Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

72694

Trong quá trình chỉ đạo chính sách tiền tệ, Ngân hàng Trung ơng có thể
tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các mục tiêu cuối cùng của nền kinh
tế, ảnh hởng của các chính sách tiền tệ chỉ xuất hiện sau một khoảng thời
gian nhất định từ sáu tháng đến hai năm. Vì vậy, Ngân hàng Trung ơng phải
chọn các mục tiêu trung gian để từ mục tiêu trung gian tác động đến mục tiêu
cuối cùng.
1.2. Mục tiêu trung gian
Mục tiêu trung gian bao gồm các chỉ tiêu đợc Ngân hàngTrung ơng lựa
chọn để đạt đợc mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.Các chỉ tiêu đợc sử
dụng mục tiêu trung gian là tổng lợng tiền cung ứng (M1,M2, hoặc M3) hoặc
mức lãi suất thị trờng. Để đợc lựa chọn là mục tiêu trung gian thì phải thoả
mãn một số yêu cầu:
Mục tiêu đó phải đảm bảo tính đo lờng đợc một cách chính xác và
nhanh chóng, bởi vì các chỉ tiêu nàychỉ có ích khi nó phản ánhđợc tình trạng
của chính sách tiền tệ nhanh hơn mục tiêu cuối cùng. Ngân hàng Trung ơng
có thể dựa vào các dấu hiệu này để điều chỉnh hớng tác động khi cần thiết .
Ngân hàng Trung ơng có thể kiểm soát đợc, khi Ngân hàng Trung ơng
có khả năng kiểm soát mục tiêu trung gian, nó có thể điều chỉnh mục tiêu đó
cho phù hợp với định hớng và hiệu quả của chính sách tiền tệ. Việc lựa chọn
các chỉ tiêu mà Ngân hàng Trung ơng không có khả năng kiểm soát làm mục
tiêu trung gian không chỉ ảnh hởng đến định hớng và hiệu quả của chính sách
tiền tệ mà còn láng phí do mọi cố gắng để đạt đợc chỉ tiêu này không mang
tính mục đích.
Tiêu chuẩn quan trọng nhất của mục tiêu trung gian là phải có mối liên
hệ chặt chẽ với các mục tiêu cuối cùng. Khả năng có thể đo lờng chính xác
hoặc khả năng kiểm soát của Ngân hàng Trung ơng sẽ trở nên vô nghĩa, nếu
các chỉ tiêu đợc lựa chọn không có ảnh hởng trực tiếp tới sản lợng hoặc giá
cả.
Cả lợng tiền cung ứng và lãi suất đều thoả mãn các tiêu chuẩn trên nhng
ngân hàng Trung ơng không thể chọn cả hai chỉ tiêu làm mục tiêu trung gian,
5
mà chỉ có thể chọn một trong hai chỉ tiêu đó, căn cứ vào mối liên hệ của các
chỉ tiêu này đến các mục tiêu cuối cùng. Bởi lẽ nếu đạt đợc mục tiêu về cung
ứng tiền tệ thì phải chấp nhận sự biến động của lãi suất và ngợc lại.
Với các mục tiêu trung gian trên, Ngân hàng Trung ơng không thể chủ
động tác động một cách hoàn toàn vì vậy Ngân hàng Trung ơng phải lựa
chọn các mục tiêu hoạt động để chỉ đạo thờng xuyên và trực tiếp.
1.3. Mục tiêu hoạt động
Mục tiêu hoạt động là chỉ tiêu đợc Ngân hàng Trung ơng lựa chọn để
sao cho Ngân hàng Trung ơng sử dụng các công cụ điều tiết thì nó ảnh hởng
đến mục tiêu trung gian. Để đợc lựa chọn là mục tiêu hoạt động thì nó phải
đảm bảo đợc các tiêu chuẩn sau:
- Chỉ tiêu đó phải đo lờng đợc nhằm tránh những sự suy diễn thiếu
chính xác làm sai lệch dấu hiệu chính sách tiền tệ.
- Phải có mối quan hệ trực tiếp và ổn định với các công cụ của chính
sách tiền tệ.
- Phải có mối quan hệ chặt chẽ và ổn định với các mục tiêu trung gian
đợc lựa chọn.
Các mục tiêu hoạt động bao gồm:
- Dự trữ của các Ngân hàng Thơng mại: ảnh hởng trực tiếp đến cung
ứng tiền tệ vì thay đổi R, ảnh hởng đến vốn khả dụng của Ngân hàng Thơng
mại do đó ảnh hởng đến mức cung tiền.
- Lãi suất ngắn hạn trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng ảnh hởng trực
tiếp đến lãi suất thị trờng, từ đó tác động đến lợng tiền cung ứng.
- Vấn đề sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng hoặc thắt chặt là vấn đề
mang tính nhạy cảm của các nhà điều hành chính sách tiền tệ . Để làm đợc
điều này Ngân hàng Trung Ương phải sử dụng các công cụ của mình.
6
II. chính sách tiền tệ ở Việt Nam sau thời kỳ đổi mới
2.1. Đối với Việt Nam, khi chuyển nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá
tập trung bao cấp nặng nề sang nền kinh tế theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN, chúng ta cha có sẵn một chính sách
tiền tệ và các công cụ của chính sách tiền tệ trong cơ chế thị trờng. Cho nên
quá trình đổi mới ngân hàng là một quá trình vừa đổi mới hệ thống tổ chức,
vừa đổi mới chính sách và cơ chế tiền tệ, tín dụng, thanh toán Trong đó,
xây dựng và đổi mới chính sách tiền tệ đợc coi là một khâu đặc biệt quan
trọng.
Từ khi Nhà nớc ban hành hai pháp lệnh: "Ngân hàng Nhà nớc"
"Ngân hàng Thơng mại- Hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính", Ngân
hàng Nhà nớc Việt Nam đã xây dựng chính sách tiền tệ. Từ khi có Pháp lệnh
Ngân hàng đến năm 1995, chính sách tiền tệ ở Việt Nam đợc coi là công cụ
quản lý vĩ mô của Nhà nớc về tiền tệ do Ngân hàng Trung ơng chịu trách
nhiệm soạn thảo và thực thi nhằm ổn định giá trị của đồng tiền, ổn định và
tăng trởng kinh tế. Lúc này các mục tiêu đặt ra của chính sách tiền tệ là: ổn
định tiền tệ bao gồm ổn định sức mua đối nội và đối ngoại của đồng tiền,
tăng trởng kinh tế, công ăn việc làm cao. Nhận thức nội dung chủ yếu của
chính sách tiền tệ trong thời kỳ này thông qua các chính sách. Chính sách
cung ứng và điều tiết tiền lúc này đã nhận thức đợc khối tiền tệ:
M1: Tiền mặt lu thông ngoài hệ thống ngân hàng và tiền gửi không kỳ
hạn tại ngân hàng.
M2: Gồm M1 và tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có thời hạn.
M3: Gồm M2 và các loại tiền gửi tại các định chế tổ chức khác.
L: Gồm M3 và các loại giấy tờ có giá.
Khối lợng tiền cung ứng tăng thêm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, do đó
trong quá trình xác định chỉ tiêu này Ngân hàng Nhà nớc quán triệt các
nguyên tắc sau:
- Căn cứ vào tình hình tăng trởng kinh tế, khối lợng tiền tệ tăng trởng t-
ơng ứng với mức tăng trởng kinh tế.
7
- Khối lợng tiền cung ứng có tính đến phạm vi tỷ lệ lạm phát.
- Khối lợng tiền cung ứng dựa vào ngoại hối trong tay ngời c trú.
- Tiền cung ứng chịu ảnh hởng bởi tốc độ lu thông tiền tệ theo công
thức: V= GNP/M hoặc V= P.Q/M.
Khối lợng tiền cung ứng tăng thêm hàng năm bao gồm tiền mặt, các
loại tiền gửi ở ngân hàng nhằm giành cho nhu cầu đầu t tín dụng cho nền
kinh tế, tăng dự trữ ngoại hối và tạm ứng cho ngân sách. Khối lợng tiền cung
ứng tăng thêm chỉ là một chỉ tiêu định hớng, điều quan trọng là Ngân hàng
Nhà nớc phải theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, giá cả và tỷ giá hối
đoái để điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lợng tiền tăng hay
giảm không làm ảnh hởng tới giá cả hoặc thiếu phơng tiện lu thông gây cản
trở cho lu thông hàng hoá. Việc điều chỉnh khối lợng tiền cung ứng theo tín
hiệu thị trờng thông qua nhu cầu đối ứng xuất phát từ các kênh tạo tiền (tín
dụng, ngân sách, thị trờng ngoại hối, thị trờng mở).
Chính sách tín dụng cho nền kinh tế: kiểm soát lợng tiền cung ứng
thông qua chỉ tiêu hạn mức tín dụng. Ngân hàng Nhà nớc cấp tín dụng cho
các ngân hàng thơng mại thông qua hoạt động tái cấp vốn.
Chính sách ngoại hối: Ngân hàng Nhà nớc thực hiện các biện pháp
quản lý ngoại hối bao gồm việc sử dụng tỷ giá nhằm điều tiết thị trờng hối
đoái; quản lý quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia, cân bằng cán cân thanh toán
quốc tế. Ngân hàng Nhà nớc sử dụng chính sách tỷ giá linh hoạt, có sự quản
lý, phản ánh sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả.
2.2. Giai đoạn 1991- 1995
Giai đoạn 191- 1995 là thời kỳ nền kinh tế nớc ta có những chuyển biến
mạnh mẽ trong quá độ từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc và đạt đợc những thành tựu
nổi bật tạo đà thuận lợi cho quá trình xây dựng và điều hành chính sách tiền
tệ. Kinh tế thời kỳ này tăng trởng khá cao (bình quân hàng năm 8,3%) và lạm
8
phát đợc kiểm soát ở mức thấp là thành tựu nổi bật của nền kinh tế nớc ta
trong những năm qua.
Trong thời kỳ này, cơ cấu kinh tế đợc chuyển dịch theo hớng đa dạng
hoá các thành phần kinh tế đồng thời kinh tế quốc doanh vẫn giữ vị trí quan
trọng trong các khâu then chốt, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi theo chiều h-
ớng tích cực: tỷ trọngcủa ngành công nghiệp trong GDP đã tăng từ 22,6%
năm 1990 lên 28,9% năm 1993, dịch vụ từ 38,6% năm 1990 lên 41,2% năm
1993, nông nghiệp giảm từ 38,8% năm 1990 xuống 29,9% năm 1993. Đó là
một sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với nền kinh tế đang trong giai
đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Những mặt đợc trong điều hành chính sách tiền tệ:
- Mặt đợc nổi bật nhất là xây dựng kế hoạch và điều hành khối lợng tiền
cung ứng theo tín hiệu thị trờng thay cho phơng pháp điều hành theo quan
điểm phát hành tiền mặt theo chỉ tiêu kế hoạch hàng năm do chính phủ
khống chế từ những năm 1991 trở về trớc. Hàng năm, căn cứ vào dự kiến
mức tăng trởng kinh tế và mức lạm phát để xác định khối lợng cung ứng tiền
tệ tăng thêm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Khối lợng tiền cung ứng hàng
năm do Chính phủ giao cho Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc điều hành sử
dụng vào hai mục đích: tăng tài sản có ngoại tệ và cung ứng phơng tiện thanh
toán cho các Ngân hàng thơng mại thông qua phơng tiện tái cấp vốn, trong
đso tăng tài sản có ngoại tệ là chủ yếu.
- Xác định và xây dựng đợc các chính sách tiền tệ cụ thể điều hành
chính sách tiền tệ nh:
+ Chính sách tín dụng: thực hiện phơng châm đi vay để cho vay, tạo
dựng nhiều công cụ huy động vốn và các mức lãi suất hấp dẫn, đồng thời mở
rộng mạng lới để huy động vốn nhàn rỗi trong dân là chính, kết hợp với
nguồn vốn từ nớc ngoài, mở rộng cho vay đến mọi thành phần kinh tế theo h-
ớng tăng cờng tỷ trọng tín dụng kinh tế ngoài quốc doanh và tín dụng trung
và dài hạn, giảm dần tơng ứng tỷ trọng cho vay kinh tế quốc doanh và cho
9
vay ngắn hạn một cách hợp lý, tốc độ tăng tín dụng phù hợp với tốc độ tăng
trởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát dự kiến.
+ Xây dựng chính sách lãi suất theo định hớng thị trờng theo nguyên
tắc ngời gửi có lợi, ngời vay chấp nhận và ngân hàng kinh doanh đợc, xoá bỏ
bao cấp qua lãi suất cho vay, thực hiện chính sách lãi suất thực dơng, điều
chỉnh lãi suất huy động và cho vay phù hợp với biến động của chỉ số lạm phát
và yêu cầu của chính sách tiền tệ Ngân hàng Nhà nớc dần dần quy định một
trần lãi suất tối đa, các tổ chức tín dụng quy định các mức lãi suất cụ thể về
tiền gửi và cho vay, từng bớc khép dần khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất
nội tệ và ngoại tệ, lãi suất huy động và cho vay có thời hạn dài sẽ cao hơn
huy động và cho vay có thời hạn ngắn.
Lãi suất cho vay của Ngân hàng Nhà nớc đối với Ngân hàng thơng mại
theo phơng pháp chiết khấu trên cơ sở lãi suất cho vay thị trờng thông qua
phơng thức tái cấp vốn, mức chiết khấu cụ thể theo yêu cầu điều hành chính
sách tiền tệ từng thời kỳ.
+ Chính sách quản lý ngoại hối dần từng bớc đảm bảo Nhà nớc nắm giữ
đợc ngoại tệ phục vụ cho nhập khẩu và ổn định giá trị đồng tiền nội tệ. Điều
hành tỷ giá ngoại tệ linh hoạt góp phần kiềm chế lạm phát, khuyễn khích
xuất khẩu và thu hút vốn đàu t nớc ngoài. Định hớng lâu dài của chính sách
ngoại hối là trên đất Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt Nam, từng bớc củng cố và
nâng cao giá trị của đồng Việt Nam và phấn đấu trở thành đồng tiền chuyển
đổi.
+ Chính sách đối với ngân sách: xây dựng đợc t tởng chỉ đạo không phát
hành bù đắp thâm hụt; số thiếu hụt của ngân sách là một phần đợc vay nớc
ngoài.
- Sử dụng các công cụ hỗ trợ để điều hành chính sách tiền tệ theo yêu
cầu và mục đích từng thời kỳ:
+ Điều chỉnh lãi suất tín dụng đối với nền kinh tế.
+ Tăng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
+ Xác định hạn mức tín dụng cho các Ngân hàng thơng mại.
10
+ Tổ chức các thị trờng nội và ngoại tệ liên ngân hàng, thị trờng đấu
thầu tín phiếu kho bạc.
+ Phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nớc.
Kết quả của việc điều hành chính sách tiền tệ:
- Thực hiện kế hoạc cung ứng tiền có kết quả cho 02 mục tiêu: tăng tài
sản có ngoại tệ và đáp ứng phơng tiện thanh toán cho các Ngân hàng thơng
mại bằng phơng thức tái cấp vốn. Nhờ đó, lợng cung ứng tiền tệ ra đã đợc cân
đối với lợng ngoại tệ và khối lợng tín dụng cần thiết, không gây tác động đến
lạm phát.
- Tạo dựng các công cụ tiến hành chính sách tiền tệ gián tiếp bên cạnh
công cụ hạn mức tín dụng đối với các Ngân hàng thơng mại.
- Đổi mới chính sách lãi suất theo hớng thị trờng, từng bớc xoá bỏ bao
cấp qua lãi suất, xây dựng chính sách lãi suất theo nguyên tắc ngời gửi có
lợi, ngời vay chấp nhận và ngân hàng kinh doanh đợc nhằm khuyến khích
huy động vốn và mở rộn cho vay.
- Có nhiều biện pháp tình thế để kiềm chế lạm phát, nâng cao giá trị
đồng tiền Việt Nam.
- Tín dụng đối với nền kinh tế không ngừng tăng trởng, vốn huy động
năm 1994 tăng gấp 2 lần và tổng d nợ nền kinh tế tăng gấp 3,6 lần năm 1991,
vốn huy động ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng d nợ cho vay, cơ cấu tín
dụng thay đổi theo hơnge tăng tỷ trọng d nợ trung, dài hạn và kinh tế ngoài
quốc doanh, giảm tơng ứng tỷ lệ trọng trong cho vay ngắn hạn và kinh tế
quốc doanh, đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vốn của nền kinh tế, đặc
biệt là đã chú ý đến khu vực nông thôn.
- Thực hiện cân đối nhu cầu tiền mặt cho nrrnf kinh tế, xoá bỏ tình trạng
khấu hoãn chi tiền mặt, không phận biệt tiền mặt và chuyển khoản, xoá bỏ
dần tâm lý giữ tiền mặt trong các tổ chức kinh tế và dân, nghiên cứu, tạo
điều kiện thu hút vốn vào ngân hàng và đẩy nhanh tốc độ thanh toán không
dùng tiền mặt.
11
- Từng bớc đổi mới chính sách quản lý ngoại hối, tăng cờng phơng thức
việc Nhà nớc nắm ngoại tệ, thu hút ngoại tệ vào ngân hàng để phục vụ nhập
khẩu và giữ ổn định đợc tỷ giá ngoại tệ, khuyến khích xuất khẩu và thu hút
vốn đầu t nớc ngoài.
- Xây dựng t tởng chỉ đạo không phát hành cho ngân sách mà xử lý
thiếu hụt ngân sách bằng vay dần thông qua thị trờng tín phiếu kho bạc và
vay nớc ngoài.
Những mặt hạn chế:
- Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ cha đợc hoàn thiện theo cơ
chế tr:
+ Lãi suất còn cao và cha đợc điều chỉnh khéo léo, linh hoạt phù hợp với
các yêu cầu cần đặt ra của nền kinh tế và của chính sách tiền tệ.
+ Lãi suất tái cấp vốn cha phát huy đợc tác dụng của điều tiết khối lợng
tiền một cách tích cực;
+ Công cụ dự trữ bắt buộc cha theo yêu cầu của chính sách tiền tệ, các
tổ chức tín dụng chấp hành cha đúng tỷ lệ quy định và Ngân hàng Nhà nớc
xử lý cha nghiêm minh.
+ Cán cân thanh toán còn bị thâm hụt lớn.
+ Ngân sách còn căng thẳng và điều chỉnh cha ăn khớp với chính sách
tiền tệ, chi ngân sách theo thời vụ, thờng tập trung vào cuối năm là một yếu
tố gây áp lực lên lạm phát.
- Hoạt động của thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn cha phát rriển mạnh và
cha hoànthiện, cha nhạy cảm với nhu cầu tiền tệ của nền kinh tế.
- Cha thực hiện triệt để t tởng chỉ đạo là không phát hành bù đắp thâm
hụt ngân sách; nhng trên thực tế vẫn phát hành cho ngân sách chitiêu, bằng
cách ngân hàng tạm ứng cho ngân sách chi, song không đợc hoàn trả đúng
thời hạn, dẫn đến tăng tổng phơng tiện thanh toán qua mức, gây tăng lạm
phát ngoài dự kiến.
12
- Hình thành thị trờng tín phiếu kho bạc chậm, làm cho Ngân hàng Nhà
nớc chậm nắm đợc và điều hành công cụ này phục vụ cho nghiệp vụ thị trờng
mở.
- Sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài chính cha ăn
khớp, cha nhịp nhàng.
2.3. Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
Chính sách tiền tệ trong thời kỳ này càng tỏ rõ vai trò quan trọng trong
tổng thể các chính sách kinh tế vĩ mô của một quốc gia, có tác động mạnh
mẽ đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, nâng dần giá trị đồng nội tệ, tạo lòng
tin trong nớc và nớc ngoài, thúc đẩy đầu t, góp phần đamt bảo sự tăng trởng
liên tục và vững chắc cho nền kinh tế, kìm giữ lạm phát.
Mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ trong thời kỳ này là:
- ổn định sức mua trong nớc của đồng nội tệ và duy trì giá trị hợp lý đối
với ngoại tệ trong giao dịch đối ngoại, tạo môi trờng thuận lợi cho mọi hoạt
động tài chính trong nền kinh tế, góp phần kìm giữ lạm phát ở mức hợp lý.
- Góp phần tạo ra mức tăng trởng kinh tế cao và vững chắc.
Các công cụ chính sách tiền tệ đợc hình thành trong thời kỳ này, cụ
thể là:
- Hạn mức tín dụng:
Công cụ này dợc Ngân hàng Nhà nớc áp dụng trong điều hành chính
sách tiền tệ từ tháng 6/1994, đã có tác động hiệu quả đến việc hạn chế tốc độ
tăng tổng phơng tiện thanh toán trong những năm 1995-1997 và qua đó kiềm
chế lạm phát. Tuy nhiên, sang đến năm 1998, tình hình lại chuyển biến ngợc
lại, hạn mức tín dụng thừa ra so với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.
Công cụ hạn mức tín dụng trở nên không hiệu quả, một phần vì bản thân
công cụ này đã mang tính chất hành chính và thiếu linh hoạt. Hơn nữa việc
mở rộng tín dụng trong giai đoạn này cần thiết để thúc đẩy tăng trởng kinh
tế, nếu tiếp tục thực hiện hạn mức tín dụng sẽ thêm những nhân tố khó khăn
cho các Ngân hàng thơng mại mở rộng tín dụng. Do vậy, từ cuối năm 1998
Ngân hàng Nhà nớc đã không áp dụng công cụ hạn mức tín dụng nh là một
13
công cụ thờng xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, mức tăng
trởng tín dụng vẫn đợc tiếp tục theo dõi để có những giải pháp kịp thời hạn
chế sự gia tăng tín dụng khi tốc độ tín dụng có xu hớng tăng nhanh.
Lúc này Ngân hàng Nhà nớc đã chuyến việc điều hành chính sách tiền
tệ sang một số công cụ khác.
- Dự trữ bắt buộc
Kể từ khi ban hành Quyết định số 260QĐ-NHNN1 ngày 19/9/1995,
mức dự trữ bắt buộc đợc tính chung cho tất cả các loại tiền gửi, không phân
biệt tiền gửi không kỳ hạn hay tiền gửi có kỳ hạn 12 thanga. Quy chế dự trữ
bắt buộc lần này đã đợc quy định cụ thể hơn, thể hiện ở việc quy định tiền
gửi dự trữ bắt buộc tại Ngân hàng Nhà nớc đợc tính bình quân trong cả kỳ
duy trì. Năm 1998, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đợc áp dngj chung cho các tổ chức
tín dụng và các loại tiền gửi huy động có kỳ hạn dới 12 tháng là 10%, từ
tháng 3 đến tháng 6/1999, tỷ lệ này là 7% và từ tháng 6/1999 là 6%.
Ngân hàng Nhà nớc không trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc. Đối với
việc tiền gửi dự trữ vợt quá, Ngân hàng Nhà nớc áp dụng lãi suất 0,2%/tháng
(bằng Việt Nam đồng) và 4,86%/năm (bằng ngoại tệ). Đồng thời, những tổ
chức tín dụng thiếu tiền dự trữ bắt buộc trong kỳ duy trì thì bị phạt theo mức
200% trần lãi suất cho vay bằng USD doThống dốc ngân hàng Nhà nớc quy
định trong từng thời kỳ (đối với dự trữ bắt buộc bằng USD). Những quy định
này khuyến khích các tổ chức tín dụng chủ động trong việc điều hành chính
sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay.
Nếu so sánh các lần tăng giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các mức lạm
phát và lãi suất qua các năm ta thấy, thời kỳ có lạm phát cao hay lãi suất cao
cũng là lúc tỷ lệ dự trữ bắt buộc đợc quy định ở mức cao điều này cho thấy
đã có sự phối hợpvận dụng công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các công cụ khác
của chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nớc. Điều này
rất dễ thấy trong diễn biến của tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong năm 1999-đây là
năm mà Chính phủ mở rộng tiền tệ để kích cầu, lãi suất trần đợc điều chỉnh
giảm 4 lần thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng giảm đến 3 lần.
14

Xem chi tiết: 72694


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét