TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
ðIỂM TIN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM [2007 Juin]
Tóm tắt cam kết gia nhập WTO của Việt Nam
http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Article.asp?CatID=66&ID=1655
Bộ Thương mại vừa có một bản tóm tắt về kết quả ñàm phán gia nhập WTO. ðây ñược xem là một
bản tóm tắt bao quát nhất các vấn ñề cơ bản nhất về cam kết gia nhập WTO của Việt Nam. Bản tóm
tắt này ñược tổng hợp trên cơ sở các văn kiện gia nhập WTO của Việt Nam ñã ñược Ban công tác về
việc Việt Nam gia nhập WTO phê chuẩn trong phiên họp thứ 14 ngày 26/10 vừa qua.
Cam kết ña phương
Theo kết quả ñàm phán, Việt Nam ñồng ý tuân thủ toàn bộ các hiệp ñịnh và quy ñịnh mang tính
ràng buộc của WTO từ thời ñiểm gia nhập. Tuy nhiên do nước ta ñang phát triển ở trình ñộ thấp lại
ñang trong quá trình chuyển ñổi nên ta yêu cầu và ñược WTO chấp nhận cho hưởng một thời gian
chuyển ñổi ñể thực hiện một số cam kết có liên quan ñến thuế tiêu thụ ñặc biệt, trợ cấp phi nông
nghiệp, quyền kinh doanh.
Các cam kết chính trong vấn ñề ña phương là: Việt Nam chấp nhận bị coi là nền kinh tế phi thị
trường trong 12 năm tức là không muộn hơn 31/12/2008.
Tuy nhiên, trước thời ñiểm trên, nếu ta chứng minh ñược với ñối tác nào là kinh tế Việt Nam hoàn
toàn hoạt ñộng theo cơ chế thị trường thì ñối tác ñó ngừng áp dụng chế ñộ “phi thị trường” ñối với
ta. Chế ñộ “phi thị trường” chỉ có ý nghĩa trong các vụ kiện chống bán phá giá. Các thành viên WTO
không có quyền áp dụng cơ chế tự vệ ñặc thù ñối với hàng xuất khẩu nước ta dù ta bị coi là nền kinh
tế phi thị trường.
Dệt may, các thành viên WTO sẽ không ñược áp dụng hạn ngạch dệt may ñối với ta khi vào WTO
(riêng trường hợp ta vi phạm quy ñịnh WTO về trợ cấp bị cấm ñối với hàng dệt may thì một số nước
có thể có biện pháp trã ñũa nhất ñịnh). Ngoài ra thành viên WTO cũng sẽ không ñược áp dụng tự vệ
ñặc biệt ñối với hàng dệt may của nước ta.
Trợ cấp phi công nghiệp, Việt Nam ñồng ý bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm theo quy ñịnh
WTO như trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội ñịa hóa. Tuy nhiên với các ưu ñãi ñầu tư dành cho hàng
xuất khẩu ñã cấp trước ngày gia nhập WTO, ta ñược bảo lưu thời gian quá ñộ là 5 năm (trừ ngành
dệt may)
Trợ cấp nông nghiệp, Việt Nam cam kết không áp dụng trợ cấp xuất khẩu ñối với nông sản từ thời
ñiểm gia nhập. Tuy nhiên, ta bảo lưu quyền ñược hưởng một số quy ñịnh riêng của WTO dành cho
nước ñang phát triển trong lĩnh vực này. ðối với loại hỗ trợ mà WTO quy ñịnh phi cắt giảm nhìn
chung ta duy trì ñược ở mức không quá 10% giá trị sn lượng. Ngoài mức này, ta còn bo lưu thêm
một số khoản hỗ trợ nữa vào khoảng 4.000 tỷ ñồng mỗi năm. Các loại trợ cấp mang tính chất
khuyến nông hay trợ cấp phục vụ phát triển nông nghiệp ñượcWTO cho phép nên ta ñược áp dụng
không hạn chế.
Quyền kinh doanh (quyền xuất nhập khẩu hàng hóa): tuân thủ quy ñịnh WTO, Việt Nam ñồng ý cho
doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài ñược quyền xuất nhập khẩu hàng hóa như người Việt Nam kể
từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục thương mại nhà nước (như xăng dầu, thuốc lá
ñiếu, xì gà, băng ñĩa hình, báo chí) và một số mặt hàng nhạy cảm khác mà ta chỉ cho phép sau một
thời gian chuyển ñổi (như gạo và dược phẩm).
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
Cam kết của Việt Nam ñồng ý cho phép doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại
Việt Nam ñược ñăng ký quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam. Quyền xuất khẩu chỉ là quyền ñứng tên
trên tờ khi hải quan ñể làm thủ tục xuất nhập khẩu. Trong mọi trường hợp, DN và cá nhân nước
ngoài sẽ không ñược tự ñộng tham gia vào hệ thống phân phối trong nước. Các cam kết về quyền
kinh doanh sẽ không ảnh hưởng ñến quyền của ta trong việc ñưa ra các quy ñịnh ñể quản lý dịch vụ
phân phối, ñặc biệt ñối với arn phẩm nhạy cảm như dược phẩm, xăng dầu, báo - tạp chí…
Thuế tiêu thụ ñặc biệt ñối với rượu và bia, các thành viên WTO ñồng ý cho ta thời gian chuyển ñổi
không quá 3 năm ñể ñiều chỉnh lại thuế tiêu thụ ñặc biệt ñối với rượu và bia cho phù hợp với quy
ñịnh WTO. Hướng sửa ñổi là ñối với rượu trên 20 ñộ cồn hoặc sẽ áp dụng một mức thuế tuyệt ñối
hoặc một mức thuế phấn trăm. ðối với bia, sẽ chỉ áp dụng một mức thuế phần trăm.
ðối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thương mại nhà nước, cam kết trong lĩnh vực này là
nhà nước sẽ không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt dộng DNNN. Tuy nhiên, nhà nước với
tư cách là một cổ ñông ñược can thiệp bình ñẳng vào hoạt ñộng của DN như các cổ ñông khác. Ta
cũng ñồng ý cách hiểu mua sắm của DNNN không phải là mua sắm Chính phủ.
Tỷ lệ cổ phần thông qua quyết ñịnh tại DN: ðiều 52 và 104 của Luật DN quy ñịnh một số vấn ñề
quan trọng có liên quan ñến hoạt ñộng của công ty TNHH và Công ty cổ phần chỉ ñược phép thông
qua khi có số phiếu ñại diện ít nhất là 65% hoặc 75% vốn góp chấp thuận. Quy ñịnh này có thể vô
hiệu hóa quyền của bên góp ña số vốn trong liên doanh. Do vậy, ta ñã xử lý theo hướng cho phép
các bên tham gia liên doanh ñược thỏa thuận vấn ñề này trong ñiều lệ công ty
Một số biện pháp hạn chế nhập khẩu, ta ñồng ý cho khẩu xe máy phân phối lớn không muộn hơn
ngày 31/5/2007. Với thuốc lá ñiếu và xì gà, ta ñồng ý bỏ biện pháp cấm nhập khẩu từ thời ñiểm gia
nhập. Tuy nhiên sẽ chỉ có một DN nhà nước ñược quyền nhập khẩu toàn bộ thuốc lá ñiều và xì gà.
Mức thuế nhập khẩu mà ta ñàm phán ñược cho hai mặt hàng này là rất cao. Với ôtô cũ ta cho phép
nhập khẩu các loại xe ñã qua sử dụng không quá 5 năm.
Cam kết thực hiện minh bạch hóa, ngay từ khi gia nhập sẽ công bố dự thảo các văn bản quy phạm
pháp luật do Quốc hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành ñể lấy ý kiến nhân dân.
Thời hạn dành cho việc góp ý và sửa ñổi tối thiểu là 60 ngày. Việt Nam cũng cam kết sẽ ñăng công
khai các văn bản pháp luật trên các tạp chí, tran tin ñiện tử của bộ, ngành.
Một số cam kết liên quan khác: thuế xuất khẩu, Việt Nam chỉ cam kết sẽ giảm thuế xuất khẩu ñối
với phế liệu kim loại ñen và màu theo lộ trình, không cam kết về thuế xuất khẩu của các sản phẩm
khác.
Về ña phương, Việt Nam còn ñàm phán một số vấn dề ña phưng khác như bo hộ quyền sở hữu trí
tuệ, ñặc biệt là sử dụng phần mềm hợp pháp trong c quan Chính phủ. ðịnh giá tính thuế xuất nhập
khẩu, các biện pháp ñầu tư liên quan ñến thương mại, các biện pháp hàng rào kỹ thuật trong thương
mại… Với nội dung này, ta cam kết tuân thủ các quy ñịnh của WTO kể từ khi gia nhập.
Cam kết về thuế nhập khẩu
Mức cam kết chung của Việt Nam là ñồng ý ràng buộc mức trần cho toàn bộ biểu thuế (10.600
dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu ñược giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực
hiện dần trung bình trong 5 = 7 năm. Mức thuế bình quân ñối với hàng nông sản giảm từ mức hiện
hành 23,5% xuống còn 20,9% thực hiện trong 5 - 7 năm. Với hàng công nghiệp từ 16,8% xuống còn
12,6% thực hiện chủ yếu trong vòng 5 - 7 năm.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
Mức cam kết cụ thể: sẽ có khoảng hơn 1/3 dòng số dòng thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng
có thuế suất trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm ñối với nền kinh tế như nông sản, xi
măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô - xe máy… vẫn duy trì ñược mức bảo hộ nhất ñịnh.
Những ngành có mức giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng
chế tạo khác, máy móc và thiết bị ñiện - ñiện tử. Bên cạnh ñó, Việt Nam ñạt ñược mức thuế trần cao
hơn mức ñang áp dụng ñối với nhóm hàng xăng dầu, kim lọai, hóa chất là phương tiện vận tải.
Cam kết của Việt Nam sẽ cắt giảm thuế theo một số hiệp ñịnh tự do theo ngành của WTO (giảm
thuế xuống 0% hoặc mức thấp). ðây là hiệp ñịnh tự nguyện của WTO nhưng các nước mới gia nhập
ñều phải tham gia một số ngành. Ngành mà ta cam kết tham gia là sản phẩm công nghệ thông tin
(dệt may và thiết bị y tế. Ta cũng tham gia một phần với thời gian thực hiện từ 3 - 5 năm ñối với
ngành thiết bị máy bay, hóa chất và thiết bị xây dựng. V
Về hạn ngạch thuế quan, ta bảo lưu quyền áp dụng với ñường, trứng gia cầm, lá thuốc lá và muối.
Cam kết về mở của thị trường dịch vụ
Về diện cam kết, trong BTA với Hoa Kỳ ta ñã cam kết 8 ngành dịch vụ khoảng 65 phân ngành. Trong
thỏa thuận WTO, ta cam kết ñủ 11 ngành dịch vụ, tính theo phân ngành khoảng 110 ngành. Về mức
ñộ cam kết, với hầu hết các ngành dịch vụ, trong ñó có những ngành nhạy cảm như bảo hiểm, phân
phối, du lịch… ta giữ ñược mức ñộ cam kết gần như trong BTA. Riêng viễn thông, ngân hàng và
chứng khoán, ñể sớm kết thúc ñàm phán, ta ñã có một số bước tiến nhưng nhìn chung không quá xa
so với hiện trạng và ñều phù hợp với ñịnh hướng phát triển ñã ñược phê duyệt cho các ngành này.
Cam kết chung cho các ngành dịch vụ về cơ bản như BTA. Trước hết, công ty nước ngoài không ñược
hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh, trừ phi ñiều ñó ñược ta cho phép trong từng ngành
cụ thể. Ngoài ra, công ty nước ngoài tuy ñược phép ñưa cán bộ quản lý vào làm việc tại Việt Nam
nhưng ít nhất 20%cán bộ quản lý của công ty phải là người Việt Nam. Cuối cùng, ta cho phép tổ
chức và cá nhân nước ngoài ñược mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng tỷ lệ phải
phù hợp với mức mở cửa thị trường ngành ñó. Riêng ngân hàng ta chỉ cho phép ngân hàng nước
ngoài mua tối ña 30% cổ phần.
Dịch vụ khai thác hỗ trợ dầu khí: ðồng ý cho phép các DN nước ngoài ñược thành lập công ty 100%
vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập ñể ñáp ứng các dịch vụ hỗ trợ khai thác dầu khí. Tuy
nhiên, Việt Nam còn giữ nguyên quyền quản lý các hoạt ñộng trên biển, thềm lục ñịa và quyền chỉ
ñịnh các ty thăm dò, khai thác tài nguyên. Bảo lưu ñược một danh mục các dịch vụ dành riêng cho
các DN Việt Nam như dịch vụ bay, dịch vụ cung cấp trang thiết bị và vật phẩm cho dàn khoan xa
bờ… Tất cả các công ty vào Việt Nam cung ứng dịch vụ hỗ trợ dầu khí ñều phải ñăng ký với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền.
Dịch vụ viễn thông, Việt Nam có thêm một số nhận nhượng so với BTA nhưng ở mức ñộ hợp lý, phù
hợp với chiến lược phát triển của. Cụ thể là cho phép thành lập liên doanh ña số vốn nước ngoài ñể
cung cấp dịch vụ viễn thông không gắn với hạ tầng mạng (phải thuê mạng do DN Việt Nam nắm
quyền kiểm soát) và nới lỏng một chút về việc cung cấp dịch vụ qua biên giới ñể ñổi lấy giữ lại hạn
chế áp dụng cho viễn thông có gắn với hạ tầng mạng ( chỉ các các doanh nghiệp nhà nước nắm ña
số vốn mới ñầu tư hạ tầng mạng, nước ngoài chỉ ñược góp vốn ñến 49% và cũng chỉ ñược liên doanh
với ñối tác Việt Nam ñã ñược cấp phép).
Dịch vụ phân phối, về cơ bản giữ ñược như BTA, tức là khá chặt só với các nước mới gia nhập. Trước
hết, về thời ñiểm cho phép thành lập DN 100% vốn nước ngoài là như BTA (1/1/2009). Thứ hai,
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
tương tự như BTA, ta không mở cửa thị trường phân phối xăng dầu, dược phẩm, sách báo, tạp chí,
băng hình, thuốc lá, gạo, ñường và kim loại quý cho nước ngoài. Nhiều sản phẩm nhạy cảm như sắt
thép, xi măng, phân bón… ta chỉ mở cửa thị trường sau 3 năm. DN có vốn ñầu tư nước ngoài, mở
ñiểm bán lẻ thứ hai trở ñi phải ñược ta cho phép theo từng trường hợp cụ thể.
Dịch vụ bảo hiểm, về tổng thể, mức ñộ cam kết ngang BTA, tuy nhiên, ta ñồng ý cho Hoa Kỳ thành
lập chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ ngày gia nhập.
Dịch vụ ngân hàng, ta ñồng ý cho thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài không muộn hơn
ngày 1/4/2007. Ngoài ra ngân hàng nước ngoài muốn ñược thành lập chi nhánh tại Việt Nam nhưng
chi nhánh ñó không ñược phép mở chi nhánh phụ và vẫn phi chịu hạn chế về huy ñộng tiền gửi bằng
VND từ thể nhân Việt Nam trong vòng 5 năm kể từ khi ta gia nhập WTO. Ta vẫn giữ ñược hạn chế về
mua cổ phần trong ngân hàng Việt Nam. (không quá 30%).
Dịch vụ chứng khoán, ta cho phép thành lập công ty chứng khoán 100% vốn nước ngoài và chi
nhánh sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO
Cac cam kết khác, với các ngành còn lại như du lịch, giáo dục, pháp lý, kế toán, xâydựng, vận tải…
mức ñộ cam kết về c bn không khác xa so với BTA. Ngoài ra không mở cửa dịch vụ in ấn - xuất bản.
(Nguồn:
VietnamNet, IIC cập nhật 07/11/2006)
Các cam kết WTO ảnh hưởng thế nào ñến bảo hiểm?
http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Article.asp?CatID=66&ID=1698
Thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ
chịu tác ñộng mạnh cả về quy mô, chất lượng và cả sự ổn ñịnh trong thị trường tài chính nói chung.
Theo Bộ Tài chính, tác ñộng của các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm trong việc Việt Nam cam
kết gia nhập WTO có thể ñược nhìn nhận từ hai khía cạnh, tác ñộng tích cực và tiêu cực.
Quá trình hội nhập sẽ làm giảm chi phí dịch vụ, chất lượng dịch vụ ñược nâng cao, năng lực thị
trường ñược mở rộng, công nghệ quản lý mới ñược chuyển giao, trình ñộ ñội ngũ cán bộ ñược nâng
cao
Nhưng, việc thực hiện các cam kết cũng dẫn ñến các khả năng gây bất ổn ñịnh nói chung của thị
trường tài chính, mất vai trò chủ ñạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy ñịnh quản lý
chưa theo kịp ñược với mức ñộ mở cửa thị trường
1. Về cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới
Ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, các doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài sẽ ñược phép cung cấp các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và
môi giới bảo hiểm, dịch vụ ñánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảo hiểm và ñặc biệt là
ñược phép cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các dự án, doanh nghiệp có vốn ñầu tư nước ngoài tại Việt
Nam mà không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam.
Trong thời gian ñầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số loại hình bảo hiểm phi
nhân thọ và giới hạn trong nhóm ñối tượng người nước ngoài và các dự án có vốn ñầu tư nước ngoài
tại Việt Nam.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân
thọ trong nước (xét về mặt uy tín và năng lực tài chính) thì các cam kết này không có ảnh hưởng
nhiều, một phần do tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm có
trụ sở tại Việt Nam, là những doanh nghiệp nắm thông tin về rủi ro tốt nhất do ñó có khả năng bảo
hiểm tốt nhất, mặt khác các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài thông thường cũng muốn thành lập
pháp nhân ñể cung cấp dịch vụ tốt hơn.
Hơn nữa, theo xu thế chung và triển vọng phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam, tỷ trọng phí bảo
hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của cả thị trường sẽ giảm dần so với nhân thọ,
do ñó những tác ñộng của cam kết này ñối với ngành bảo hiểm sẽ giảm dần theo thời gian.
2. Về các cam kết hiện diện thương mại
Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ bảo hiểm là
những cam kết mang tính chất tự do hoá thị trường bảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất ñối với các
doanh nghiệp bảo hiểm hiện ñã hoạt ñộng trên thị trường cũng như tới tình hình chung của thị
trường.
Việc cho phép thêm các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn ñầu tư nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ
bảo hiểm tại thị trường Việt Nam sẽ tăng thêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm.
Bên cạnh ñó, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt ñộng lâu năm trên phạm
vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao công nghệ khai thác bảo hiểm và ñào tạo ñội ngũ cán bộ làm công
tác bảo hiểm tại Việt Nam.
Với năng lực tài chính mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm mới tham gia thị trường này cũng sẽ cho ra
ñời các sản phẩm bảo hiểm mới, ñáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Trong ñiều kiện cung cấp
dịch vụ tốt hơn, khách hàng sẽ là ñối tượng hưởng lợi nhiều nhất. ðặc biệt, chi phí bảo hiểm là một
cấu phần ngày càng quan trọng trong chi phí sản xuất và kinh doanh của các ñơn vị kinh tế khi nền
kinh tế ngày càng phát triển, vì vậy giảm giá thành ñầu vào ñối với chi phí bảo hiểm sẽ giúp giảm
một cách tương ñối giá thành sản xuất sản phẩm và dịch vụ ñầu ra của các doanh nghiệp Việt Nam
và là cơ sở ñể tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam nói chung trong ñiều kiện toàn cầu hoá
ngày càng ñược ñẩy mạnh.
Có thể nói, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tham gia vào thị trường bảo hiểm
Việt Nam sẽ ñem lại những lợi ích tổng thể cho thị trường.
Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực như vậy, ñiều kiện thị trường bảo hiểm với sự có
mặt của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài cũng sẽ ñặt ra một số vấn ñề như cạnh tranh
không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa ñủ mạnh ñể kiểm soát hoạt ñộng ña dạng của các doanh
nghiệp này, song các vấn ñề này có thể ñược kiểm soát tốt nếu có những bước ñi phù hợp trong
công tác quản lý Nhà nước ñối với hoạt ñộng của thị trường.
3. Cam kết liên quan ñến kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc
Hiện nay, bảo hiểm bắt buộc theo luật ñịnh gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không ñối với hành khách; bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp ñối với hoạt ñộng tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của
doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; Bảo hiểm cháy, nổ; và các loại bảo hiểm khác ñược quy ñịnh theo
ñiều kiện phát triển của nền kinh tế.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
Trong những năm gần ñây, tỷ trọng phí bảo hiểm thu từ bảo hiểm bắt buộc khá lớn trong tổng phí
bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, tỷ trọng phí bảo hiểm từ loại hình bảo hiểm bắt buộc này sẽ giảm
tương ñối qua thời gian khi các nhu cầu bảo hiểm tiềm năng trên thị trường ñược khai thác tốt hơn
do các doanh nghiệp ngày càng trưởng thành về năng lực vốn cũng như về trình ñộ chuyên môn. Do
ñó, việc cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm có vốn ñầu tư nước ngoài cung cấp các dịch vụ này sẽ
không ảnh hưởng nhiều ñến thị trường bảo hiểm mà chỉ ảnh hưởng ñến thị phần của các doanh
nghiệp bảo hiểm hoạt ñộng trên thị trường và chỉ trong lĩnh vực phi nhân thọ.
4. Cam kết xoả bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau 1 năm
Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm ra nước ngoài ñều phải thực hiện tái
bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20% với Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam
(VINARE). Vì vậy thực hiện cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc này sẽ có tác ñộng kép, trước
tiên là ảnh hưởng tới hoạt ñộng của VINARE, ñồng thời ảnh hưởng ñến tổng mức phí giữ lại của thị
trường bảo hiểm phi nhân thọ.
ðối với các doanh nghiệp bảo hiểm khác trên thị trường, cam kết này nếu ñược áp dụng chung sẽ
tạo ñiều kiện cho họ linh hoạt hơn trong công tác tái bảo hiểm và tạo ñiều kiện tái bảo hiểm có lợi
hơn xét về mặt kinh tế.
(Nguồn: VnEconomy, IIC cập nhật 27/11/2006)
Ngành bảo hiểm Việt Nam: Tác ñộng mạnh từ các cam kết WTO
http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Article.asp?CatID=66&ID=1714
Thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thị trường bảo hiểm VN
sẽ chịu tác ñộng mạnh cả về quy mô, chất lượng và cả sự ổn ñịnh trong thị trường tài chính
nói chung.
Theo Bộ Tài chính, tác ñộng của các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm trong việc VN cam kết gia
nhập WTO có thể ñược nhìn nhận từ hai khía cạnh, tác ñộng tích cực và tiêu cực. Quá trình hội nhập
sẽ làm giảm chi phí dịch vụ, chất lượng dịch vụ ñược nâng cao, năng lực thị trường ñược mở rộng,
công nghệ quản lý mới ñược chuyển giao, trình ñộ ñội ngũ cán bộ ñược nâng cao
Nhưng, việc thực hiện các cam kết cũng dẫn ñến các khả năng gây bất ổn ñịnh nói chung của thị
trường tài chính, mất vai trò chủ ñạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy ñịnh quản lý
chưa theo kịp ñược với mức ñộ mở cửa thị trường
Ngay sau khi VN trở thành thành viên chính thức của WTO, các DN bảo hiểm nước ngoài sẽ ñược
phép cung ứng các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi giới bảo
hiểm, dịch vụ ñánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảo hiểm và ñặc biệt là ñược phép cung
ứng dịch vụ bảo hiểm cho các dự án, DN có vốn ñầu tư nước ngoài tại VN mà không cần thành lập
pháp nhân tại VN. Trong thời gian ñầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số loại
hình bảo hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm ñối tượng người nước ngoài và các dự án có vốn
ñầu tư nước ngoài tại VN.
Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì với sự lớn mạnh của các DN bảo hiểm phi nhân thọ trong
nước (xét về mặt uy tín và năng lực tài chính) thì các cam kết này không có ảnh hưởng nhiều, một
phần do tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn DN bảo hiểm có trụ sở tại VN, là những
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
DN nắm thông tin về rủi ro tốt nhất. do ñó có khả năng bảo hiểm tốt nhất. mặt khác, các DN bảo
hiểm nước ngoài thông thường cũng muốn thành lập pháp nhân ñể cung ứng dịch vụ tốt hơn.
Hơn nữa, theo xu thế chung và triển vọng phát triển của ngành bảo hiểm VN, tỷ trọng phí bảo hiểm
phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm của cả thị trường sẽ giảm dần so với nhân thọ. do
ñó, những tác ñộng của cam kết này ñối với ngành bảo hiểm sẽ giảm dần theo thời gian.
Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ bảo hiểm là
những cam kết mang tính chất tự do hoá thị trường bảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất ñối với các
DN bảo hiểm hiện ñã hoạt ñộng trên thị trường cũng như tới tình hình chung của thị trường. Việc cho
phép thêm các DN bảo hiểm có vốn ñầu tư nước ngoài tham gia cung ứng dịch vụ bảo hiểm tại thị
trường VN sẽ tăng thêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm. Bên cạnh ñó, các DN
bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt ñộng lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp chuyển giao
công nghệ khai thác bảo hiểm và ñào tạo ñội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại VN.
Có thể nói, việc cho phép các DN bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường bảo hiểm VN sẽ ñem lại
những lợi ích tổng thể cho thị trường. Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực như vậy, ñiều
kiện thị trường bảo hiểm với sự có mặt của nhiều DN bảo hiểm nước ngoài cũng sẽ ñặt ra một số
vấn ñề như cạnh tranh không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa ñủ mạnh ñể kiểm soát hoạt ñộng
ña dạng của các DN này. Song các vấn ñề này có thể ñược kiểm soát tốt nếu có những bước ñi phù
hợp trong công tác quản lý nhà nước ñối với hoạt ñộng của thị trường.
Hiện nay, bảo hiểm bắt buộc theo luật ñịnh gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,
bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không ñối với hành khách; bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp ñối với hoạt ñộng tư vấn pháp luật; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của DN
môi giới bảo hiểm; Bảo hiểm cháy, nổ; và các loại bảo hiểm khác ñược quy ñịnh theo ñiều kiện phát
triển của nền kinh tế.
Trong những năm gần ñây, tỷ trọng phí bảo hiểm thu từ bảo hiểm bắt buộc khá lớn trong tổng phí
bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, tỷ trọng phí bảo hiểm từ loại hình bảo hiểm bắt buộc này sẽ giảm
tương ñối qua thời gian khi các nhu cầu bảo hiểm tiềm năng trên thị trường ñược khai thác tốt hơn
do các DN ngày càng trưởng thành về năng lực vốn cũng như về trình ñộ chuyên môn. Do ñó, việc
cho phép các DN bảo hiểm có vốn ñầu tư nước ngoài cung ứng các dịch vụ này sẽ không ảnh hưởng
nhiều ñến thị trường bảo hiểm mà chỉ ảnh hưởng ñến thị phần của các DN bảo hiểm hoạt ñộng trên
thị trường và chỉ trong lĩnh vực phi nhân thọ.
ðối với các DN bảo hiểm khác trên thị trường, cam kết này nếu ñược áp dụng chung sẽ tạo ñiều kiện
cho họ linh hoạt hơn trong công tác tái bảo hiểm và tạo ñiều kiện tái bảo hiểm có lợi hơn xét về mặt
kinh tế.
Hin nay, các DN bo him khi thc hin tái bo him ra nưc ngoài ñu phi thc hin tái bo him bt
buc ti thiu 20% vi Tng công ty c phn tái bo him quc gia VN (VINARE). Vì vy thc hin cam kt
xoá b t l tái bo him bt buc này s có tác ñng kép, trưc tiên là nh hưng ti hot ñng ca
VINARE. ñng thi nh hưng ñn tng mc phí gi li ca th trưng bo him phi nhân th.
Nguyễn Chung (Nguồn: Diễn ðàn Doanh Nghiệp, IIC cập nhật 06/12/2006)
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
Gia nhập WTO: Các cam kết về dịch vụ tài chính phi ngân hàng
http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Article.asp?CatID=66&ID=1728
Như vậy, sau nhiều năm ñàm phán và những thủ tục cần thiết, Việt Nam sẽ chính thức thành thành
viên chính thức của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới - WTO. Thế nhưng trong suốt tháng qua, ñã có rất
nhiều bài viết phân tích về những cam kết của Việt Nam và ảnh hưởng của nó ñối với tương lai của
nền kinh tế nói chung, ñối với thị trường tài chính nói riêng với nhiều góc nhìn khác nhau. Dưới ñây,
IIC trân trọng giới thiệu bài phân tích của Bà Nguyễn Thị Bích - Vụ trưởng Vụ Quan Hệ quốc tế Bộ
Tài Chính với tiêu ñề: "Gia nhập WTO: Các cam kết về dịch vụ tài chính phi ngân hàng"
Tác ñộng của cam kết ñối với dịch vụ tài chính
1. Dịch vụ bảo hiểm
ðây là dịch vụ mà các thành viên WTO quan tâm và yêu cầu cao về mức ñộ mở cửa thị trường cho
các công ty bảo hiểm nuớc ngoài. Tuy nhiên, mức cam kết của ta ñạt ñược trong Biểu cam kết tốt
hơn so với mức cam kết của các nước mới gia nhập WTO gần ñây. Về tổng thể, mức cam kết như
trên là tương ñương với BTA. ðiểm khác duy nhất là ta mở thêm cho chi nhánh bảo hiểm phi nhân
thọ. Cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm trong nước thời gian tới sẽ sôi ñộng hơn và sẽ có tác dụng
thúc ñẩy thị trường bảo hiểm phát triển. Trên thực tế thị trường bảo hiểm ñã bắt ñầu ñược mở cửa
cho các công ty bảo hiểm quốc tế 100% vốn ðTNN từ năm 1999. Nhiều công ty bảo hiểm lớn trên
thế giới ñều ñã có mặt tại thị trường Việt Nam. Từ khi mở cửa thị trường bảo hiểm (1993) các công
ty bảo hiểm Việt Nam lớn mạnh hơn, doanh số vẫn tăng trưởng hàng năm. Việc phát triển thị trường
bảo hiểm là yêu cầu tất yếu của ñời sống xã hội, bảo hiểm là dịch vụ cơ bản rất cần thiết cho hoạt
ñộng ñầu tư và thương mại.
Thị trường bảo hiểm phát triển góp phần ñáng kể cho việc phát triển thị trường vốn trong nước. Các
doanh nghiệp bảo hiểm có thể trở thành các ñịnh chế tài chính trung gian hữu hiệu, nó có chức năng
chuyển các nguồn vốn nhàn rỗi ngắn hạn trong xã hội thành các nguồn ñầu tư dài hạn.
Tác ñộng của cam kết ñối với hoạt ñộng của thị trường:
Theo ñánh giá sơ bộ việc mở cửa thị trường theo các cam kết WTO về cơ bản sẽ có tác ñộng tích cực
ñối với cạnh tranh, thúc ñẩy sự phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung và bản thân các
công ty bảo hiểm trong nước.
-Việc tham gia thị trường của những công ty bảo hiểm mới, ñặc biệt là các công ty bảo hiểm nước
ngoài sẽ ña dạng hóa và khiến thị trường sôi ñộng hơn.
-Mở cửa thị trường tạo ñiều kiện tăng cường trao ñổi kiến thức và kỹ năng chuyên ngành, góp phần
thúc ñẩy năng lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm trong nước.
Tuy nhiên, việc tham gia của các công ty nước ngoài vào thị trường bảo hiểm cũng có những tác
ñộng bất lợi ñối với công ty bảo hiểm trong nước và khả năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực này:
-Các công ty trong nước bị chia sẻ thị trường là tác ñộng rõ ràng nhất ở mọi nước bắt ñầu tiến hành
mở cửa thị trường.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
-Biến ñộng về nhân sự giữa các công ty bảo hiểm. Một thực tế ñã diễn ra khi sự gia tăng của số
lượng doanh nghiệp bảo hiểm nhanh hơn gia tăng nguồn nhân lực trong ngành ñã dẫn ñến sự di
chuyển nhân sự giữa các công ty bảo hiểm. Do ñó, nếu các công ty bảo hiểm trong nước không có
những ñiều chỉnh liên quan ñến chính sách nhân sự trong thời gian tới sẽ bị mất lợi thế quan trọng
trước các công ty 100% vốn nước ngoài hoặc liên doanh.
-Thị trường phát triển nhanh về quy mô, ña dạng về sản phẩm là sức ép ñối với các nhà quản lý
trong lĩnh vực này, bao gồm yêu cầu phải ñảm bảo quyền lợi người tiêu dùng; khả năng giải quyết
tranh chấp; thị trường bị chia cắt manh mún và vấn ñề rất quan trọng là ngăn ngừa rủi ro mang tính
hệ thống.
Khuôn khổ pháp luật và công tác quản lý nhà nước:
Các quy ñịnh ñiều chỉnh hoạt ñộng kinh doanh bảo hiểm hiện hành về cơ bản ñã khá hoàn chỉnh,
ñảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện hầu hết các cam kết trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, ñể
triển khai thực hiện một số các cam kết còn lại và ñảm bảo sự phát triển ổn ñịnh, bền vững của thị
trường, một số yêu cầu ñặt ra về hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp luật, bao gồm:
-ðể thực hiện các cam kết, bổ sung các quy ñịnh về chi nhánh trực tiếp của các doanh nghiệp bảo
hiểm nước ngoài, bãi bỏ các quy ñịnh mang tính bảo hộ các doanh nghiệp trong nước về ñịa bàn
hoạt ñộng, ñối tượng khách hàng, các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc, tái bảo hiểm bắt buộc;
hoàn thiện các ñiều kiện, tiêu chuẩn cấp phép minh bạch, thận trọng thay thế cho cơ chế cấp phép
theo từng trường hợp cụ thể.
-Bổ sung, sửa ñổi một số quy ñịnh nhằm tăng khả năng giám sát tài chính của các công ty bảo hiểm
bao gồm vốn pháp ñịnh, khả năng thanh toán, hoạt ñộng tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm
nhằm mục tiêu lựa chọn ñược các nhà ñầu tư có năng lực tài chính, cam kết lâu dài ñối với sự phát
triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam, ñặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO. Các quy ñịnh này
giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản trị ñiều hành, phát hiện sớm các rủi ro ñồng thời hỗ trợ
cho công tác quản lý giám sát của các cơ quan chức năng.
-Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách ñảm bảo sự lành mạnh của thị trường, bao gồm các quy ñịnh
bảo vệ người tiêu dùng như hoàn thiện các quy ñịnh về nội dung và phương thức giao kết hợp ñồng
bảo hiểm nhằm ñảm bảo tính an toàn của giao dịch cho cả người mua lẫn công ty bảo hiểm và các
ñối tượng liên quan (ñại lý, môi giới bảo hiểm). Cần có các quy ñịnh cụ thể và ñặc thù hơn ñiều
chỉnh hoạt ñộng cạnh tranh ñảm bảo cạnh tranh công bằng và lành mạnh trên thị trường ngành bảo
hiểm, bởi ñây là một ngành rất ñặc thù và nhạy cảm.
2. Dịch vụ chứng khoán
ðây là ngành dịch vụ mới chỉ bắt ñầu ñược hình thành ở Việt Nam nhưng nhiều thành viên WTO,
nhất là các thành viên có hệ thống tài chính phát triển quan tâm và ñặt yêu cầu cao về mức ñộ mở
cửa thị trường cho các nhà cung cấp cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài. Cam kết của ta trong BTA
trước ñây hầu như chưa ñáng kể và chưa bao quát hết các yếu tố của thị trường dịch vụ chứng
khoán, do trên thực tế vào thời ñiểm ñó thị trường chứng khoán chưa ñược hình thành. Tác ñộng của
các cam kết này như sau:
-ðối với hoạt ñộng của thị trường: Với mức ñộ tự do hóa thị trường theo cam kết WTO, dự ñoán sẽ
có nhiều tác ñộng tới hoạt ñộng cung cấp dịch vụ chứng khoán nói chung và các công ty chứng
khoán trong nước nói riêng. Trong khi ñiều kiện ngày càng nhiều các công ty nước ngoài tham gia
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
vào hoạt ñộng cung cấp dịch vụ chứng khoán tại Việt Nam, các doanh nghiệp và người dân sẽ có cơ
hội ñược cung cấp các dịch vụ quản lý các khoản tiết kiệm và ñầu tư tốt hơn.
Tuy nhiên, sau khi gia nhập WTO, các công ty chứng khoán trong nước còn non trẻ cả về nghiệp vụ
chứng khoán, kinh nghiệm, khả năng cạnh tranh chưa ñược kiểm chứng và tiềm lực tài chính hạn
chế sẽ phải ñối ñầu với thách thức rất lớn từ các công ty chứng khoán nước ngoài, và chi nhánh công
ty chứng khoán nước ngoài.
Về khuôn khổ pháp luật và công tác quản lý nhà nước, nhìn chung, các cam kết về chứng khoán là
phù hợp với Luật Chứng khoán mới ñược ban hành và ñịnh hướng phát triển của Chính phủ trong lĩnh
vực này. ðể thực thi hiệu quả các cam kết ñã ñưa ra, trong thời gian tới Chính phủ sẽ tiếp tục xây
dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán, trong ñó ñặc biệt chú trọng ñến các nội
dung hướng dẫn cụ thể về việc tham gia của bên nước ngoài như thành lập công ty chứng khoán
100% vốn nước ngoài và chi nhánh. Tăng cường chức năng kiểm soát, hoàn thiện quy chế xử lý
tranh chấp.
Ngoài ra, ñể ñảm bảo thị trường chứng khoán nói chung và hoạt ñộng kinh doanh dịch vụ chứng
khoán nói riêng phát triển bền vững, cần phải tập trung vào thúc ñẩy sự phát triển hàng hóa cho thị
trường (trái phiếu, cổ phiến và các sản phẩm mới); hoàn thiện cơ cấu và tổ chức của thị trường, bao
gồm thị trường sơ cấp và thứ cấp, thị trường tập trung và phi tập trung; và tạo ñiều kiện, cơ sở cho
sự phát triển các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán. Nhà nước cần có kế hoạch phát triển hạ
tầng thị trường vốn như hệ thống thông tin, thanh toán, giao dịch…
(Nguồn: Bộ Tài Chính, IIC cập nhật 14/12/2006)
Các cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm
http://www.vnanet.vn/pPrint.aspx?itemid=179831
Hà Nội (TTXVN) - Cùng với việc Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) vào ngày 11/1, một loạt các cam kết của Việt Nam cũng bắt ñầu có hiệu lực. TTXVN
xin giới thiệu một số nội dung chính trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh
vực bảo hiểm cùng những tác ñộng của những cam kết này tới thị trường bảo hiểm nội ñịa.
Cam kết cung cấp dịch vụ qua biên giới
Theo Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ của Ban công tác về việc gia nhập WTO của Việt Nam, sau 5
năm gia nhập, doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ ñược phép thành lập các chi nhánh bảo
hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Tuy nhiên ngay từ thời ñiểm Việt Nam gia nhập WTO, các hãng bảo hiểm nước ngoài ñã ñược tham
gia thị trường Việt Nam qua phương thức “cung cấp qua biên giới” (dịch vụ ñược cung cấp từ lãnh
thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác).
Cụ thể các công ty bảo hiểm nước ngoài ñược cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp có
vốn ñầu tư nước ngoài và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, ñược cung cấp dịch vụ tái bảo
hiểm, môi giới bảo hiểm và môi giới tái bảo hiểm, dịch vụ tư vấn, tính toán, ñánh giá rủi ro và giải
quyết bồi thường.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
Riêng ñối với dịch vụ bảo hiểm vận tải quốc tế, các hãng bảo hiểm nước ngoài ñược tham gia bảo
hiểm cho các rủi ro liên quan ñến vận tải biển quốc tế, vận tải hàng không thương mại quốc tế và
bảo hiểm hàng hóa ñang vận chuyển quá cảnh quốc tế.
Theo nhiều chuyên gia, trong thời gian ñầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số
loại hình bảo hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm ñối tượng người nước ngoài và các dự án có
vốn ñầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Tuy nhiên trong thời gian trung hạn, với sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
trong nước về mặt uy tín và năng lực tài chính thì các cam kết này không có ảnh hưởng nhiều.
Nguyên nhân là vì tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm có trụ
sở tại Việt Nam do tin tưởng doanh nghiệp nội ñịa nắm rõ thông tin rủi ro sẽ có khả năng bảo hiểm
tốt hơn.
Ngoài ra còn do các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài sẽ có xu hướng thành lập pháp nhân ñể cung
cấp dịch vụ tốt hơn, cùng với xu thế phát tiển chung của ngành bảo hiểm Việt Nam là tỷ trọng phí
bảo hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo hiểm sẽ giảm dần.
Cam kết hiện diện thương mại và ñiều kiện kinh doanh bắt buộc
Việt Nam cam kết không hạn chế việc thành lập pháp nhân của công ty bảo hiểm nước ngoài, ngoại
trừ thị trường dịch vụ bảo hiểm bắt buộc sẽ chỉ mở cửa cho công ty 100% vốn nước ngoài
vào ñầu năm 2008. Việt Nam cho phép công ty bảo hiểm nước ngoài thành lập chi nhánh
bảo hiểm phi nhân thọ sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO và không cho phép thành lập chi
nhánh bảo hiểm nhân thọ.
Trong cam kết, Việt Nam vẫn có những ñiều khoản ñể ñảm bảo cho quá trình hội nhập theo một lộ
trình phù hợp. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài vẫn không ñược kinh doanh các dịch vụ bảo
hiểm bắt buộc như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới ñối với người thứ ba, bảo hiểm
xây dựng lắp ñặt, bảo hiểm công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm ñến an ninh cộng
ñồng và môi trường. Những ràng buộc trên sẽ ñược bãi bỏ từ ngày 1/1/2008.
Với cam kết này, các công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài sẽ ñược hoạt ñộng và cạnh tranh một
cách toàn diện và từ ñó áp lực ñối với các công ty bảo hiểm trong nước cũng sẽ tăng lên, trong khi
người dân và doanh nghiệp trong nước sẽ có nhiều lựa chọn hơn và ñược hưởng những sản phẩm,
dịch vụ bảo hiểm toàn diện hơn.
Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực, sự có mặt của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nước
ngoài cũng sẽ làm nảy sinh một số vấn ñề như cạnh tranh không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa
ñủ mạnh ñể kiểm soát hoạt ñộng ña dạng của các doanh nghiệp này. Các vấn ñề này có thể ñược
kiểm soát tốt nếu Việt Nam có những bước ñi phù hợp trong công tác quản lý Nhà nước ñối với hoạt
ñộng của thị trường.
Cam kết xóa bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc sau 1 năm
Hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm ra nước ngoài ñều phải thực hiện tái
bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20% với Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (Vinare).
Vì vậy cam kết xoá bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc này sẽ làm ảnh hưởng tới hoạt ñộng của Vinare
cũng như tới tổng mức phí giữ lại của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
ðối với các doanh nghiệp bảo hiểm khác trên thị trường, cam kết này sẽ tạo ñiều kiện cho doanh
nghiệp linh hoạt hơn trong công tác tái bảo hiểm./.
Tác ñộng mạnh từ các cam kết WTO
05:02' AM - Thứ bảy, 02/12/2006
http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/VanHoa-
XaHoi/Tac_dong_manh_tu_cac_cam_ket_WTO/
Thực hiện cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thị trường bảo hiểm VN
sẽ chịu tác ñộng mạnh cả về quy mô, chất lượng và cả sự ổn ñịnh trong thị trường tài chính
nói chung.
Theo Bộ Tài chính, tác ñộng của các cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm trong việc VN cam kết gia
nhập WTO có thể ñược nhìn nhận từ hai khía cạnh, tác ñộng tích cực và tiêu cực. Quá trình hội nhập
sẽ làm giảm chi phí dịch vụ, chất lượng dịch vụ ñược nâng cao, năng lực thị trường ñược mở rộng,
công nghệ quản lý mới ñược chuyển giao, trình ñộ ñội ngũ cán bộ ñược nâng cao
Nhưng, việc thực hiện các cam kết cũng dẫn ñến các khả năng gây bất ổn ñịnh nói chung của thị
trường tài chính, mất vai trò chủ ñạo của thành phần kinh tế nhà nước, hệ thống quy ñịnh quản lý
chưa theo kịp ñược với mức ñộ mở cửa thị trường
Ngay sau khi VN trở thành thành viên chính thức của WTO, các DN bảo hiểm nước ngoài sẽ ñược
phép cung ứng các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm vận tải quốc tế, tái bảo hiểm và môi giới bảo
hiểm, dịch vụ ñánh giá rủi ro, giải quyết khiếu nại và tư vấn bảo hiểm và ñặc biệt là ñược phép cung
ứng dịch vụ bảo hiểm cho các dự án, DN có vốn ñầu tư nước ngoài tại VN mà không cần thành lập
pháp nhân tại VN. Trong thời gian ñầu, các cam kết này có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới một số loại
hình bảo hiểm phi nhân thọ và giới hạn trong nhóm ñối tượng người nước ngoài và các dự án có vốn
ñầu tư nước ngoài tại VN.
Tuy nhiên, trong thời gian trung hạn thì với sự lớn mạnh của các DN bảo hiểm phi nhân thọ trong
nước (xét về mặt uy tín và năng lực tài chính) thì các cam kết này không có ảnh hưởng nhiều, một
phần do tâm lý khách hàng thường có thiên hướng lựa chọn DN bảo hiểm có trụ sở tại VN, là những
DN nắm thông tin về rủi ro tốt nhất. do ñó có khả năng bảo hiểm tốt nhất. mặt khác, các DN bảo
hiểm nước ngoài thông thường cũng muốn thành
lập pháp nhân ñể cung ứng dịch vụ tốt hơn.
Hơn nữa, theo xu thế chung và triển vọng phát
triển của ngành bảo hiểm VN, tỷ trọng phí bảo
hiểm phi nhân thọ trong tổng doanh thu phí bảo
hiểm của cả thị trường sẽ giảm dần so với nhân
thọ. do ñó, những tác ñộng của cam kết này ñối
với ngành bảo hiểm sẽ giảm dần theo thời gian.
Có thể nói, các cam kết cho phép thành lập pháp
nhân thực hiện kinh doanh dịch vụ bảo hiểm là
những cam kết mang tính chất tự do hoá thị
trường bảo hiểm và có ảnh hưởng lớn nhất ñối
với các DN bảo hiểm hiện ñã hoạt ñộng trên thị trường cũng như tới tình hình chung của thị trường.
Việc cho phép thêm các DN bảo hiểm có vốn ñầu tư nước ngoài tham gia cung ứng dịch vụ bảo hiểm
tại thị trường VN sẽ tăng thêm năng lực khai thác bảo hiểm của thị trường bảo hiểm. Bên cạnh ñó,
Hiện nay, các DN bảo hiểm khi thực hiện tái
bảo hiểm ra nước ngoài ñều phải thực hiện
tái bảo hiểm bắt buộc tối thiểu 20% với
Tổng công ty cổ phần tái bảo hiểm quốc gia
VN (VINARE). Vì vậy thực hiện cam kết xoá
bỏ tỷ lệ tái bảo hiểm bắt buộc này sẽ có tác
ñộng kép, trước tiên là ảnh hưởng tới hoạt
ñộng của VINARE. ñồng thời ảnh hưởng ñến
tổng mức phí giữ lại của thị trường bảo hiểm
phi nhân thọ
.
TƯ LIỆU HỌC TẬP NGHIÊN CỨU CHUYÊN NGÀNH
Nguyễn Tiến Hùng
Bộ Môn Bảo Hiểm ðại Học Kinh Tế TP.HCM
các DN bảo hiểm nước ngoài với kinh nghiệm hoạt ñộng lâu năm trên phạm vi quốc tế sẽ giúp
chuyển giao công nghệ khai thác bảo hiểm và ñào tạo ñội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm tại VN.
Có thể nói, việc cho phép các DN bảo hiểm nước ngoài tham gia thị trường bảo hiểm VN sẽ ñem lại
những lợi ích tổng thể cho thị trường. Tuy nhiên, song song với các khía cạnh tích cực như vậy, ñiều
kiện thị trường bảo hiểm với sự có mặt của nhiều DN bảo hiểm nước ngoài cũng sẽ ñặt ra một số
vấn ñề như cạnh tranh không lành mạnh, hệ thống pháp lý chưa ñủ mạnh ñể kiểm soát hoạt ñộng
ña dạng của các DN này. Song các vấn ñề này có thể ñược kiểm soát tốt nếu có những bước ñi phù
hợp trong công tác quản lý nhà nước ñối với hoạt ñộng của thị trường.
Hiện nay, bảo hiểm bắt buộc theo luật ñịnh gồm: bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe
cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không ñối với hành
khách; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp ñối với hoạt ñộng tư vấn pháp luật; bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp của DN môi giới bảo hiểm; Bảo hiểm cháy, nổ; và các loại bảo
hiểm khác ñược quy ñịnh theo ñiều kiện phát triển của nền kinh tế.
Trong những năm gần ñây, tỷ trọng phí bảo hiểm thu từ bảo hiểm bắt buộc khá lớn trong tổng phí
bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, tỷ trọng phí bảo hiểm từ loại hình bảo hiểm bắt buộc này sẽ giảm
tương ñối qua thời gian khi các nhu cầu bảo hiểm tiềm năng trên thị trường ñược khai thác tốt hơn
do các DN ngày càng trưởng thành về năng lực vốn cũng như về trình ñộ chuyên môn. Do ñó, việc
cho phép các DN bảo hiểm có vốn ñầu tư nước ngoài cung ứng các dịch vụ này sẽ không ảnh hưởng
nhiều ñến thị trường bảo hiểm mà chỉ ảnh hưởng ñến thị phần của các DN bảo hiểm hoạt ñộng trên
thị trường và chỉ trong lĩnh vực phi nhân thọ.
ðối với các DN bảo hiểm khác trên thị trường, cam kết này nếu ñược áp dụng chung sẽ tạo ñiều kiện
cho họ linh hoạt hơn trong công tác tái bảo hiểm và tạo ñiều kiện tái bảo hiểm có lợi hơn xét về mặt
kinh tế.
Hậu WTO: Tín hiệu ñầu tiên từ thị trường bảo hiểm
http://www.baohiem.pro.vn/Ins_News_Article.asp?CatID=66&ID=1685
Bảo hiểm là ngành dịch vụ ñầu tiên ñón nhận những thành viên mới từ bên ngoài vào, ngay khi
không khí của sự kiện Việt Nam vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) còn ñang nóng hổi.
Giấy phép mà Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh trao cho Tập ñoàn ACE và Tập ñoàn Liberty
Mutual cuối tuần qua, còn “thơm mùi mực”, là sự cụ thể hóa cho những cam kết, dự báo và cả cảnh
báo về thời kỳ hậu WTO của các ngành hàng dịch vụ Việt Nam.
Ngày 21/6/2005, trong khuôn khổ chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài
chính ñã trao giấy phép kinh doanh bảo hiểm nhân thọ cho ACE Life. Lần này cũng là ACE với bảo
hiểm phi nhân thọ và cũng gắn với một bối cảnh trọng ñại. Chỉ riêng sự so sánh này cũng ñã cho
thấy tầm quan trọng của việc mở cửa dịch vụ trong quá trình Việt Nam hội nhập.
Liberty Mutual, sau hơn 3 năm có mặt ở Việt Nam, sau 15 tháng nộp hồ sơ lên Bộ Tài chính, cũng ñã
có ñược ñiều mong muốn. Giấy phép trao cho Liberty Mutual ở thời ñiểm này không phải là sự trùng
hợp ngẫu nhiên với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO.
Với sự kiện cấp phép cho ACE và Liberty Mutual, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam sẽ có
gần 20 công ty, trong ñó yếu tố ñầu tư nước ngoài chiếm gần một nửa với 4 công ty 100% vốn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét