dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình có nêu một trường hợp được coi là lí do chính đáng đó là
vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn li hôn mà chỉ muốn ở
riêng[9]) Nguyên tắc chia giống như chia tài sản trong một vụ li hôn[10]. Luật cũng không
hề dự liệu về hậu quả pháp lí về tài sản sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân và
các văn bản dưới luật cũng không hướng dẫn vấn đề này. Vấn đề nhập lại tài sản riêng có
được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân cũng không được qui định trong luật, mà
luật cũng chỉ qui định về việc nhập hay không nhập các tài sản có trước khi kết hôn, tài sản
được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân[11].
Xuất phát từ tình hình năm 1986 đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, nên mọi qui
định về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân chưa được cụ thể. Hơn nữa với tình hình
thời đó thì không có một vụ án nào về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nào được
đưa ra xét xử sơ thẩm[12], trường hợp chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà được
tòa án giải quyết (nếu có) cũng chỉ được coi là trường hợp đặc biệt ngoại lệ.
1.2.2. Chia tài sản chung trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tài sản chung của vợ chồng bao gồm: “tài sản
do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu
nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa
kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài
sản chung”. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bổ sung thêm một căn cứ xác lập tài
sản chung của vợ chồng đó là thỏa thuận của vợ chồng.
Theo luật tài sản chung của vợ chồng cũng chỉ được chia khi có lí do chính đáng, luật dự
liệu cụ thể hai trường hợp được coi là có lí do chính đáng đó là vợ chồng đầu tư kinh
doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng. Luật cũng cho phép vợ chồng được thỏa
thuận chia tài sản chung bằng văn bản bên cạnh việc chia tài sản chung bằng quyết định
của tòa án
Luật đã dự liệu về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, và
theo qui định về tài sản chung thì vợ chồng cũng có thể nhập lại tài sản đã được chia vào
khối tài sản chung theo căn cứ xác lập tài sản chung là thỏa thuận của vợ chồng.
Vấn đề qui định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân sẽ được làm rõ
hơn ở chương 2.
1.3. MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH TƯƠNG TỰ TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Do sự khác nhau về nền văn hóa và các điều kiện kinh tế, chính trị những hình thức có thể
coi là chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân ở một số nước có sự khác nhau nhất định
với Việt Nam. Sau đây xin được điểm qua một số hình thức tương tự chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân.
1.3.1. Chế định chia tài sản vợ chồng trong thời kì hôn nhân theo Bộ luật Dân sự và
Thương mại Thái Lan[13]
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn
ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo qui định của pháp luật khi vợ chồng không
có hôn ước hoặc hôn ước đó không được công nhận.
Theo qui định của pháp luật Thái Lan kể từ thời điểm kết hôn vợ chồng sẽ phát sinh quan
hệ tài sản chung với những tài sản có nguồn gốc sau:
Tài sản vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân.
Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kì hôn nhân thông qua một di chúc hoặc tặng cho
được làm bằng văn bản nếu trong các văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung.
Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng
Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh
được nó là của riêng một bên vợ, chồng thì tài sản đó dược coi là tài sản chung[14].
Tài sản chung của vợ chồng chỉ có thể chia trong thời kì hôn nhân trong các trường hợp cụ
thể sau:
Một bên vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không có hoặc không đủ tài sản
riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung[15]
Một bên vợ hoặc chồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lí tài sản chung như: gây mất
mát tài sản chung mà không có lí do chính đáng; lâm vào tình trạng nợ nần hoặc chịu
những món nợ vượt quá 1/2 giá trị tài sản chung; cản trở vợ hoặc chồng mình trong việc
quản lí tài sản chung mà không có lí do chính đáng[16].
Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố phá sản.[17]
Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất năng lực hành vi và người kia bị coi là không thích
hợp để làm người giám hộ và do đó bố hoặc của người đó hoặc một người ngoài được chỉ
định làm người giám hộ thì người giám hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lí tài sản
chung với người kia. Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực
hành vi có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây nguy
hại cho họ[18]
Sau khi chia tài sản chung thì phần tài sản chia cho mỗi bên cợ chồng trở thành tài sản
riêng của họ. Bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc chồng có được sau khi chia sẽ là tài sản riêng
của người đó và không được coi là tài sản chung. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung, tặng cho chung trở thành tài sản riêng chia đều cho mỗi bên. Hoa lợi thu được từ tài
sản riêng của người nào thuộc sở hữu của người đó[19].
Chế độ tài sản chung chỉ được tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu của vợ, chồng và khi các
lí do chia tài sản chung đã hết.
1.3.2. Một loại hậu hôn ước (postnuptial agreement) ở Hoa Kì[20]
ở Hoa Kì chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản ước định, luật pháp chỉ can thiệp
vào việc qui định tài sản của vợ chồng khi họ không lập hôn ước hay còn gọi là khế ước
tiền hôn nhân (prenuptial agreement) và việc qui định về tài sản của vợ chồng ở mỗi bang
lại có sự khác nhau. Tuy nhiên pháp luật Hoa Kì cũng cho phép các cặp vợ chồng được lập
hậu hôn ước (postnuptial agreement) một loại khế ước được lập sau khi kết hôn nhưng
trước khi li hôn để qui định về quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.
Có ba kiểu hậu hôn ước:
Hậu hôn ước qui ước về tài sản của vợ chồng khi xảy ra cái chết của một người, như vậy
thì người còn sống sẽ không phải nhận tài sản từ di chúc hay từ qui định của pháp luật về
thừa kế.
Hậu hôn ước qui ước về những tranh chấp khi li hôn và tránh việc phải theo sự phân xử
của tòa án bằng việc qui định rõ về việc chia tài sản, về quyền nuôi con, về việc cấp dưỡng.
Hậu hôn ước loại này được bao gồm với bản án li hôn của tòa án.
Hậu hôn ước qui định về quyền lợi về tài sản trong thời kì hôn nhân bao gồm: qui định về
việc giới hạn hay từ bỏ việc cấp dưỡng; đặt khối tài sản có được trong suốt thời kì hôn
nhân trong tình trạng riêng biệt.
Như vậy có thể nói kiểu hậu hôn ước thứ ba cũng là một hình thức chia tài sản chung trong
thời kì hôn nhân, hậu hôn ước này phải được lập thành văn bản có chữ kí của cả hai vợ
chồng, giá trị của hậu hôn ước chỉ được công nhận khi tài sản riêng của nhau được các bên
biết rõ, không có sự hăm dọa, gian dối hay cưỡng bức trong việc lập hôn ước. Sau khi lập
hậu hôn ước, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ biệt sản.
1.3.3. Qui ước về tài sản trong luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa
đổi năm 2001)[21]
Quyền sở hữu của vợ chồng ở Trung Quốc được điều chỉnh theo phương thức qui ước của
vợ chồng song song với những qui định của pháp luật:
Theo qui định của điều 17 Luật Hôn nhân của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (sửa đổi năm
2001) thì:
“Trong thời gian còn duy trì quan hệ hôn nhân những tài sản dưới đây thuộc về sở hữu
chung của hai vợ chồng
Lương, tiền thưởng
Lợi nhuận từ sản xuất và kinh doanh
Lợi nhuận từ quyền sở hữu tài sản trí thức
Tài sản có được nhờ thừa kế, hiến tặng nhưng ngoài quy định tại điều 18 chương 3 của luật
này
Những tài sản khác mà cần thuộc về sở hữu chung.
Đối với những tài sản thuộc sở hữu chung, hai vợ chồng bình đẳng về quyền xử lí”.
Tuy nhiên Luật Hôn nhân (sửa đổi năm 2001) có qui định cho vợ chồng qui ước để những
tài sản trên không còn là tài sản chung nữa. Theo điều 19:
“Hai vợ chồng có thể qui ước những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân còn
duy trì và những tài sản trước hôn nhân thuộc về sở hữu cá nhân, sở hữu chung hoặc sở
hữu cá nhân bộ phận, sở hữu chung bộ phận.
Qui ước được ghi lại bằng văn bản. Nếu không có quy ước hoặc quy ước không rõ ràng, áp
dụng thích hợp theo qui định của điều 17 và 18 luật này.
Qui ước về những tài sản có được trong thời gian quan hệ hôn nhân đang được duy trì và
những tài sản trước hôn nhân, có sức ràng buộc đối với cả hai phía”.
Theo qui định đó thì vợ chồng hoàn toàn có thể thương lượng với nhau về vấn đề tài sản
của vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Việc qui ước này phải được lập thành văn bản, văn
bản này có thể được công chứng[22]. Nếu không có bản thỏa thuận này hoặc bản thỏa
thuận này không rõ ràng thì mới áp dụng thích hợp theo điều 17 và điều 18 (qui định về tài
sản chung và tài sản riêng của vợ chồng)[23].
Chương 2
QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG
THỜI KÌ HÔN NHÂN
2.1. TÀI SẢN CHIA
Tài sản để chia phải là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
2.1.1. Tài sản chung theo qui định của pháp luật
Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những
tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là
tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải
đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ
chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh
chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.
Theo qui định này thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm: các tài sản do vợ chồng tạo ra
trong thời kì hôn nhân; các tài sản có được do thu nhập hợp pháp trong thời kì hôn nhân;
các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung; các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là
tài sản chung.
Thu nhập hợp pháp của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân
Các thu nhập có tính ổn định
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân trước hết phải kể đến các khoản
thu nhập có tính chất ổn định của vợ, chồng như lương, lợi nhuận do hoạt động kinh doanh
mang lại, hoa lợi lợi tức có tính chất ổn định như tiền do bán cây ăn quả lâu năm, tiền cho
thuê nhà…Những thu nhập này thường là nguồn thu nhập chính, ổn định để đảm bảo cho
cuộc sống chung của gia đình. Theo điều 233 Bộ luật Dân sự thì người lao động, người
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh có quyền sở hữu đối với tài sản tạo ra đó[24],
nhưng theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản đó được qui định là thuộc sở hữu chung
của vợ chồng. Theo điều 235 Bộ luật Dân sự thì “chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có
quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể
từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó” như vậy có thể thấy nếu tài sản gốc là tài sản
chung thì hoa lợi lợi tức tất nhiên sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng, nhưng nếu tài sản
gốc là tài sản riêng của một người thì hoa lợi lợi tức phát sinh trong trường hợp này cũng
thuộc khối tài sản chung theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Các thu nhập có tính chất bất thường
Một số thu nhập có tính chất bất thường, sự phát sinh ra nó là bất thường hoặc có thể là bất
ngờ với chủ sở hữu. Các thu nhập này có thể là do trúng xổ số, trúng thưởng, được hưởng
các loại khuyến mại bất ngờ, hoặc cũng có thể là lợi tức bất thường: cổ phiếu đột ngột lên
giá… Trong các trường hợp này chỉ cần quyền sở hữu đối với chủ sở hữu (vợ hoặc chồng
hoặc cả hai) được xác lập thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Ví dụ một người mua xổ
số trước ngày kết hôn, sau khi kết hôn thì có kết quả và trúng số độc đắc, số tiền thưởng sẽ
là tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản được tạo ra trong thời kì hôn nhân
Tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân có thể thuộc một trong các trường hợp sau[25]:
Tài sản tạo ra do trộn lẫn, sáp nhập, chế biến (các điều 236, 237, 238 Bộ luật Dân sự)
Trong trường hợp này nếu tất cả các tài sản được đem sáp nhập trộn lẫn chế biến là tài sản
chung thì đương nhiên quyền sở hữu được xác lập theo qui định của pháp luật theo các
điều 236, 237, 238 đối với vật mới là sở hữu chung của vợ chồng.
Trong trường hợp tất cả tài sản được đem trộn lẫn, sáp nhập, chế biến là tài sản riêng thì tài
sản mới tạo ra cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Bởi đó là tài sản mới là tài sản
được tạo ra trong thời kì hôn nhân.
Trong trường hợp tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng được đem sáp nhập trộn
lẫn chế biến với tài sản của người khác để tạo thành tài sản mới thì phần quyền sở hữu với
tài sản mới thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo qui định của các điều 236, 237, 238.
Tài sản có được do xác lập quyền sở hữu theo các điều từ 239 đến 244 và điều 247, 246
Bộ luật Dân sự
Trường hợp này bao gồm các tài sản có được do nhặt được vật do người khác đánh rơi, bỏ
quên, nhặt được vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu, đào được vật bị chôn
giấu, tìm thấy vật bị chìm đắm, bắt được gia súc, gia cầm bị thất lạc, các trường hợp được
xác lập quyền sở hữu với vật nuôi dưới nước, tài sản có được do xác lập quyền sở hữu theo
thời hiệu, tài sản có được do phán quyết của các cơ quan có thẩm quyền.
Có lẽ theo tinh thần của điều luật và mục đích của việc qui định tài sản chung thì chỉ cần
tài sản được xác lập quyền sở hữu vào thời kì hôn nhân thì đã thuộc tài sản chung, các
trường hợp đào được, nhặt được… có thể coi như là một trường hợp của thu nhập bất
thường của vợ chồng. Đối với các trường hợp này, chỉ cần quyền sở hữu thuộc về một
trong hai người trong thời kì hôn nhân thì đó đương nhiên là tài sản chung.
Ví dụ 1: Một người bắt được một con bò bị lạc, sau khi đã báo cho ủy ban nhân dân xã nơi
cư trú để thông báo rộng rãi cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Ba tháng sau người đó kết
hôn, ba tháng sau nữa là hết thời hạn sáu tháng không có ai đến nhận bò, con bò là tài sản
chung của vợ chồng[26].
Ví dụ 2: Một người mua một bức tượng bằng vàng chiếm hữu công khai, liên tục, nhưng
không biết đó là đồ ăn trộm, 9 năm sau người đó kết hôn, một năm sau khi kết hôn, bức
tượng bằng vàng sẽ thuộc sở hữu chung của vợ chồng chứ không phải là tài sản riêng của
một người như trong trường hợp nó không phải là đồ ăn trộm[27].
Tài sản có được theo thỏa thuận dưới dạng các hợp đồng, mua bán, vay mượn… đối với
các chủ sở hữu khác
Với các trường hợp này, dù tiền dùng để mua, tài sản dùng để trao đổi, tài sản dùng để thế
chấp cầm cố… là tài sản riêng hay chung thì những tài sản mua được, đổi được, vay
được….có được thông qua sự thỏa thuận này cũng thuộc khối tài sản chung. Theo qui định
pháp luật thì việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc thỏa thuận, dễ
nhận thấy một điều như sau: một căn nhà thuộc sở hữu riêng của anh chồng, trong trường
hợp nó không phải là có giá trị lớn so với tổng số tài sản của hai vợ chồng, anh chồng có
thể tự do định đoạt, có thể cho, tặng bất cứ ai tùy ý, vì đó là tài sản riêng của anh ta, nhưng
khi bán đi thì lại không thể tự do cho ai đó chính số tiền bán nhà vì số tiền đó lúc này đã là
tài sản chung của vợ chồng. Thậm chí do luật chỉ qui định là tài sản tạo ra trong thời kì hôn
nhân nên “trong trường hợp vợ hoặc chồng giao kết hợp đồng mua tài sản và đã trả tiền
trước khi kết hôn, nhưng quyền sở hữu đối với tài sản chỉ được chuyển cho người mua sau
khi kết hôn thì tài sản mua được cũng là tài sản chung”[28]. Ví dụ một người mua một căn
nhà trước khi cưới, đã trả tiền đầy đủ, chỉ chưa làm giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà,
sau khi kết hôn căn nhà mới chính thức thuộc quyền sở hữu của người đó, khi đó căn nhà
là tài sản chung của vợ chồng.
* Như vậy ta nhận thấy bất cứ tài sản nào hợp pháp tạo ra trong thời kì hôn nhân cũng
thuộc khối tài sản chung, bất kể nguồn gốc, cách thức để tạo ra nó.
Các tài sản do được thừa kế chung, tặng cho chung
Thừa kế chung
Theo căn cứ xác lập quyền sở hữu do được thừa kế và các qui định về thừa kế thì nếu
người có di sản thừa kế chỉ rõ trong di chúc là để lại tài sản thừa kế cho cả hai vợ chồng
thừa kế chung thì đó mới được coi là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Nếu là thừa
kế theo di chúc mà người thừa kế theo di chúc chỉ là một người hoặc thừa kế theo pháp luật
mà chỉ có một người được hưởng thừa kế thì đương nhiên tài sản thừa kế là tài sản riêng
của vợ hoặc chồng. Nếu di chúc chỉ rõ là cho cả hai vợ chồng được thừa kế tài sản nhưng
lại chỉ rõ phần quyền của mỗi người thì tài sản đó thuộc sở hữu chung theo phần của hai
người theo qui định của Bộ luật Dân sự (không phải là sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng). Nếu hai người được thừa kế theo pháp luật (trường hợp cha mẹ được thừa kế tài
sản của con, hoặc trường hợp con đẻ kết hôn với con nuôi, con nuôi kết hôn với con nuôi
được thừa kế tài sản của cha mẹ…) thì tùy từng trường hợp có thể coi đây tài sản riêng của
mỗi người, hoặc tài sản thuộc sở hữu chung theo phần dân sự của hai người, chứ không thể
coi là thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Tặng cho chung
Cũng như trường hợp thừa kế, nếu như người có tài sản tặng cho thể hiện rõ là tặng cho
chung vợ chồng mà không hề phân biệt phần quyền của mỗi người đối với tài sản tặng cho
thì tài sản đó mới được coi là sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Các tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Do tôn trọng ý chí của vợ chồng, xuất phát từ thực tế cuộc sống là cần phải có tài sản
chung để đáp ứng yêu cầu của cuộc sống, xuất phát từ sự gắn bó tình cảm vợ chồng, từ
quan niệm không phân biệt “của anh của tôi” vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng của
mình vào khối tài sản chung và Luật Hôn nhân và Gia đình cũng qui định nó là tài sản
chung của vợ chồng. Tài sản chung do thỏa thuận này có thể là tài sản riêng có được trước
khi kết hôn, cũng có thể là tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, cũng có thể là tài sản
riêng do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Với những tài sản là là nhà ở, quyền sử
dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn hoặc những tài sản là tài sản riêng do chia tài sản
chung trong thời kì hôn nhân thì việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản, có chữ
kí của cả vợ và chồng, một số trường hợp pháp luật qui định thì văn bản đó phải được công
chứng chứng thực. Việc thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm trốn tránh
các nghĩa vụ về tài sản thì sẽ bị vô hiệu[29].
Một số trường hợp đặc biệt
Quyền sử dụng đất có được trong thời kì hôn nhân
Theo khoản 1 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2002, “Quyền sử dụng đất mà vợ
chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ
hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ
chồng có thỏa thuận”. Thực ra theo luật thì qui định về quyền sử dụng đất không có gì đặc
biệt hơn so với qui định về các tài sản khác. Cũng có thể nói là việc qui định riêng về
quyền sử dụng đất này không cần thiết nếu như quyền sử dụng đất tự bản thân nó không có
những điểm đặc thù và tầm quan trọng nhất định. Quyền sử dụng đất là một loại quyền dân
sự đặc thù, là loại quyền phụ thuộc, chịu sự chi phối bởi quyền độc lập là quyền sở hữu
toàn dân của đất đai, vợ chồng chỉ có quyền được quyền tài sản này khi được nhà nước
giao đất hoặc cho thuê đất[30]. Việc qui định riêng về quyền sử dụng đất có lẽ chỉ để làm
rõ về chế độ pháp lí của loại tài sản này trong quan hệ vợ chồng.
Tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Các trường hợp tài sản có được là tài sản do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
trong các trường hợp tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi
ích hợp pháp khác của vợ hoặc chồng hoặc cả hai bị xâm phạm có phải là tài sản chung
hợp nhất của vợ chồng không?
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản riêng của vợ chồng bao gồm
những tài sản tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được
tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định
về chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân; đồ dùng, tư trang cá nhân[31]. Như vậy theo
qui định này thì tài sản có được do được bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là
tài sản riêng. Chính vì thế mà chỉ còn cách xác định nó là tài sản chung của vợ chồng. Tuy
nhiên về mặt thực tế nếu tài sản bị xâm phạm thì khoản tiền bồi thường có thể được coi là
tài sản chung (điều này cũng hợp lí bởi ngay cả khi bán tài sản để mua tài sản mới thì tài
sản mới cũng thuộc tài sản chung); nếu khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho thu nhập
thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do bị thiệt hại về sức khỏe thì đó rõ ràng là tài sản chung
giống như thu nhập hợp pháp vậy; nếu như trong trường hợp khoản tiền bồi thường là để lo
cho chi phí thuốc thang… thì đó cũng có thể coi là tài sản chung bởi thực tế thì khối tài sản
chung phải ứng trước để lo chi trả cho thuốc thang và bởi vì cũng có thể coi đây là nhu cầu
thiết yếu của gia đình; tuy nhiên trường hợp khoản tiền bồi thường là để bù đắp cho nhân
phẩm, danh dự bị xâm phạm thì sao? Theo đúng qui định của luật thì nó là tài sản chung,
nhưng lí giải nó như thế nào? Có lẽ chỉ còn cách lí giải duy nhất là khi vợ chồng gắn bó
với nhau thì coi nhau như một, mọi sự tổn hại về tinh thần của người này cũng là tổn hại về
tinh thần, danh dự của người kia, nên tài sản bồi thường là tài sản chung.
Tài sản trí tuệ
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tất cả các tài sản, thu nhập hợp pháp
được tạo ra trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên với tài sản
trí tuệ thì lại khác mặc dù nó cũng là một loại tài sản dưới dạng quyền tài sản. Tài sản trí
tuệ là một loại tài sản vô hình, người ta chỉ có thể thể hiện quyền sở hữu với nó thông qua
các quyền tài sản. Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền
sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu đối với giống cây trồng[32] trong đó có các quyền tài
sản. Các chủ sở hữu đối với ba loại quyền trên đã được chỉ rõ trong Luật Sở hữu trí tuệ. Cụ
thể: chủ sở hữu quyền tác giả chỉ bao gồm tác giả (người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm),
đồng tác giả, tổ chức cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc kí kết hợp đồng với tác giả,
người thừa kế; người được tác giả trao quyền theo hợp đồng, Nhà nước[33]; chủ sở hữu
quyền liên quan chỉ có thể là những cá nhân, tổ chức đã được qui định cụ thể trong điều 44
Luật Sở hữu trí tuệ; chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp đã được qui định rõ trong
điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ… Như vậy, theo nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên
ngành là Luật Sở hữu trí tuệ thì vợ hoặc chồng của chủ sở hữu đối với các quyền sở hữu trí
tuệ không mặc nhiên là chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ, chính vì thế mà họ hoàn toàn
không thể tham gia cùng với vợ (chồng) mình định đoạt, sử dụng tài sản trí tuệ đó, người
sử dụng tài sản trí tuệ cũng không phải xin phép cả hai vợ chồng khi sử dụng tài sản trí tuệ
theo qui định của luật. Chỉ có nhuận bút, thù lao, và các quyền lợi vật chất khác là thuộc sở
hữu chung của vợ chồng vì đây là thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kì hôn nhân.
2.1.2. Nguyên tắc của việc qui định tài sản chung
Theo nguyên tắc của luật dân sự thì quyền sở hữu chung được xác lập trên cơ sở thỏa
thuận của các chủ sở hữu hoặc qui định của pháp luật hoặc theo tập quán.
Theo những phân tích ở phần trên (2.1.1) ta thấy tài sản chung của vợ chồng được xác định
theo các nguyên tắc sau:
Các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng hoàn toàn tuân theo qui định của pháp
luật[34]. Tuy nhiên tài sản chung của vợ chồng cũng được xác định theo hai phương thức
đối với những tài sản có nguồn gốc khác nhau. Theo phương thức bắt buộc đối với những
tài sản là tài sản tạo ra trong thời kì hôn nhân, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất,
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác; theo phương thức tôn trọng ý chí của người
có tài sản: đối với những tài sản mà chủ sở hữu đã chỉ rõ là cho vợ chồng thừa kế chung
hoặc đã chỉ rõ là tặng cho chung hai vợ chồng thì đó là tài sản chung của vợ chồng, tôn
trọng ý chỉ của vợ, chồng nên những tài sản nào vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung nó
cũng thuộc khối tài sản chung.
Theo qui định của pháp luật thì có vẻ như những tài sản nào có được trong thời kì hôn
nhân mà phải đền bù thì đều coi là tài sản chung. Có lẽ là do tính cộng đồng của hôn nhân
nên mọi thứ của hai vợ chồng lúc đó đều là của nhau. Chính vì vậy mọi thứ vợ chồng bỏ ra
trong thời kì hôn nhân đều được coi là của chung, và thứ có được nhờ nó cũng phải được
coi là của chung. Vậy nên lương, tiền thưởng, lợi nhuận do sản xuất kinh doanh và các thu
nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung.
Những tài sản nào mà không đủ chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì là tài sản chung.
Nguyên tắc này được ghi nhận trong khoản 3 điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000.
Theo các qui định của luật thì ta thấy khối tài sản chung bao giờ cũng có xu hướng thu hút
các khối tài sản khác. Chính vì thế mà tất cả những tài sản nào không đủ chứng cứ là tài
sản riêng thì đều được coi là tài sản chung của vợ chồng.
Tất cả những điều trên là “do tính cộng đồng của hôn nhân và mục đích của quan hệ vợ
chồng được xác lập, khi dự liệu chế độ tài sản giữa vợ chồng, Luật Hôn nhân và Gia đình
đã thực hiện cách thức điều chỉnh đặc biệt để qui định về căn cứ xác lập tài sản chung của
vợ chồng; những đặc điểm riêng biệt của sở hữu chung hợp nhất giữa vợ chồng, tài sản
chung của vợ chồng không nhất thiết phải do hai vợ chồng tạo ra một cách trực tiếp, chỉ
cần vợ, chồng tạo ra được trong thời kì hôn nhân; không xác định được tỉ lệ (kỉ phần) từ
trước của vợ, chồng đối với tài sản chung; đặc biệt, vợ, chồng bình đẳng khi thực hiện
quyền sở hữu, không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên vợ, chồng trong quá
trình tạo lập tài sản chung…”[35] [12]
2.2. NGƯỜI YÊU CẦU CHIA
Theo qui định của Bộ luật Dân sự thì tài sản chung được chia theo yêu cầu của chủ sở hữu
chung hoặc theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu một trong các chủ sở hữu chung thực
hiện nghĩa vụ với mình mà người đó không có tài sản riêng[36] [13]. Việc yêu cầu được
chia tài sản chung của chủ sở chung không cần có lí do chính đáng.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một trường hợp của chia tài
sản thuộc sở hữu chung. Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì tài sản chung
chỉ được chia khi có lí do chính đáng và theo thỏa thuận của vợ chồng (khi vợ chồng
không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia).
Theo đó người yêu cầu chia tài sản chung là vợ hoặc chồng hoặc cả hai khi có lí do chính
đáng.
Trường hợp người thứ ba yêu cầu chia không được qui định trong Luật Hôn nhân và Gia
đình, tuy nhiên theo qui định về việc áp dụng Bộ luật Dân sự trong trường hợp Luật Hôn
nhân và Gia đình không có qui định[37] [14] thì có thêm một người có quyền yêu cầu là
người mà vợ hoặc chồng có nghĩa vụ riêng với họ. Hơn nữa một trong các lí do được coi là
chính đáng để chia tài sản chung là chia để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nên có thể hiểu
quyền yêu cầu của người thứ ba vẫn tồn tại trong khi người thứ ba chỉ thực hiện quyền yêu
cầu thực hiện nghĩa vụ với một người, còn vợ chồng họ tự nguyện chia tài sản chung để
thanh toán. Tuy nhiên theo người viết, thường thì tài sản chung này được chia do vợ chồng
tự nguyện chỉ nhằm để trốn tránh hay trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ với người kia, còn
nếu bình thường khi vợ chồng không hề có mâu thuẫn gì thì chắc họ sẽ tự nguyện dùng
khối tài sản chung để thanh toán chứ không chia tài sản chung. Theo người viết thì cơ chế
để thực hiện quyền yêu cầu của người thứ ba như sau: người thứ ba có quyền yêu cầu
người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ với mình, thậm chí được kê biên tài sản riêng của
người đó; nếu tài sản riêng không đủ thì người này có thể yêu cầu vợ chồng bằng cách nào
đó để có tài sản thực hiện nghĩa vụ đối với mình; nếu không được thì người này có quyền
yêu cầu vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung để người kia có tài sản thanh toán cho
mình, thậm chí được tham gia vào việc chia tài sản chung đó; nếu cả ba người không thể
thỏa thuận được thì người thứ ba này có quyền yêu cầu tòa án chia tài sản chung của vợ
chồng họ để một người có tài sản thực hiện nghĩa vụ với mình[38] [15].
2.3. ĐIỀU KIỆN CHIA
Theo qui định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì điều kiện để có thể chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân là phải có lí do chính đáng, hiện tại luật đã dự liệu hai trường hợp
cụ thể được coi là có lí do chính đáng đó là trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng
và trường hợp vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, ngoài ra luật vẫn để dự trù các
trường hợp có lí do chính đáng khác.
2.3.1. Đầu tư kinh doanh riêng
Đầu tư kinh doanh riêng là khái niệm tương đối rộng và tương đối khó xác định, theo
người viết thì hoạt động đầu tư kinh doanh riêng là hoạt động nhằm sinh lợi, do một người
(vợ hoặc chồng) bỏ vốn ra để thực hiện một trong các công đoạn của quá trình từ sản xuất
đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ trên thị trường[39] [16].
Việc đầu tư kinh doanh được coi là một lí do chính đáng bởi để thực hiện hoạt động đầu tư
kinh doanh thì chắc chắn cần phải có một khối tài sản thuộc sở hữu của người đầu tư để
giao dịch. Việc tài sản đem đầu tư là tài sản thuộc sở hữu chung sẽ gây nhiều phức tạp cho
việc thực hiện giao dịch, bởi việc định đoạt tài sản đó cần có sự thỏa thuận của các đồng sở
hữu chủ, nếu như người kia không quan tâm đến việc kinh doanh hoặc thậm chí phản đối
việc kinh doanh đó thì việc thỏa thuận sẽ rất mất thời gian, thậm chí rắc rối và khó thực
hiện trong khi hoạt động kinh doanh thì cần phải nhanh chóng để “chớp thời cơ”. Để tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh nhằm phát triển kinh tế gia đình và
đất nước, Luật Hôn nhân và Gia đình qui định rằng đây là một lí do chính đáng để vợ
chồng có thể chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Hơn nữa, nhiều hoạt động kinh
doanh cũng được coi là mạo hiểm nên cần tách riêng một khoản tài sản để nếu việc kinh
doanh bị thua lỗ thì cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến sự tồn tại của gia đình.
Nói chung là việc chia tài sản này nhằm để một người có tài sản riêng để thực hiện các
giao dịch bảo đảm vay vốn kinh doanh, để giúp thực hiện các giao dịch đỡ phức tạp hơn,
bảo đảm cuộc sống của gia đình không bị ảnh hưởng nặng nề khi việc kinh doanh thua lỗ.
2.3.2. Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Theo Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải
chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác
hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác.
Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ một người (vợ hoặc
chồng) phải thực hiện còn người kia (chồng hoặc vợ) không phải liên đới thực hiện. Việc
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng này chỉ nhằm để thực hiện đúng nghĩa vụ phải thực hiện,
chứ có mục đích nhằm để phát sinh lợi (vì nếu nhằm để phát sinh lợi thì sẽ thuộc trường
hợp chia để đầu tư kinh doanh riêng). Nghĩa vụ dân sự riêng bao gồm các trường hợp thực
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét