phí nhất.
Theo nghiên cứu của Tillinghast[1] năm 2000, tỷ lệ chi phí phân phối trung
bình/phí nămđầu của bancassurance tại Anh là 33% trong khi tỷ lệ này của các nhà tư
vấn tài chính độc lập là 42% và của kênh bán hàng trực tiếp là 78%. Ở đây cũng cần
lưu rằng, sản phẩm bán theo mỗi kênh phân phối là khác nhau (dẫn đến tỷ lệ chi phí
phân phối khác nhau) nhưng sự khác biệt này không làm mất đi giá trị so sánh của số
liệu nêu trên.
Thứ tư, thông qua bancassurance, có thể sử dụng uy tín, thương hiệu và nguồn
lực (cơ sở dữ liệu, văn phòng, nhân viên…) của cả ngân hàng và công ty bảo hiểm vào
việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm cũng như tăng cường các dịch vụ ngân hàng. Bên cạnh
đó,bancassurance cũng giúp công ty bảo hiểm thâm nhập vào những thị trường chưa
được khai thác, nhất là các thị trường chỉ có thể khai thác được thông qua ngân hàng.
Điểm này cũng gợi ý ngân hàng và công ty bảo hiểm cần phải lựa chọn đối tác một
cách khôn ngoan nhất để có thể phát huy sức mạnh của mình và hưởng lợi từ uy tín,
thương hiệu của đối tác.
Thứ năm, do tác động của cạnh tranh làm giảm biên lợi tức (interest margin) của
ngân hàng cũng như của công ty bảo hiểm, đòi hỏi ngân hàng và công ty bảo hiểm
phải đa dạng hoá kênh phân phối, đa dạng hoá sản phẩm nhằm tạo thêm lợi nhuận,
năng suất,tạo ưu thế cạnh tranh. Các công ty gia nhập thị trường sau, đặc biệt là
các công ty nước ngoài, có thể phải tạo cho mình ưu thế cạnh tranh mới để giành thị
phần. Có thể thấy,việc công ty Prevoir – công ty BHNT mới thâm nhập thị trường Việt
Nam- tìm kênh phânphối mới qua hệ thống bưu điện Việt Nam là một ví dụ minh họa
rõ nét trong việc tạo ưuthế cạnh tranh. Bancassurance cũng là một giải pháp để thay
thế kênh phân phối quađại lý – kênh phân phối rất “kén” người mà nhiều các công ty
BHNT trên thế giới, đặcbiệt là các công ty BHNT Việt Nam, đang gặp khó khăn trong
tuyển dụng.
Thứ sáu, sự phát triển của công nghệ thông tin, dịch vụ viễn thông giúp cho việc
lưu trữ,khai thác cơ sở dữ liệu khách hàng, cung cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm
được nhanh chóng, thuận tiện.
8
Thứ bảy, xu hướng phi trung gian hóa trong hoạt động ngân hàng và bảo hiểm
cũng là một trong những lý do dẫn đến sự ra đời của bancassurance. Bancassurance
làm giảm sự phụ thuộc của công ty bảo hiểm đối với lực lượng đại lý, môi giới, tạo ra
đối trọng cần thiết cho sự phát triển bền vững.
Thứ tám, chính sách tự do hóa hoạt động tài chính cho phép sự thâm nhập lẫn
nhau giữa hoạt động ngân hàng và bảo hiểm. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hoá cũng
thúc đẩy sự hoạt động động của bancassurance.
Thứ chín, khách hàng ngày càng hiểu sâu sắc về dịch vụ tài chính,
mức sống ngày càng tăng cũng là những nhân tố thúc đẩy hoạt động bancasurance
2.2.Vai trò của liên kết ngân hàng bảo hiểm
Có thể nói liên kết ngân hàng bảo hiểm là loại hình giao dịch mà các bên tham gia như
ngân hàng, công ty bảo hiểm và khách hàng đều có lợi.
2.2.1.Đối với ngân hàng
Các ngân hàng luôn đối mặt với các vấn đề:
Áp lực giới hạn, rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, chi phí,
Nhu cầu cho các nguồn thu khác
Triển khai “bancassurance” thành công, ngân hàng sẽ có nhiều lợi ích như:
Có thêm dịch vụ cung cấp cho khách hàng, qua đó tăng cường khả năng cạnh
tranh của mình, tăng khả năng duy trì khách hàng và thu hút hơn nhiều khách
hàng mới sử dụng các dịch vụ của ngân hàng. Ngân hàng có thể tăng doanh thu
từ việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng mua bảo hiểm.
Ví dụ: Ngân hàng có thể phát triển các mối quan hệ với khách hàng thông qua việc
giới thiệu các sản phẩm mới của ngân hàng liên quan đến các sản phẩm bảo hiểm
với những lợi ích thuyết phục, thỏa mãn nhu cầu đa dạng và phong phú của khách
hàng.
Tăng thu nhập không phải từ lãi thông qua việc thu phí các dịch vụ ngân hàng
(phí chuyển khoản, ATM, thẻ tín dụng…), cho thuê mặt bằng giao dịch, hoa
hồng từ bán bảo hiểm…Ngân hàng có thêm lượng tiền mặt nhờ lượng tiền đóng
9
phí bảo hiểm thông qua ngân hàng của khách. Ngoài ra, công ty bảo hiểm còn
duy trì các khoản tiền gửi có kỳ hạn và các hình thức đầu tư khác tại ngân hàng.
Ngân hàng có thể tận dụng cơ sở khách hàng, mối quan hệ dài hạn với khách
hàng, hệ thống phân phối hiện thời… nhằm tạo ra lợi thế so với các kênh phân
phối khác trong việc phân phối các sản phẩm bảo hiểm nhằm tạo ra thu nhập ổn
định.
Tăng tỷ suất sinh lợi (ROA), bởi vì chi phí hoạt động thấp nhưng doanh thu từ
các khoản tiền thưởng và hoa hồng từ các hợp đồng bảo hiểm tương đối cao.
Tăng năng suất hoạt động của nhân viên ngân hàng thông qua việc cung cấp
thêm các sản phẩm bảo hiểm, do vậy giúp giảm chi phí cố định một cách tương
đối cho ngân hàng, đồng thời, các nhân viên ngân hàng cũng có thêm động lực
và thu nhập. Ngoài ra, “văn hóa bán hàng” thu nhận được trong hoạt động kinh
doanh bảo hiểm sẽ tác động tích cực trở lại đối với hoạt động kinh doanh của
ngân hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.
Tăng cường thương hiệu và uy tín của mình trên thị trường, đồng thời, tạo thêm
năng lực đổi mới, giảm bớt sự biến động của lợi nhuận theo thời gian do khả
năng sinh lợi của ngành ngân hàng và bảo hiểm thường biến động không theo
cùng một chu kỳ. Thêm vào đó, Bancassurance giúp giảm vốn theo rủi ro của
ngân hàng.
Việc cung cấp các sản phẩm bảo hiểm giúp giảm thiểu rủi ro không thu hồi
được nợ của ngân hàng đối với các khoản cho vay.
Giúp tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng từ phía bảo hiểm. Có thể thấy
trong các thoả thuận hợp tác của các Công ty Bảo hiểm nhân thọ Việt Nam với
các ngân hàng đều bao hàm các thoả thuận đầu tư tiền hoặc phí bảo hiểm thu
được vào ngân hàng.
Tăng hiệu quả kinh doanh do tăng doanh thu và có cơ hội bán chéo sản phẩm.
Các ví dụ đơn giản về sự phối hợp giữa hoạt động ngân hàng và các sản phẩm bảo
hiểm tương ứng, có thể tạo cơ hội bán chéo giữa chúng:
Sản phẩm
của ngân
Thẻ tín
dụng
Quản lý
dòng tiền
Vay thế
chấp
Các món
vay độc
Cho vay
cá nhân
10
hàng lập
Sản phẩm
bảo hiểm
Sản phẩm
BH mất
thẻ tín
dụng
BH tín
dụng
nhân thọ
BH cho
các tài
sản dùng
thế chấp
BH món
vay cho
cá nhân
BH tín
dụng cá
nhân
2.2.2. Đối với công ty Bảo hiểm:
Các vấn đề mà công ty bảo hiểm thường gặp phải đối với mô hình đại lý truyền thống
(nhân viên BH trực tiếp tìm kiếm và tiếp xúc với khách hàng):
Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí cố định phải bỏ ra,
Việc cung cấp sản phẩm phụ thuộc chất lượng của các đại lý đại diện, sự tập
trung sức mạnh bởi một số ít người dẫn đầu, và các dịch vụ dưới mức đối với
các khách hàng thuộc tầng lớp trung lưu
\Triển khai “bancassurance” thành công, công ty bảo hiểm sẽ có nhiều lợi ích như:
Bancassurance tạo ra nguồn khách hàng mới, cơ hội cho các sản phẩm
mới và tiết kiệm chi phí nhờ quy mô lớn. Công ty bảo hiểm có thể tiếp cận và sử
dụng nguồn dữ liệu rất lớn về khách hàng của ngân hàng, qua đó giảm chi phí
phân phối sản phẩm. Có thể thấy, những khách hàng của ngân hàng là những
khách hàng tiềm năng lớn đối với các Công ty bảo hiểm vì họ thường có thu
nhập trung bình khá trở lên và ít nhiều có thói quen sử dụng dịch vụ tài chính.
Đa dạng hóa các kênh phân phối, tăng cường khả năng cạnh tranh nhất là
trong giai đoạn thị trường bão hoà, đồng thời giảm bớt sự biến động lợi nhuận
theo thời gian.
Các ngân hàng sẽ cung cấp cho công ty bảo hiểm hạn mức tín dụng vào
từng thời điểm để hỗ trợ vốn lưu động cho công ty. Ngoài ra, dựa trên hệ thống
mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch có sẵn rộng khắp của ngân hàng, công ty
bảo hiểm có thể tiết kiệm được chi phí, nguồn lực trong việc mở rộng thị phần.
Bán các sản phẩm ngân hàng cho khách hàng tham gia bảo hiểm, qua đó
giúp giảm thiểu rủi ro phát sinh từ việc giao dịch bằng tiền mặt, giải quyết tốt
bài toán thu phí, thanh toán quyền lợi bảo hiểm bằng tiền mặt. Đối với các nước
11
mà người dân có thói quen sử dụng tiền mặt cao như ở Việt Nam, điều này rất
có ý nghĩa. Thực tế cho thấy, các Công ty bảo hiểm, đặc biệt là các Công ty bảo
hiểm nhân thọ ở Việt Nam chịu rủi ro lớn trong việc quản lý tiền mặt trong quá
trình thu phí, giải quyết quyền lợi bảo hiểm (mất cắp, tiền giả, nhầm lẫn…) và
giải quyết bài toán rất lớn về tổ chức lực lượng thu phí bảo hiểm. Rõ ràng,
Bancassurance giúp giảm bớt sự lệ thuộc của Công ty bảo hiểm vào hệ thống
đại lý và môi giới.
Tăng cường thương hiệu và uy tín của mình trên thị trường trong việc sử
dụng uy tín và thương hiệu của ngân hàng, vì trên thực tế hệ thống ngân hàng
thường có uy tín rất lớn trong đời sống kinh tế - xã hội.
2.2.3 Đối với khách hàng:
Chúng ta có thế thấy rằng nhu cầu của khách hàng:
Cần các kế hoạch có sự bảo trợ của chính phủ cho các khoản lương hưu.
Tăng mức sống và tăng dân số đã chỉ ra một sự ưu tiên dành cho các loại sản
phẩm mang tính đầu tư.
Để đáp ứng lại những đòi hỏi chính đáng đó thì:
Các nhà cung cấp phải phát triển tốt hơn các chính sách phân phối các sản
phẩm dịch vụ vượt trội, dành riêng cho mỗi cá nhân với chi phí thích hợp.
Những công ty bảo hiểm khôn ngoan đang tìm kiếm sự hợp tác với các ngân
hàng về các sản phẩm làm theo nhu cầu khách hàng nhằm đáp ứng hoàn toàn
những nhu cầu khách hàng và mở rộng sự phân phối vươn xa.
Khi tham gia Bancassurance, khách hàng được hưởng những lợi ích:
Khách hàng được sử dụng các dịch vụ tài chính “trọn gói” với chi phí thấp
hơn và thuận tiện hơn, mua sản phẩm với giá thấp hơn, do tiêu dùng nhiều sản
phẩm và người cung cấp sản phẩm tiết kiệm được chi phí phân phối.
Việc chi trả phí bảo hiểm định kỳ cũng thuận tiện hơn. Khách hàng có thể
quản lý rủi ro tốt hơn và hoạch định tài sản hiệu quả hơn. Đồng thời, khách hàng
có thể được hưởng các dịch vụ gia tăng khác.
Mua nhiều sản phẩm tại 1 nơi (Kết hợp ngân hàng và dịch vụ bảo hiểm).
Được cung cấp thêm thông tin và được cung cấp thêm 1 số dịch vụ.
12
Ví dụ: Cá nhân vay vốn sẽ được tham gia bảo hiểm tương ứng với giá trị khoản
vay. Trường hợp không may xảy ra rủi ro trong phạm vi bảo hiểm, khách hàng và
người thân trong gia đình sẽ không phải lo việc thanh toán nợ gốc và tiền lãi của
khoản vay.
Bên cạnh đó, khi mua bảo hiểm tại ngân hàng, khách hàng có thể có thêm
niềm tin vì có thêm một người nữa để “bảo lãnh uy tín” cho Công ty bảo hiểm. An
toàn hơn khi mua bảo hiểm ( vì các sản phẩm bảo hiểm được cung cấp qua
kênh ngân hàng đã được ngân hàng xem xét, đánh giá, lựa chọn) – khách hàng
được “bảo hiểm hai lần”.
Tăng khả năng hiểu biết về công ty bảo hiểm và ngân hàng. Giảm rủi ro
do thông tin bất cân xứng.
Khách hàng cũng có thể được hưởng lợi từ chính sách ưu đãi thuế của Nhà
nước.
Một khía cạnh đáng kể đối với cả ngân hàng và công ty bảo hiểm là
“bancassurance” cũng có thể góp phần giảm bớt sự biến động của lợi nhuận theo thời
gian khi khả năng sinh lợi của ngành ngân hàng và ngành bảo hiểm biến động không
theo cùng một chu kỳ. Những lợi ích của “bancassurance” nói trên đã là những vấn đề
lý luận được kiểm nghiệm qua thực tế hoạt động “bancassurance” ở nhiều nước trên
thế giới.
2.2.4 Những thuận lợi cho các nhà lập pháp.
Vai trò của các cơ quan giám sát hoặc của chính phủ là làm luật để đảm bảo rằng
những rủi ro được thực hiện bởi tổ chức tài chính của đất nước đang được quản lý và
kiểm soát một cách tích cực theo cách như vậy là để duy trì nền tài chính quốc gia
vững mạnh. Tuy nhiên, những sự kiện có thể xảy ra ở bên ngoài sự kiểm soát của cá
nhân và những nhà quản lý quốc gia có thể tác động đến toàn bộ hệ thống tài chính.
Những rủi ro này được gọi là “rủi ro hệ thống”.
Đối với các tổ chức tài chính, Bancassurance có thể là một phương tiện hạn chế rủi
ro hệ thống như vậy bởi vì nó đa dạng hóa các nguồn thu của ngân hàng, làm cho kinh
doanh ổn định hơn và do đó cũng an toàn hơn cho khách hàng của nó.
13
Mặt khác, một số nhà lãnh đạo nghĩ rằng, việc bãi bỏ các quy định hạn chế của hệ
thống tài chính có thể làm gia tăng rủi ro hệ thống của một quốc gia. Đây là lý do tại
sao, tại nhiều nước, các ngân hàng vẫn không thể thực hiện các hoạt động ngoài hoạt
động kinh doanh cốt lõi của họ để tránh các nguyên nhân khác gây ra rủi ro.
Ngoài ra, một số chính phủ đã quyết định tự do hóa hệ thống tài chính, nhưng dần
dần, là quyết định tự do hóa cho một quá trình bãi bỏ quy định kiểm soát nhiều hơn.
Nói cách khác, cơ quan giám sát có thể thấy Bancassurance là một lợi thế, hay trái lại,
như là một nguy cơ tiềm tàng cho sự ổn định tài chính của một quốc gia.
III.Lịch sử ra đời của liên kết ngân hàng bảo hiểm
Liên kết ngân hàng bảo hiểm ra đời lần đầu tiên tại châu Âu , vào những năm 70
của thế kỷ XX, xuất hiện đầu tiên là ở Pháp và Tây Ban Nha. Đầu thập niên 70, Ở
pháp, ACM (Cam du Crédit Mutuel) được IARD (life and general insurance) uỷ quyền
hoạt động, đó là thời điểm đánh dấu lịch sử của ngành bảo hiểm. Ý tưởng của họ lúc
đó là bỏ qua các trung gian bảo hiểm cho các khoản vay và tự bảo hiểm cho chính
khách hàng của ngân hàng họ. Đó là tiền thân cảu loại hình mà 15 năm sau người ta
gọi là “Bancassurance – liên kết ngân hàng bảo hiểm”. Người Tây Ban Nha bắt đầu
cuộc phưu lưu của mình từ rất sớm, khi tập đoàn BANCO DE BILBAO giành được
phần lớn cổ phần trong EUROSEGUROS SA(một công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm
có nguồn gốc là La Vasca Aseguradora SA, thành lập năm 1968). Tuy nhiên, ban đầu
sự kiểm soát của tập đoàn chỉ là về mặt tài chính, bởi vì thời đó luật pháp Tây Ban
Nha cấm các ngân hàng bán sản phầm bảo hiểm nhân thọ. Sự cấm đoán đó đã được dỡ
bỏ vào năm 1991 và sau đó nhóm 5 công ty “bancassurance” hàng đầu của Tây Ban
Nha (Vida Caixa, BBVA, SHC Seguros, Aseval, Mapfre Vida) đã kiểm soát 1/3 thị
trường bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên một quan điểm lịch sử khác cho rằng, tiên phong
thực sự là Anh với việc tạo ra Baclays Life vào tháng chin năm 1965. Nhưng nó
khoongthanhf công lớn ở Anh, không có tài liệu ghi lại, và không nhận thức được đó
là liên kết ngân hàng bảo hiểm.
-Ở Pháp: vào năm 1971, ngân hàng Crédit Lyonnais mua lại tập đoàn Médicale de
France và đến năm 1993 ký kết thỏa thuận để tập đoàn Union des Assurances
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét